Zingiberaceae

Các loài thực vật mới cho khoa học phát hiện ở Việt Nam 2014

Nycticebus pygmaeus

Buôn bán động vật hoang dã ở Việt Nam.

Ex-situ conservation of Xanthocyparis vietnamensis

Bảo tồn chuyển vị loài Bách vàng ở Hà Giang. Photo by Pham Van The.

Hoya longipedunculata

Cẩm cù cuống dài, loài mới 2012 ở Quảng Nam, Việt Nam. Photo by Pham Van The.

Forest fired

Cháy rừng Khộp, nguyên nhân suy thoái Đa dạng sinh học.

Taxus wallichiana var. chinensis

Thông đỏ bắc, loài trong Sách đỏ Việt Nam, phân bố miền Bắc. Photo by Pham Van The.

Ovophis monticola

Rắn lục núi, loài bị đe đoạ cấp R, phân bố Tây Bắc - Việt Nam.

Paphiopedilum canhii

Lan hài cảnh, loài đứng bên bờ vực tuyệt chủng, phân bố Việt Nam, Lào

Showing posts with label Southern China. Show all posts
Showing posts with label Southern China. Show all posts
01/07/2015

Các dải san hô bị phá huỷ nghiêm trọng do Trung Quốc xây đảo nhân tạo

Các nhà khoa học quốc tế lên tiếng về tình trạng san hô bị phá hủy khi Trung Quốc tiến hành bồi đắp, xây dựng cấp tốc tại những đảo san hô ở khu vực quần đảo Trường Sa.

04/04/2015

Kỳ nhông khổng lồ sắp tuyệt chủng vẫn bị ăn


Loài lưỡng cư lớn nhất thế giới này thật là đặc biệt. Chúng là những gì còn sót lại từ thời khủng long, và các con đực là "sư phụ về hang" - bậc thầy về việc dùng hang, tổ - và có tiếng kêu như tiếng trẻ em khóc. Hiện chúng đang có nguy cơ tuyệt chủng.
14/12/2014

Loài động vật có vú mới phát hiện ở Sơn La

Loài động vật có vú mới này được phát hiện mẫu chuẩn tại Sơn La - Việt Nam. Chúng vừa được các nhà khoa học Nga công bố trên tạp chí ZooKeys với tên khoa học là Chiromyscus thomasi. Đây là một loài chuột cây và có phân bố khá rộng từ miền bắc đến miền trung Việt Nam.
10/11/2014

Loài mới cho khoa học phát hiện ở biên giới Việt Nam


Một loài thực vật thuộc chi Tỏi rừng Aspidistra họ Thiên môn đông (Asparagaceae) vừa mới được phát hiện mới cho khoa học từ vùng nam Trung Quốc - Đại Tân, Sùng Tả, Quảng Tây (Leiping Township, Daxin County, Guangxi, China), nơi giáp với tỉnh Cao Bằng của Việt Nam.

27/09/2014

Bốn loài côn trùng mới phát hiện ở Việt Nam

Ảnh minh hoạ 1 loài thuộc Nogodinidae. Photo by Paul
Bài báo khoa học mới đây công bố trên tạp chí Zootaxa (3866 (1): 079–104) đã mô tả 4 loài côn trùng mới thuộc giống  Pisacha phát hiện được ở Việt Nam và Trung Quốc. Chúng gồm các loài Pisacha yinggensis sp. nov., P. baculiformis sp. nov.P. falcata sp. nov P. balteiformis. sp. novNgoài ra các tác giả cũng mô tả một giống Goniopsarites gen. nov. và loài mới Goniopsarites fronticonvexus sp. novphát hiện ở Trung Quốc. Tất cả các loài trong giống Pisachais đã được xem xét lại. Tên Pisacha encaustica cũng được kết hợp với tên Pisachais naga. Đồng thời khoá định loại các giống thuộc tông Pisachini và các loài thuộc giống Pisacha cũng được công bố.
30/07/2014

Thêm loài Cẩm cù rừng mới Hoya lyi cho Việt Nam

Cẩm cù ly Hoya lyi nở hoa trong tự nhiên. Ảnh Chu Xuân Cảnh (Click vào ảnh để xem hình gốc)
(BiodiVn) Vào cuối tháng 6, 2014 tôi có nhận được vài bức ảnh của TS. Leonid Averyanov (Viện Thực vật Komarov, Nga), anh Nguyễn Sinh Khang (Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Việt Nam) và anh Chu Xuân Cảnh (một người chơi Lan tài tử ở Hội Lan Tràng An) về môt loài Cẩm cù rừng lạ của Việt Nam. Những bức ảnh này làm tôi khá bất ngờ và nghi ngờ đây là loài Cẩm cù chưa từng được ghi nhận ở tự nhiên Việt Nam, thậm chí có thể là một loài mới cho khoa học. 

