Zingiberaceae

Các loài thực vật mới cho khoa học phát hiện ở Việt Nam 2014

Nycticebus pygmaeus

Buôn bán động vật hoang dã ở Việt Nam.

Ex-situ conservation of Xanthocyparis vietnamensis

Bảo tồn chuyển vị loài Bách vàng ở Hà Giang. Photo by Pham Van The.

Hoya longipedunculata

Cẩm cù cuống dài, loài mới 2012 ở Quảng Nam, Việt Nam. Photo by Pham Van The.

Forest fired

Cháy rừng Khộp, nguyên nhân suy thoái Đa dạng sinh học.

Taxus wallichiana var. chinensis

Thông đỏ bắc, loài trong Sách đỏ Việt Nam, phân bố miền Bắc. Photo by Pham Van The.

Ovophis monticola

Rắn lục núi, loài bị đe đoạ cấp R, phân bố Tây Bắc - Việt Nam.

Paphiopedilum canhii

Lan hài cảnh, loài đứng bên bờ vực tuyệt chủng, phân bố Việt Nam, Lào

Showing posts with label Son La. Show all posts
Showing posts with label Son La. Show all posts
10/04/2015

Phát hiện Phụ loài Ốc núi Garnieria mới ở Sơn La

Phụ loài ốc núi (subspecies) mới có tên khoa học Garnieria mouhoti nhuongi Do, 2015, được phát hiện ở dãy núi đá vôi thuộc xã Mường Do, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La
12/03/2015

Loài cá cóc Tylototriton anguliceps mới cho khoa học


Dựa trên các số liệu so sánh sự sai khác về hình thái, di truyền phân tử và cấu trúc xương sọ, các nhà khoa học Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Đại học Sư phạm Hà Nội, Viện Sinh thái và tài nguyên Sinh vật (Việt Nam),
06/02/2015

Loài Ong mới Anterhynchium punctatum cho khoa học từ Việt Nam


Tiến sỹ Nguyễn Thị Phương Liên thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật vừa phát hiện một loài ong mới cho khoa học thuộc giống Anterhynchium, họ Ong vàng (Vespidae), bộ Cánh màng (Hymenoptera). Loài mới được công bố trên Tạp chí Khoa học Zootaxa, số 3915 tập 1, ngày 2/2/2015.

28/01/2015

Hai loài ếch ở Tây Bắc mới cho Việt Nam

 Các nhà khoa học Việt Nam và Đức đã phát hiện và công bố hai loài ếch nhái mới cho khu hệ lưỡng cư bò sát của Việt Nam trên tạp chí Russian Journal of Herpetology số 21 (tháng 12 năm 2014) dựa trên mẫu vật thu thập ở tỉnh Điện Biên (Khu Bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé) và Sơn La (Khu Bảo tồn thiên nhiên Sốp Cộp và Copia), Tây Bắc Việt Nam. Hai loài ếch nhái này có tên khoa học là Babina lini (Chou, 1999) và Hylarana menglaensis Fei, Ye et Xie, 2008. Cả hai loài được ghi nhận sống ở các vực suối chảy chậm và ở độ cao 1000-1600m so với mực nước biển.
23/12/2014

Ghi nhận thêm hai loài lưỡng cư cho Việt Nam

Hai loài lưỡng cư là Cóc núi eos Leptolalax eosChàng đá Hylarana cubitalis ghi nhận mới cho Việt Nam được các nhà khoa học của Viện Sinh Thái và Tài nguyên sinh vật, Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Tây Bắc và Vườn thú Cologne – Đức công bố trên tạp chí Russian Journal of Herpetology (Tập 21, số 3, 2014).
24/11/2014

Loài thông mới phát hiện tại biên giới Việt – Lào

Trước đây, một loài thông 5 lá mọc ở khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha – Sơn La đã từng bị định loại nhầm là Thông trắng trung quốc (Pinus armandii) hoặc Thông trắng hải nam (Pinus fenzeliana)

24/08/2014

Loài mới "Tỏi đá khang" phát hiện ở Sơn La

Chùm hoa Tỏi đá khang Tupistra khangii tự nhiên. Ảnh Nguyễn Sinh Khang.
(BiodiVn) Các nhà thực vật Việt Nam là TS. Nguyễn Tiến Hiệp (Trung tâm Bảo tồn thực vật Việt Nam - CPCV) và Nga là GS.TS Leonid Averyanov và những người khác vừa mô tả một loài thực vật mới cho khoa học phát hiện tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha - Sơn La. Loài thực vật mới này có tên Tỏi đá khang Tupistra khangii thuộc họ Thiên môn đông Asparagaceae. Công bố này vừa được đăng tải trên tạp chí Phytotaxa tập 175 (5), trang 287–292. Đây là một phần kết quả của dự án "Khám phá những cánh rừng nguyên sinh dọc theo tuyến đường Hồ Chí Minh cho mục đích bảo tồn bền vững (giới hạn các tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An)" được tài trợ bởi Hội Địa lý Hoa Kỳ. (Exploration of primary woods along constructed highway Hanoi - Ho Chi Minh for their sustainable conservation (in limits of Ha Tinh and Nghe An provinces of central Vietnam).

09/08/2014

Thành tựu, khó khăn và thách thức bảo tồn Đa dạng Sinh học

Loài lan Môi cứng ngắn trục Stereochilus brevirachis rất hiếm phát hiện ở Sơn La, Việt Nam, 2009. Loài này trước đây chỉ được biết đến là những cây trồng ở Trung Quốc. Đây là một phần kết quả điều tra đa dạng sinh học do Trung tâm Bảo tồn Thực vật Việt nam (CPC) tổ chức. Ảnh Leonid Averyanov.
(BiodiVn) Theo thống kê. kẻ từ khi ban hành BAP đến nay có khoảng 100 các dự án với các mức độ khác nhau đã và đang được thực hiện theo các mục tiêu và hành động của BAP. Trong đó, có hơn 50 dự án của BAP đề xuất đã và đang được thực hiện ở các mức độ khác nhau. Hầu hết các dự án này định hướng về xây dựng và quản lý các khu bảo vệ và Nâng cao nhận thức chung. Một số các dự án khác đề xuất trong BAP nhưng vì một số lý do chưa được thực hiện.

Kết quả đạt được sau bảy năm thực hiện BAP

Lan lộc sơn Lockia sonii, loài mới phát hiện 2012 từ Sơn La. Ảnh Phạm Văn Thế
(BiodiVn) Năm 1998, đã có một Hội thảo Đánh giá 3 năm việc thực hiện BAP, giai đoạn 1996-1998. Đến năm 2002, đã có một dự án Đánh giá việc thực hiện kế hoạch hành động ĐDSH từ năm 1995 đến 2002 và đề xuất các hoạt động có liên quan cho giai đoạn 2003-2010 được thực hiện do Đại học quốc gia Hà Nội chủ trì (Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan quản lý). 
Các kết quả đã đạt được trong giai đoạn 1996-1998
Từ những ý tưởng đã được nêu trong BAP, các kết quả thực hiện BAP trong 3 năm, thời gian 1996-1998 được đánh giá trong cuộc Hội thảo xem xét lại kế hoạch Hành động ĐDSH của Việt Nam với mục tiêu Đánh giá tình trạng thực hiện BAP, xác định những thiếu sót chính và nêu bật các vấn đề mới nổi cần chú ý. Nhìn chung, tại Hội thảo này, các ý kiến cho rằng kết quả thực hiện BAP trong thời gian 1996-1998 là rất lớn và được tóm tắt trong bảng dưới.

24/06/2014

Bổ sung 10 loài dương xỉ Polystichum cho Việt Nam

Hình 1. Polystichum auriculum Ching. Tọa độ (23°09'04''N 104°59'53''E, 850 m, 13/12/2013)

Trên thế giới chi Polystichum có khoảng 500 loài, phân bố chủ yếu ở các vùng ôn đới và cận nhiệt đới, phổ biến ở phía Nam và Tây Nam Trung Quốc, Himalaya, Nhật Bản và Việt Nam. Đây là một trong ba chi có số lượng loài nhiều nhất trong họ Dryopteridaceae. Ở Việt nam, chi Polystichum có khoảng 13 loài (P.H.Hộ 1999), 14 loài (DLTVVN 2003), 15 loài (P.K.Lộc 2010).

Cuối năm 2013, các nhà thực vật thuộc Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam (VNMN) đã phối hợp với các nhà thực vật thuộc Vườn Thực vật Mítsuri, Mỹ đã tiến hành khảo sát, nghiên cứu và thu thập mẫu dương xỉ tại các hang động vùng núi phía Bắc Việt Nam, đã phát hiện bổ sung 10 loài thuộc chi Polystichum cho hệ thực vật Việt Nam. Các loài đó là Polystichum auriculum Ching, Polystichum dangii P.S.Wang in Wang & Wang, Polystichum excellens Ching, Polystichum fimbriatum Christ, Polystichum liboenseP.S.Wang & X.Y.Wang, Polystichum minimum (Y.T.Hsieh) Li Bing Zhang, Polystichum mucronifolium(Blume) C.Presl, Polystichum nepalense (Sprengel) C.Christensen, Polystichum subacutidens Ching ex L.L.Xiang, và Polystichum xichouense (S.K.Wu & Mitsuta) Li Bing Zhang.

Kết quả nghiên cứu này đã được công bố trên tạp chí Phytotaxa số 164(2), 2014.

1. Polystichum auriculum Ching - Hình 1

Loài này phân bố ở các vách đá trong rừng lá rộng thường xanh, độ cao 850–1800 m, ở phía Tây Nam Trung Quốc. Khảo sát của chúng tôi đã phát hiện loài phân bố ở Vị Xuyên (Hà Giang).
 2. Polystichum dangii P.S.Wang in Wang & Wang- Hình 2,3
Loài này phân bố ở xung quanh miệng hang hoặc đường nứt của vách đá trong rừng, độ cao 700-800m. Loài mới chỉ được biết đến phan bố ở phía Nam Trung Quốc. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phát hiện loài này ở xã Quản Bạ (Hà Giang).
Loài này có đặc điểm đặc trưng lá dầy và nguyên (Wang & Wang 2001, Zhang & Barrington 2013).
duong-xi-Polystichum-dangii-1
Hình 2. Polystichum dangii P.S.Wang. Môi trường sống (23°07'57''N 104°55'44''E, 800 m, 10 tháng 12, 2013)
duong-xi-Polystichum-dangii-2
Hình 3. Polystichum dangii P.S.Wang. Mặt trên của phiến lá (23°07'57''N 104°55'44''E, 800 m, 10/12/2013) 
3. Polystichum excellens Ching- Hình 4
Loài phân bố rừng núi đá vôi, hay các hang động đá vôi, độ cao 780-1700m. Trước đây, mới chỉ gặp ở phía Nam Trung Quốc, chúng tôi thu được ở Nguyên Bình (Cao Bằng) và Yên Minh (Hà Giang).
Loài khá phổ biến ở phía Nam Trung Quốc, nhưng rất hiếm ở miền Bắc Việt Nam. Đôi khi loài nhầm lẫn với loài Polystichum subacutidens, nhưng loài Polystichum excellens có lá chét hình liềm hoặc dạng mác trong khi Polystichum subacutidens có lá chét thuôn dài.
duong-xi-Polystichum-excellens
Hình 4. Polystichum excellens Ching. Mặt dưới phiến lá (22°36'05''N 105°55'15''E, 780 m, 8/12/2013).
4. Polystichum fimbriatum Christ
Loài phân bố ở vách đá vôi trong rừng, ở độ cao 700-1100m. Mới chỉ biết phân bố ở phía Nam Trung Quốc. Qua phân tích mẫu vật tại phòng tiêu bản của Vườn Thực vật Mítsuri, Mỹ chúng tôi phát hiện loài này phân bố ở Trà Lĩnh (Cao Bằng). Loài rất hiếm và ít gặp ở Trung Quốc và Việt Nam, có đặc điểm phiến kép lông chim một lần, màu xanh đậm và dạng da.
5. Polystichum liboense P.S.Wang & X.Y.Wang – Hình 5
Loài này phân bố ở rừng núi đá vôi, ở độ cao khoảng 1000m, phân bố ở phía Nam Trung Quốc. Chuyến khảo sát của chúng tôi ghi nhận loài này ở Quản Bạ (Hà Giang).
duong-xi-Polystichum-liboense
Hình 5. Polystichum liboense P.S.Wang & X.Y.Wang. (22°36'05''N 105°55'15''E, 780 m, 8/12/2013) 
6. Polystichum minimum (Y.T.Hsieh) Li Bing Zhang – Hình 6
Loài phân bố ở trong rừng đá vôi, rất hiếm ở các hang động, ở độ cao 500-1500m. Mới chỉ gặp ở phía Nam Trung Quốc. Chúng tôi đã ghi nhận ở Vị Xuyên (Hà Giang). Loài này cho đến gần đây vẫn được gọi là Cyrtogonellum inaequale (Christ) Ching, nhưng hiện nay tên Polystichum minimum mới là danh pháp chính thức (Zhang 2012).
duong-xi-Polystichum-minimum
Hình 6. Polystichum minimum (Y.T. Hsieh) Li Bing Zhang. (22°50'40''N 105°07'47''E, 1100 m, 13/12/2013). 
 7. Polystichum mucronifolium (Blume) C.Presl
Loài phân bố dọc suối trong rừng, độ cao1600-2400m. Phân bố ở Đài Loan, Vân Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Mianma, Srilanka, Nepan, Thái Lan. Qua phân tích mẫu, chúng tôi đã xác định loài có phân bố ở tỉnh Kon Tum và Lâm Đồng.
8. Polystichum nepalense (Sprengel) C.Christensen
Loài phân bố trong rừng, ở độ cao 1500-3000m. Phân bố ở Trung Quốc, Ấn Độ, Nê Pan, Philíppin. Qua phân tích mẫu, chúng tôi xác định loài có phân bố ở Lai Châu.
9. Polystichum subacutidens Ching ex L.L.Xiang – Hình 7
Loài phân bố trong các rừng núi đá vôi, hang động trong rừng, ở độ cao 200-1500m. Mới chỉ biết loài phân bố ở phía Nam Trung Quốc. Khảo sát của chúng tôi đã xác định loài có phân bố ở Nguyên Bình (Cao Bằng), Vị Xuyên (Hà Giang) và mẫu vật của các nhà khoa học trước đây thu được tại Mộc Châu (Sơn La).
Loài Polystichum subacutidens có đặc điểm phiến lá hẹp, dài, lên tới 110 cặp lá chét (Zhang & Barrington 2013)
duong-xi-Polystichum-subacutidens
Hình 7. Polystichum subacutidens Ching ex L.L.Xiang. Mặt trên của phiến lá (22°51'25''N 105°06'01''E, 200 m, 12/12/2013). 
10. Polystichum xichouense (S.K.Wu & Mitsuta) Li Bing Zhang – Hình 8
Loài phân bố ở rừng đá vôi hoặc vách đá trong rừng rậm, độ cao khoảng 1700m. Loài mới chỉ được biết đến phân bố ở phía Nam Trung Quốc. Khảo sát của chúng tôi xác định loài này có phân bố ở Quản Bạ (Hà Giang).
duong-xi-Polystichum-xichouense
Hình 8. Polystichum xichouense (S.K.Wu & Mitsuta) Li Bing Zhang. Mặt trên của phiến lá (23°08'26''N 105°00'44''E, 1200 m, 11/12/2013).
Lữ Thị Ngân
Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam
Theo http://vnmn.ac.vn/
Phiên bản cuối cùng có thể được tìm thấy tại đây: 

17/06/2014

Loài Bồ hòn mới Sapindus sonlaensis ở Sơn La


Bản vẽ minh hoạ hình thái loài Sapindus sonlaensis theo Springer, Brittonia, June 2014. 
(Biodivn)-Một loài cây mới Sapindus sonlaensis, họ Bồ hòn Sapindaceae vừa mới được công bố trên tạp chí Brittonia (June 2014, Volume 66, Issue 2, pp 131-133) đã được các nhà khoa học Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật và trường ĐH Sư Phạm Hà Nội 2 mô tả.  Loài thực vật mới này được phát hiện ở xã Chiềng Hặc, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, Việt Nam.
Bồ hòn sơn la được mô tả dựa trên tiêu bản khô do đó thông tin về chiều cao không được biết. Chúng được mô tả có lá kép chẵn, lá chét mọc đối, lá chét kích thước 6,5–11,2 × 2–3,6 cm, ra hoa vào tháng 2.
Bồ hòn sơn la Sapindus sonlaensisis phân bố trong rừng thứ sinh thường xanh trên phần chân của núi đá vôi có độ cao 700–1000 m so với mực nước biển. Các tác giả cũng đã tổ chức rất nhiều đợt điều tra nhưng không tìm thấy được mẫu vật thứ hai ngoài mẫu khô đã được lưu ở phòng tiêu bản nói trên. Hiện nay sinh cảnh phân bố của chúng bị đe doạ bởi những hoạt động của người dân địa phương. 

Sapindus sonlaensis(Sapindaceae), a new species from Vietnam
MINH TAM HA e-mail: haminhtam.sp2@moet.edu.vnKHAC KHOI NGUYEN; THE CUONG NGUYEN e-mail: cuongntc1979@yahoo.com, AND THE BACH TRAN
Sapindus sonlaensis H. M. Tam, N. K. Khoi, N. T. Cuong & T. B. Tran,sp. nov. TypeVietnam. Sonla Province: Yen Chau District, Chieng Hac Commune, 700–1000 m, 2 Feb 1996,T. N. Ninh&V. Dumonter 59(VN 0059) (holotype: HN [0000056011]; isotype: HN [0000056012]). (Fig.1)
Arbor dioecia; folia alterna paripinnata 3–5-jugata; foliola juvenilia pubescentia, vetera glabra, nervis lateralibus paribus 8–10; inflorescentia thyrsiformis 17 cm longa pubescens multiflora;flores masculi pedicello 2 mm longo, sepalis 5, aequalibus, 2.5–3 x 2.1 mm, glabris, margine sparse ciliatis, petalis 5 aequalibus 4 mm longis basi et margine cilialtis intus glabris, ad basem intus squamaminuta integra praeditis, haec extus glabra intus lanata ad apicemcum2 appendiculisminutis carnosis glabris praedita; discus annularis glaber, staminibus 8 aequilongis, filamentis 3.5 mm longis in dimidio inferno lanatis, antheris ovatis 0.8 mm longis; ovarium sterile pilosum.
Dioecioustrees; branchlets terete, conspicu-ously lenticellate, sparsely puberulous. Leaves paripinnate, alternate, 3–5 jugate; petiole 2.5–4.2 cm long, sparsely puberulous, terete; rachis 2–9.5 cm long, terete, sparsely puberulous; petiolules 1–2mm long inbasal leaflets to absent in distal ones; leaflets opposite to alternate, elliptic, 6.5–11.2 × 2–3.6 cm, chartaceous, both sides very oblique; base obliquely attenuate to cuneate; margin entire; apex acute or shortly acuminate; both surfaces densely puberulous when young but glabrescent when mature; midrib slightly raised above, rounded beneath; secondary vena-tion brochidodromous, in 8–10 pairs, tertiary venation reticulate. Inflorescences axillary or terminal, thyrsoid, up to 17 cm long, sparsely branched and densely flowering. Staminate flowers: pedicel ca. 3 mm long; sepals 5, 2.5–3 × ca. 2.1 mm, all about equal, free, imbricate, broadly elliptic to sub-ovate, both surfaces glabrous, margin sparsely long-pubes-cent; petals 5, all about equal, blade ca. 4 × 2.8 mm, ovate, the claw ca. 1.5 mm long, sparsely pubescent, outside either the base or the margin pubescent, inside glabrous, with a small entire scale at the base, the latter lanate outside, glabrous inside,apexofscalewith2small,fleshy, glabrous appendages; disk annular, glabrous; stamens 8, not exserted,filaments ca. 3.5 mm long, lanate from base to about the middle, anthers ovate, ca. 0.8 mm long, dorsifixed near base, glabrous. Pistillateflowers and fruits not seen.

Distribution, habitat, and phenology: This species, known only from the type collection, is apparently endemic to Chieng Hac Commune in Yen Chau District of Sonla Province, in secondary evergreen forests from the base of limestone mountains up to 700–1000 m elevation. We have conducted botanical surveys in Sonla and many other regions in Vietnam, but to date we have yet to find a second collection of the species. Today,Chieng Hac Commune does not contain any protected areas, so it is possible that the habitat of Sapindus sonlaensisis threatened by local people. Flowering in February.
Uses.VThe wood is used for general construction.Sapindus sonlaensisis unusual in the genus because it is dioecious and has 5-merous flowers with petals that are ca. 4 × 2.8 mm and have entire scales with 2fleshy append-ages. In addition, thefilaments are ca. 3.5 mm long, lanate from the base to near the middle, and the anthers are ovate and ca. 0.8 mm long. Sapindus sonlaensis most closely re-semblesS. delavayi(Franch.) Radlk. because both are dioecious and have similar leaf and inflorescence morphology, flower and petal size, and length of filaments relative to the petals. The new species can be distinguished from S. delavayi, because it has two fleshy appendages on the scale of each petal and it has an annular disk. Sapindus sonlaensis slightly resembles S. chrysotrichus Gagnep., because each petal scale has two crests, but they differ in many other characters (as indicated in the key below).  

Springer, Brittonia, June 2014, Volume 66, Issue 2, pp 131-133
Phiên bản cuối cùng của bài báo có thể tìm thấy ở đây: 

09/12/2013

Phong lan căn diệp không lá Taeniophyllum glandulosum

Lan Căn diệp hay Đại diệp Taeniophyllum glandulosum là một trong 6 loài Căn diệp phân bố ở Việt Nam. Chúng là loài phong lan không lá nhưng có diệp lục ở rễ, nằm trong phân họ Vandoideae. Đây là loài phong lan mọc phổ biến ở rất nhiều nơi như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, đảo Ryuyuku, Đài Loan, Thái Lan, Malaysia, Java, Sulawesi, Sumatra, New Guinea, Campuchia và Việt Nam. 
Taeniophyllum glandulosum không có lá và thân thì cực kì ngắn. Tổng thể hình dạng là bộ rễ phát triển dài và hơi dẹt. Rễ bám sát vào vỏ cây, chứa diệp lục nên có màu xanh đục, đây là bộ phận thay lá làm nhiệm vụ quang hợp. 
 Hình dạng cơ thể là bộ dễ phát triển dài và dẹt
25/11/2013

Tìm thấy loài tre lạ Dendrocalamus longiligulatus ở Tây Bắc

Đối với mỗi người nông dân Việt Nam chắc hẳn ai cũng từng thân thiết với những luỹ tre làng. Khắp các làng quê từ Nam ra Bắc, tre làm bạn với ta khắp mọi nơi. Những cây tre có dáng vẻ khẳng khiu nhưng luôn mọc thẳng, thường được ví như đức tính cương trực của con người. Đức tính kiên cường, dẻo dai bất khuất thường được ví như những cây tre luôn hiên ngang trong gió bão. Từ ngàn xưa, người dân Việt Nam đã sử dụng tre làm các đồ dùng đan nát, làm nhà, bè, thuyền. Trong chiến tranh bảo vệ dân tộc, tre được sử dụng làm các đòn sóc, giáo, cung tên, làm các cọc chọc thủng thuyền giặc... Còn nhớ câu chuyện thần thoại Thánh Gióng đã nhổ bui tre làm vũ khí đánh đuổi quân thù. Ngày nay, dù cuộc sống hiện đại, tre vẫn luôn được sử dụng như những người bạn thân thiết giữ vững các bờ đê. Các sản phẩm cao cấp được làm từ tre như ván sàn, chiếu trúc … vẫn luôn được ưa chuộng. Và những trang vở trắng tinh không thể thiếu nguyên liệu tre nứa. 
10/11/2013

Phát hiện loài Luồng Dendrocalamus mới ở Bắc

Mới đây tạp chí Blumea (số 57, 2013: 253 – 262) vừa công bố ba loài Luồng (Dendrocalamus) thuộc họ phụ Tre nứa Bambosoideae mới cho khoa học phát hiện ở miền Bắc Việt Nam. Các loài này là Luồng cầu hai hay Mai cây Dendrocalamus cauhaiensis, Luồng nhiều hoa hay Pụa mốn D. multiflosculusLuồng tây bắc hay Mạy púa D. taybacensis. Chúng được mô tả bởi các tác giả Nguyễn Văn Thọ,  Xia Nian-he, Nguyễn Hoàng Nghĩa (Viện Khoa học Lâm Nghiệp) và Lê Viết Lam.