06/07/2014

Hai loài cây mới ở Hà Giang Begonia longa, B. guixiensis

Thu hải đường thân dài Begonia longa. Ảnh Ching-I Peng et al, 2014.
(biodivn.blogspot.com) Các nhà khoa học Đài Loan, Trung Quốc và Việt Nam vừa phát hiện và mô tả hai loài Thu hải đường Begonia thuộc section Coelocentrum mới tại vùng biên giới và giáp ranh biên giới Việt Nam. Hai loài mới cho khoa học là Thu hải đường thân dài Begonia longa C.-I Peng & W.C. Leong phát hiện tại Hà Giang - Việt Nam và Thu hải đường quảng tây Begonia guixiensis Yan Liu, S.M. Ku & C.-I Peng phát hiện tại vùng phía Nam Quảng Tây - Trung Quốc.
Thu hải đường thân dài Begonia longa. Ảnh Ching-I Peng et al, 2014.

Loài Thu hải đường thân dài Begonia longa có thân rễ dài đến 50 cm, lá có cuống dài đến 25 cm, phiến lá hình khiên dài đến 15 cm, mọc tại khu vực núi đá vôi rừng cây lá rộng tại huyện Quản Bạ của Hà Giang. Chúng ra hoa vào tháng 4 đến tháng 8, hoa có màu tổng thể là màu trắng, nhị vàng. Loài này được thu mẫu từ năm 2004, tuy nhiên mãi đến nay (7-2014) thì mới được mô tả và công bố.
Thu hải đường quảng tây Begonia guixiensis. Ảnh Ching-I Peng et al, 2014.
Loài Thu hải đường quảng tây Begonia guixiensis phát hiện tại vùng phía Nam Quảng Tây, giáp với Việt Nam. Chúng có thân rễ dài 30 cm, lá có cuống dài đến 14 cm, phiến lá hình elip dài đến 16 cm. Ra hoa vào tháng 7 đến tháng 10, hoa cũng có màu tổng thể là trắng, nhị vàng. Chúng phân bố tại vùng núi đá vôi khô và ẩm. (biodivn.blogspot.com) 
Thu hải đường quảng tây Begonia guixiensis. Ảnh Ching-I Peng et al, 2014.

Two new species of Begonia sect. Coelocentrum , B. guix iensis and B. longa, from Sino-Vietnam ese lim estone karsts
Botanical Studies 2014, 55:52 doi:10.1186/s40529-014-0052-8
Ching-I Peng (bopen g@gate.si n i ca.edu .tw); Sh i n -Mi n g Ku (smku 67815@yah oo.com.tw); H su n -An Yan g (sh i n 34tfg@gmai l .com); Wai -Ch ao Leon g (wai ch aol eon g@gmai l .com); Yan Li u (gx i bl y@163.com); Ti en H i ep N gu yen (h i eu .n gu yen @cpcv n .org); Yosh i ko Kon o (ykon o5196@goo.j p); Ku o-Fan g Ch u n g (ku ofan gch u n g@n tu .edu .tw)
Abstract
Background
In our recent molecular phylogenetic study of Asian Begonia, two undescribed species, B. guixiensis sp. ined. (S. Guangxi, China) and B. longa sp. ined. (Vietnam), were sampled and placed within the strongly supported clade composed of Begonia sect. Coelocentrum and other co-distributed rhizomatous species in the Sino-Vietnamese limestone karsts. While Begonia sect. Coelocentrum has been recircumscribed based on the phylogenetic relationships, B. guixiensis sp. ined. and B. longa sp. ined. remain illegitimate names. In continuation of our studies in Asian Begonia, these two new species are described and illustrated.
Results
Begonia guixiensis resembles B. cylindrica in the peltate, subcoriaceous leaves, differing by the shape of ovary/fruit and the type of placentation. In aspect, B. longa bears a superficial resemblance to B. brevipedunculata in leaf shape in particular, differing by many other features such as the long internodes, shorter petioles and smaller leaves, longer peduncles and 3-locular ovary. The chromosome number of both new species is determined as 2n = 30.
Conclusion
A careful study of the literature, herbarium specimens and living plants, both in the wild and in cultivation in the experimental greenhouse, support the recognition of the two new species, which are described and illustrated herein.
Bản đồ phân bố hai loài Thu hải đường thân dài Begonia longa và Thu hải đường quảng tây Begonia guixiensis ở Việt Nam và Trung Quốc. Ảnh Ching-I Peng et al, 2014.

Phiên bản cuối cùng có thể tìm thấy tại:  và 


15/06/2014

Loài lan mới ở bắc Việt Nam Gastrochilus kadooriei

Gastrochilus kadooriei Kumar, S.W.Gale, Kocyan, G.A.Fisch. & Aver. sp. nov. (Theo: Phytotaxa)

Phytotaxa 164 (4): 276–280 
Description: Lithophytic herbs, prostrate, apex ascending, 3–30 cm tall. Roots vermiform, slender, up to 10.0 cm long, 1.5–1.8 mm in diameter. Stem rarely branched, up to 30.0 cm tall, 1.5–2.0 mm in diameter, covered with sheathing leaf bases, green, glabrous, ridged and woody towards the base, herbaceous towards the apex; internodes of stem 5–6 mm long. Leaves alternate, distichous, green, ovate, 1.3–1.8 ×5.0–6.0 mm, margin finely serrate towards upper quarter; leaf apex aristate with a smaller lateral tooth on either side, median aristae 1.5–3.0 mm long, lateral teeth less than 1.5 mm long (teeth shorter in older leaves); leaf base amplexicaul, sometimes with tiny red-purple spot only on young shoots. Inflorescence a raceme, 1 or 2, pendulous, thick (1.5 mm in diameter) green, up to 1 cm long, 1–3-flowered; peduncle 9 mm long. Flowers 9 ×9 mm, pale yellow, petals and sepals with red-brown spots. Pedicel and ovary 5.0–5.2 mm long, green at base, reddish-green towards the apex. Sepals and petals 1-veined, margins entire, thicker towards middle; dorsal sepal obovate, 3.5 ×2.0 mm; lateral sepals obliquely obovate, 3.5 ×2.2 mm; petals obovate, 3.0 ×1.7 mm. Labellum 4.0–4.2 ×5.0 mm, glabrous; hypochile attached to the base of column wings, saccate, 4.2–4.5 ×3.0–3.5 mm, with an obscure median ridge giving a roughly scrotiform appearance from the front, ecallose, margin entire, reddish towards attachment with column, yellow elsewhere; epichile projecting forwards, triangular with rounded corners, slightly concave, around 1/3 the height of hypochile, 1.6 ×1.6 mm, yellow with some red-brown spots at the front. Column rounded at back, flat in front, 2.0 mm long, 1.4 mm thick, 1.6 mm wide; anther cap copular, with two chambers, trapezoid, 1.5 ×1.3 mm, with a beak on the front that partly covers the stipe; pollinarium 1.7–1.9 mm long; pollinia 2, yellow, bilobed, 0.6 ×0.5 mm, almost hemispheric with a depression at the centre; stipe elongate, obovate, 0.8 mm long; viscidium thicker and broader than the stipe, elliptic, 0.3 ×0.1 mm, sticky, yellowish; rostellum inverted L-shaped, 1.8 mm long, yellow, forked apically with rounded tips, arising from the centre of horseshoe-shaped clinandrum, hanging in front of the stigma without touching the stigmatic surface; stigma deeply seated, almost triangular in outline with rounded corners.
Habitat:—In Hong Kong, plants grow on moss-covered granite rocks and boulders in seasonal streams with leaves devoid of or with faint purple spots. In Vietnam, plants are found on limestone rocks and may reach up to 30 cm or more tall and, if in bright sunlight, have purple spots on the leaves. In both places, plants grow only loosely attached to the rock surface. As they are found near streams, they seem to be highly vulnerable to flash flooding.
Distribution:—Southwestern China (Yunnan), Hong Kong, Laos and Vietnam. The species is also likely to occur in intervening and adjacent areas. In addition to the Yunnan specimens cited above, we suspect that the image in Xu et al.(2009: 476, plate 695a) labeled as Gastrochilus pseudodistichus is probably referable to G. kadooriei. The growth habit, flower colour, and morphology of the stem/leaves are a close match for the species. There is one more photographic record of the species, Averyanov et al. HAL 8441(Averyanov pers. comm.), from Vietnam, Ha Giang, Yen Minh, Lao Va Chai, vicinity of Chi Sang village
Phiên bản chính thức có thể tìm thấy ở đây:  

Xem thêm: 
11/11/2013

Thực vật chí Trung Quốc: Flora of China - Chinese Version

Đây là bản viết bằng Tiếng Trung và có kèm theo hình vẽ gồm 80 tập, tổng dung lượng 1,53GB, dung lượng trung bình khoảng 10MB/1 tập. Tuy rất ít người có khả năng đọc được tiếng Trung, nhưng những hình vẽ và kích thước mô tả thì rất đáng để tham khảo. Bộ này nằm trong dự án cá nhân do một nhà Thực vật của Việt Nam chủ trì (PKL), có nhiều người cùng góp sức scan và hoàn toàn không có kinh phí, xin chân thành cảm ơn sự chia sẻ đó!: