Zingiberaceae

Các loài thực vật mới cho khoa học phát hiện ở Việt Nam 2014

Nycticebus pygmaeus

Buôn bán động vật hoang dã ở Việt Nam.

Ex-situ conservation of Xanthocyparis vietnamensis

Bảo tồn chuyển vị loài Bách vàng ở Hà Giang. Photo by Pham Van The.

Hoya longipedunculata

Cẩm cù cuống dài, loài mới 2012 ở Quảng Nam, Việt Nam. Photo by Pham Van The.

Forest fired

Cháy rừng Khộp, nguyên nhân suy thoái Đa dạng sinh học.

Taxus wallichiana var. chinensis

Thông đỏ bắc, loài trong Sách đỏ Việt Nam, phân bố miền Bắc. Photo by Pham Van The.

Ovophis monticola

Rắn lục núi, loài bị đe đoạ cấp R, phân bố Tây Bắc - Việt Nam.

Paphiopedilum canhii

Lan hài cảnh, loài đứng bên bờ vực tuyệt chủng, phân bố Việt Nam, Lào

Showing posts with label Redlist. Show all posts
Showing posts with label Redlist. Show all posts
19/08/2016

Phát hiện loài Dẻ đá mới tại Đạ Huoai, Lâm Đồng: Lithocarpus dahuoaiensis

Dẻ đá đạ huoai (Lithocarpus dahuoaiensis Ngoc & L. V. Dung) - là loài thực thực vật mới cho khoa học vừa được phát hiện tại huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng.
10/04/2015

Có thể bảo tồn các loài động vật nguy cấp không?

Các hành động bảo tồn phải được tiến hành ngay lập tức và cần một khoản chi phí ước tính 1,3 triệu đô la Mỹ cho mỗi loài sẽ làm tăng đáng kể cơ hội sống sót cho các loài động vật có xương sống đang đứng trên bờ vực tuyệt chủng.

25/03/2015

Loài Ngọc lan mới cho khoa học Magnolia tiepii ở Khánh Hoà



Một trong những kết quả đạt được của Đề tài TN3/T14 “Điều tra, sàng lọc nguồn tài nguyên dược liệu thực vật tỉnh Lâm Đồng theo định hướng hoạt tính sinh học nhằm phát triển các loài có giá trị cao”
28/11/2014

Nhận dạng nhanh một số loài Rùa hiếm

Nhận dạng nhanh bằng hình ảnh một số loài rùa hiếm ở Việt Nam bị đe doạ tuyệt chủng trên toàn cầu cần được bảo vệ và được liệt kê trong Phụ lục I và II của CITES. 
Click vào các hình dưới để xem ảnh chất lượng cao!

24/11/2014

Loài thông mới phát hiện tại biên giới Việt – Lào

Trước đây, một loài thông 5 lá mọc ở khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha – Sơn La đã từng bị định loại nhầm là Thông trắng trung quốc (Pinus armandii) hoặc Thông trắng hải nam (Pinus fenzeliana)

09/11/2014

Loài Diễn đá mới cho khoa học ở Phú Thọ

Một loài Luồng có tên địa phương là Diễn đá phân bố tại các tỉnh Phú Thọ, Yên BáiHà Giang vừa được mô tả mới cho thế giới với tên khoa học là Dendrocalamus longivaginatus (họ Cỏ Poaceae, phân họ Tre Bambusoideae).
14/10/2014

Seized pangolins saved by Vietnam’s conservation program

Conservationists have successfully rescued a juvenile Sunda Pangolin (Manis javanica) seized from illegal captivity in Binh Duong Province.
The one-year old pangolin weighing roughly 900 grams is being taken care of in quarantine cage of by the Carnivore and Pangolin Conservation Program of Wildlife Rescue and Conservation Center in Ninh Binh Province’s Cuc Phuong Park.
07/09/2014

Lan hài cảnh ở núi đá vôi Phachao, bắc Lào

Ảnh: Khu vực phân bố của Lan hài cảnh Paphiopedilum canhii ở Lào và Việt Nam.
(BiodiVn) Trong năm 2011-2013 chúng tôi đã có các đợt khảo sát sự phân bố cũng như tình trạng bảo tồn của loài Lan hài cảnh Paphiopedilum canhii tại Lào. Đặc biệt chúng tôi đã phát hiện được những quần thể nguyên sinh Lan hài cảnh tại khu vực núi đá vôi Phachao, bắc Lào
28/08/2014

Loài mới "Trà hòn giao" phát hiện tại Khánh Hoà

Hoa của loài Trà hòn giao Camellia hongiaoensis. Ảnh G. Orel 
(BiodiVn) Mới đây, vào hồi cuối tháng 7 - 2014  tạp chí Telopea (Journal of Plant Systematics) đã công bố một loài hoa Trà mới phát hiện ở Khánh Hoà, Việt Nam trên tập 17 (trang 99–105). Loài mới này được đặt tên theo khu vực tìm ra chúng, đó là địa danh Hòn Giao ở tỉnh Khánh hoà, Trà hòn giao Camellia hongiaoensis Orel & Curry. Chúng được mô tả bởi hai nhà khoa học người Úc là George Orel và Anthony S. Curry.
27/08/2014

Phát hiện quần thể Sồi ba cạnh hiếm tại Đắk Nông

Gốc cây Sồi ba cạnh cổ thụ (Ảnh: Hoàng Thanh Sơn).
Trong chuyến điều tra thực tế tại Khu BTTN Nam Nung và Tà Đùng, các chuyên gia thuộc Viện Nghiên cứu Lâm Sinh – Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã phát hiện quần thể thực vật Sồi ba cạnh hiếm với số lượng gần 200 cá thể.
Quần thể Sồi ba cạnh được tìm thấy tại tiểu khu 1331, ở độ cao 1.100 m đến 1.250 m thuộc Khu BTTN Nam Nung, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông. Chiều cao trung bình của các cây trong quần thể khoảng 18 m; đường kính thân các cây từ 60 – 120 cm, cây lớn lên tới 2 m.

Trích yếu Thông mọc tự nhiên ở Việt Nam 2013

Thông tre lá ngắn Podocarpus pilgeri. Ảnh Phạm Văn Thế
Bài báo trình bày Trích yếu được cập nhật hoá 2013 của Thông mọc tự nhiên ở Việt Nam dựa trên kết quả nghiên cứu hơn 1.300 số hiệu mẫu vật được thu thập (hơn 81% mới thu trong 20 năm gần đây) chủ yếu bằng các phương pháp so sánh hình thái kinh điển. 33 taxon bậc loài đã được thừa nhận, hầu hết bị đe doạ tuyệt chủng (80%). Phương pháp sinh học phân tử đã được sử dụng kết hợp để xác định lại bậ phân loại của Calocedrus rupestrisCunninghamia konishii
24/07/2014

Phòng kỷ mới ở Quảng Bình Aristolochia quangbinhensis

Hoa Phòng kỷ quảng bình Aristolochia quangbinhensis trong tự nhiên. Ảnh Nghiêm Đức Trọng.
(BiodiVn) - Vào hồi đầu năm 2014, tạp chí khoa học PhytoKeys (số 33, trang 51-59) đã công bố một loài thực vật thuộc chi Phòng kỷ (Aristolochia) họ Mộc hương (Aristolochiaceae) mới cho khoa học được phát hiện tại Quảng Bình, Việt Nam. Chi Phòng kỷ Aristolochia có khoảng 500 loài, phân bố chủ yếu vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Các loài trong chi này được sử dụng rộng rãi trong nền y học dân tộc của Việt Nam và Trung Quốc, ngoài ra, đây cũng là nhóm thực vật quan trọng trong nghiên cứu đồng tiến hóa của sinh giới.
Loài thực vật mới này được một nhóm các nhà thực vật học gồm Đỗ Văn Trường (Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), Nghiêm Đức Trọng (Đại học Dược Hà Nội) và hai người khác từ Viện Thực vật Dresden – Cộng hòa Liên bang Đức mô tả.
Hoa Phòng kỷ quảng bình Aristolochia quangbinhensis trong tự nhiên nhìn ngang. Ảnh Nghiêm Đức Trọng.
Tên loài: Phòng kỷ quảng bình Aristolochia quangbinhensis T.V.Do; được đặt theo địa danh tỉnh Quảng Bình, nơi phân bố tự nhiên của loài này.
Mô tả: Dây leo thân gỗ lâu năm, rễ nhiều. Thân có lông nhung màu nâu vàng khi non, nhẵn khi già. Cuống lá dài 1.5-2.5 (-3) cm, thẳng, nhiều lông nâu vàng; Phiến lá hình elip thuôn dài đến elip, dài (6 -) 8-13 (-14) cm, rộng 3-5 (-6) cm, mũi nhọn, mặt trên nhẵn, màu xanh đậm, mặt dưới đầy lông nhung nâu vàng, gân chính 3, mạng chân vịt, gân phụ 7-8 cặp, mạng lông chim, gân nổi trên cả hai mặt. Hoa nách lá, cô độc. Cuống dài 1,5-2 cm, rủ xuống, tím, nhiều lông tơ. Cuống, lá bắc và bao hoa đông bao phủ bởi lông đa bào màu vàng-nâu. Bao hoa hình chữ S, dài (3 -) 3,2-3,5 cm, bên ngoài nhiều lông màu vàng nâu tối, gân hoa song song, bên trong nhẵn. Bầu thuôn dài, (0,8) dài 1-1,2 cm, đường kính 0,3-0,4 cm., màu vàng-xanh, noãn nhiều. Ống hình trứng, dài (1,2) 1,5-1,8 cm, đường kính 0,5-0,6 (-0,8) cm, bên ngoài màu trắng, bề mặt bên trong màu tím đên, ống cong mạnh mẽ tại gốc. Vành ba thùy, hình chuông, đường kính 2-2,5 (-3) cm, màu tím-hồng ở cả hai mặt, mặt ngoài nhiều lông xồm xoàm, mặt trong mịn, ba thùy bất xứng; họng tròn, tím-đen; nhị 6 trong 3 cặp; bao phấn thuôn dài, dài (2 -) 2,5-3 mm, màu vàng, mở dọc . Quả chưa thấy.
Loài gần giống: Loài mới có đặc điểm hình thái tương tự với các loài Aristolochia championii Merrill (Nam Trung Quốc), A. vallisicola Yao (bán đảo  Malaysia) và A. versicolor Hwang (Nam Trung Quốc ). Tuy nhiên, loài mới được phân biệt với các loài kể trên bởi những đặc trưng hình thái sau: cuống lá dài 1.5–2.5(–3) cm, phiến lá hình e líp đến e líp thuôn; cuống cụm hoa dài 1.5–2 cm; đài hình chuông, đường kính 2–2.5 (–3) cm, duy nhất màu hồng, phớt tím trên cả 2 mặt, bao hoa không có các chấm màu và gân song song, bao hoa 3 thùy không đều nhau, mép các thùy cuộn tròn. 
Hoa Phòng kỷ quảng bình Aristolochia quangbinhensis trong tự nhiên, nhìn từ phía sau. Ảnh Nghiêm Đức Trọng.
Phân bố: Mới chỉ gặp ở huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình, Việt Nam
Sinh thái: Loài mới được phát hiện dưới tán rừng lá rộng thường xanh trên núi đất thấp, gần với khu vực vùng đệm Vườn Quốc Gia Phong Nha-Kẻ Bàng, Quảng Bình, nơi đây đang chịu những tác động mạnh từ hoạt động đốt, phá rừng mở rộng diện tích đất canh tác, làm suy giảm vùng phân bố và kích thước của quần thể.
Vật hậu học: Mẫu vật có hoa thu được vào tháng 4, tháng 5, nhưng có khả năng chúng bắt đầu có hoa vào tháng 3.
Thân mang hoa và lá Phòng kỷ quảng bình Aristolochia quangbinhensis trong tự nhiên. Ảnh Nghiêm Đức Trọng.
Đề nghị tình trạng bảo tồn: Đoàn nghiên cứu mới chỉ phát hiện được 2 cá thể của loài mới này trong tự nhiên cách nhau 50m. Do đó, khả năng vùng phân bố của loài này là nhỏ hơn 20km2, số lượng cá thể thấp. Vậy theo tiêu chuẩn của IUCN (2013), loài mới được đề nghị ở mức Sắp nguy cấp Vulnerable (VU D2) hoặc Nguy cấp (EN).
BiodiVn xin gửi lời cảm ơn chân thành đến DS. Nghiêm Đức Trọng đã gửi tặng ảnh cho Blog!

PhytoKeys 33: 51–59, doi: 10.3897/phytokeys.33.6094
Aristolochia quangbinhensis (Aristolochiaceae), a new species from Central Vietnam

Truong Van Do, Trong Duc Nghiem, Stefan Wanke and Christoph Neinhuis 

Aristolochia quangbinhensis T. V. Do, sp. nov.
Type. VIETNAM. Quang Binh province: Minh Hoa district, Hoa Luong community, 17°47'5.00"N, 105°52'20.05"E, elev. 380 m, 3 April 2013, T.V. Do 39 (holotype: VNMN; isotype: DR).
Description. Perennial woody lianas. Roots numerous, fasciculate and cylindrical. Stems terete, densely yellow-brown villous when young, older stems with corky bark, glabrous. Petiole 1.5–2.5(–3) cm long, straight, densely covered with yellow-brown trichomes; lamina elliptic to oblong-elliptic, (6–)8–13(–14) cm long, 3–5(–6) cm wide, subcoriaceous, base subcordate to auriculate, with a shallow sinus 3–4 mm deep, (1–)1.5–2 mm wide, apex acute, adaxially glabrous, dark green, abaxially densely yellow-brown villous, basal veins 3, palmate, secondary veins 7–8 pairs, pinnate, venation densely reticulate and prominent on both sides. Flowers terminal, solitary, but accompanied by a lanceolate scale-like bracteole, (2–)3 mm long, (1.5–)2 mm wide, sessile, inserted near base of the peduncle, conspicuous, persistent. Peduncles 1.5–2 cm long, pendulous, purple, densely hirsute. Peduncles, bracts and perianth densely covered by yellow-brown pluricellular hairs. Perianth S-shaped, (3–)3.2–3.5 cm long, outside densely yellow-brown hirsute with obscure, parallel veins, inside smooth. Ovary oblong, (0.8–)1–1.2 cm long, 0.3–0.4 cm diam., yellowish-green, densely hirsute, 6-locular, ovules numerous, usually in one series. Utricle ovoid, (1.2–)1.5–1.8 cm long, 0.5–0.6(–0.8) cm diam., externally white, inner surface basally with a dark-purple patch and distally with a white patch; tube strongly curved at its base, parallel and in close contact with the utricle, narrower than the utricle, cylindrical, 0.9–1.0 cm long, 0.4–0.5 cm diam.; limb three-lobed, bell-shaped, 2–2.5(–3) cm diam., purplish-pink on both sides, without any blotches or veins visible, outer surface densely hirsute, inner surface smooth, the three unequal lobes valvate in preanthetic flowers, the lateral lobes broadly deltoid with acute apex, the lower (median) lobe semicircular, during anthesis bell-shaped and with the margins recurved; throat circular, dark-purple, densely papillose; annulus present, formed by an ellipsoid flange, dark-violet; gynostemium three-lobed, lobes with obtuse apices, smooth, (3–)4–5 mm high, 2–3 mm diam., white; stamens six in one serie of three pairs; anthers oblong, (2–)2.5–3 mm long, yellow, tetralocular, longitudinally dehiscent. Capsules not seen.
Figure 1. Line drawing ofAristolochia quangbinhensis T.V. Do. A Flowering branch B–D Lateral (B) frontal (C) and dorsal (D) views of a flower at anthesis E–F Lateral (E) and frontal (F) views of a preanthetic flower G Gynostemium and ovary H Transverse section of ovary I Multicellular trichomes on the surface of the petiole. Drawing by N.V. Quyet from the holotype. Photo T.V.Do et al. 2014.
Vernacular name. Phòng Kỷ Quảng Bình (in Vietnamese).
Distribution. Aristolochia quangbinhensis is known from a single population found on the north-eastern slope of a mountain range bordering the buffer zone of Phong Nha-Ke Bang National Park in the Hoa Luong community, Minh Hoa district, Quang Binh province (Fig. 3). It might also be present in Laos P.D.R., because of the proximity of the Khammouan province with Central Laos.
Ecology. Aristolochia quangbinhensis occurs in humid mountain sites, in the understory of disturbed lowland evergreen broad-leaved forest and mainly evergreen scrubs. Dominant plants at the type locality are Annonaceae (Desmos spp.), Apocynaceae (Marsdenia spp., Wrightia spp.), Fabaceae (Millettia spp.), Lauraceae (Machilus spp., Litsea spp.), Malvaceae (Sterculia spp.), Pandaceae(Microdesmis spp.), Phyllanthaceae (Antidesma spp., Aporosa spp., Glochidion spp.), and Rubiaceae (Randia spp.).
Phenology. Flowering specimens have been collected in April and May but it is possible that blooming already begins in March.
Etymology. The specific epithet refers to the type locality.
Figure 2. Photographs of Aristolochia quangbinhensis T.V. Do. A Habit B–C Frontal (B) and lateral (C) views of a preanthetic flower D–E Leaf in adaxial (D) and abaxial (E) views F Flowering branch G–I Lateral (G–H) and dorsal (I) views of flowers at anthesis J Transverse section of the ovary K Inner surface of perianth LGynostemium and ovary M Frontal view of an anthetic flower. Photographs taken on the holotype locality in Hoa Luong community, Minh Hoa district, Quang Binh province, Central Vietnam. Photo T.V.Do et al. 2014.
Conservation status. In the past, large areas of primary, broad-leaved, evergreen forest covered the Hoa Luong community. Excessive logging, however, resulted in the loss of large extensions of primary forest. Although logging was prohibited in the 1990s, local farmers continued to impose strong pressure on the remaining forest patches converting it mostly into corn and soybean fields. As a result, the flora of the area should be regarded as threatened by extinction. Within the area, Aristolochia quangbinhensis is known from a single population; in fact, during the present study, only two healthy individuals were located growing about 50 m apart from each other. Therefore, the new species is assigned a preliminary status of vulnerable (VU D2) according to IUCN Red List criteria (IUCN 2013), indicating a population with a very restricted area of occupancy (typically less than 20 km2) or the number of locations (typically five or fewer) being both at hand for Aristolochia quangbinhensis. The lack of data currently does not allow a final risk evaluation, but the species might also be regarded as endangered (EN).

Reference: Do TV, Nghiem TD, Wanke S, Neinhuis C (2014) Aristolochia quangbinhensis(Aristolochiaceae), a new species from Central Vietnam. PhytoKeys 33: 51–59. doi: 
23/07/2014

Loài Gai mới ở Hà Giang Elatostema arcuatobracteatum

Loài mới Cao hùng lá bắc cong Elatostema arcuatobracteatum ngoài tự nhiên. A. Dạng sống. B. Nhánh mang hoa đực. C. Cụm hoa đực. D. Lá kèm. E. Nhánh mang hoa cái. F. Cụm hoa cái. Ảnh Đỗ Văn Trường
Trong khuôn khổ hợp tác giữa Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam với Viện Thực vật Quảng Tây – Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc về nghiên cứu tính đa dạng một số nhóm thực vật ở miền Bắc Việt Nam, các nhà thực vật Việt Nam là Đỗ Văn Trường và Trung Quốc đã phát hiện và mô tả 1 loài thực vật mới cho khoa học, đặt tên là Cao hùng lá bắc cong Elatostema arcuatobracteatum (Urticaceae). Tên của loài này được đặt do đặc điểm lá bắc cong hình cung. Kết quả nghiên cứu này vừa được đăng trên tạp chí chuyên ngành Phytotaxa (Tập 174, số 2, trang 111-115, 9 tháng 7, 2014).
Cao hùng lá bắc cong Elatostema arcuatobracteatum L.F. Fu, V.T. Do & C.X. He, sp. nov. phân biệt với các loài Elatostema từ Việt Nam và Trung Quốc bởi đặc điểm lá bắc của hoa cái hình cung. Tuy nhiên, loài mới có đặc điểm hình thái tương tự với loài Elatostema xanthophyllum W.T. Wang (1982), nhưng được phân biệt bởi đặc điểm hình thái đặc trưng: thân (chia nhánh vs. nhánh đơn), hình dạng và đường kính của lá bắc chính trên hoa cái (hình cung, 8-10 mm vs. hình tam giác, ca. 1 mm), hình dạng và đường kính của lá bắc phụ trên hoa cái (hình trứng, 0.6 mm vs. hình thuôn dài, 0.2 mm), và mặt dưới của các lá bắc (nhiều đốm dạng cystolith vs. gần như nhẵn).
Loài mới được phát hiện dưới tán rừng lá rộng thường xanh trên núi đá vôi thấp, nằm trong khu vực bảo vệ nghiêm ngặt của Khu BTTN Bắc Mê, Hà Giang, tuy nhiên khu vực phân bố đang chịu những tác động mạnh từ hoạt động đốt, phá rừng mở rộng diện tích canh tác, làm suy giảm vùng phân bố và kích thước của quần thể. Chính vì thế, theo tiêu chuẩn của IUCN (2001), loài mới được đề nghị ở mức sắp nguy cấp (VU D2).
Chi Cao hùng Elatostema ở Việt Nam hiện nay có rất ít tài liệu nghiên cứu đặc biệt là ở các khu vực núi đá vôi bắc Việt Nam. Nhóm các nhà thực vật nói trên cũng đã ghi nhận nhiều loài thuộc chi này mới cho hệ thực vật của Việt Nam và sẽ công bố trong thời gian tới.
Theo Botanyvn/Biodivn

Phytotaxa 174 (2): 111–115
Elatostema arcuatobracteatum (Urticaceae), a new species from Vietnam
Long-Fei Fu, Van Truong Do, Fang Wen and He Cheng-xin
Abstract. Elatostema arcuatobracteatum a new species from Ha Giang, Vietnam is described and illustrated and a Global Species Conservation Assessment presented. Elatostema arcuatobracteatum is most similar to E. xanthophyllum.
Introduction. Elatostema Forster & Forster (1775: 53; Urticaceae) consists of several hundred species of herbs, small shrubs and subshrubs (Wang 2012) that grow in deep shade in forests, gorges, stream sides and caves. Elatostema is distributed throughout tropical and subtropical Africa, Asia, Australia and Oceania. 31 species of Elatostema have been recorded in Vietnam (Wang & Chen 1995, Pham 2003, Lin et al. 2003, 2011, Fu et al 2013). However, few studies of Elatostema from Vietnam have been undertaken in recent years (Lin et al. 2011, Fu et al 2013). During extensive fieldwork on karst landscape from Vietnam in recent years, we have found that several species of Elatostema shared between North Vietnam and South China. Ha Giang Province is located in North Vietnam where the mean annual temperature is 23°C and annual rainfall is ca. 2400 mm. An unknown species of Elatostema was collected from this Province during recent fieldwork and confirmed as a new taxon following thorough consultion of the relevant literatures and specimens at IBK, PE and VNMN. This new taxon will be an addition to the ‘Flora of Vietnam’ (in progress).

Elatostema arcuatobracteatum L.F. Fu, V. T. Do & C.X. He, sp. nov. 
References: 
05/07/2014

Phương pháp nhân giống các loài Thông hiếm

Luống ươm loài Bách xanh núi đá Calocedrus rupestris
(biodivn.blogspot.com) Về cơ bản nhân giống các loài Thông bằng phương pháp giâm hom giống với . Sự khác nhau ở chỗ là nồng độ chất kích thích ra rễ IBA, thời gian ra rễ, tỷ lệ hom ra rễ và cách chọn hom. Vấn đề này có thể tìm hiểu được bằng việc thực hành trực tiếp. Dưới đây xin trình bày cách giâm hom loài Thông đỏ Taxus chinensis.

Phương pháp giâm hom Bách Vàng Xanthocyparis vietnamensis

Vườn Bách vàng sau khi nhân giống bằng cành đã được đưa lên trồng lại tại sinh cảnh sống tự nhiên của chúng. Đây có thế nói là phương pháp bảo tồn chuyển chỗ ex-situ
(biodivn.blogspot.com) Nhân giống bằng hom là phương pháp dùng một phần lá, một đoạn thân, một đoạn cành hoặc đoạn rễ để tạo ra cây mới gọi là cây hom, cây hom có đặc tính di truyền giống với cây mẹ. Vì vậy, khi chọn cây mẹ đểlấy hom, chúng ta nên chọn những cây đang trong giai đoạn sinh trưởng tốt, khoẻ mạnh, không sâu bệnh, có hom mọc trực tiếp từ thân càng nhiều và khoẻ càng tốt. 
19/06/2014

Loài Cọ núi lào mới Trachycarpus ravenii từ bắc Lào

Cọ núi lào Trachycarpus ravenii. Ảnh Leonid Aver.
(biodivn.blogspot.com) Tạp chí Nordic Journal of Botany vừa công bố một loài cọ núi mới được phát hiện tại khu vực núi đá vôi miền Bắc nước Lào. Công bố này hiện vẫn đang ở phiên bản Xem trước (Early View), nghĩa là chưa có số tập, số trang nhưng về mặt nội dung thì có thể xem là phiên bản cuối cùng. Loài mới có tên Cọ núi lào Trachycarpus ravenii nhằm vinh danh GS. Peter Raven - Cựu Giám đốc Vườn Thực vật Mít su ri, Hoa Kỳ - với những đóng góp tài trợ kinh phí và tổ chức điều phát phát hiện rất nhiều loài mới từ vùng Đông Dương. Chi cọ núi Trachycarpus trên thế giới có khoảng 10 loài. Cọ núi lào Trachycarpus ravenii  có chiều cao chừng 6 m, mọc rải rác. Chúng có hình dạng khá đẹp, có giá trị về mặt tài nguyên cây cảnh cao. Phân bố của chúng là khu vực rừng thứ sinh, trảng cỏ, cây bụi với diện tích phân bố rất hạn chế, khoảng dưới 100km2. Với vùng xuất hiện ít như vậy nên Cọ núi lào Trachycarpus ravenii  được đề nghị xếp ở trình trạng bảo tồn Rất nguy cấp (Critically Endangered-CR), theo thứ hạng và hạng mục của Danh lục đỏ thế giới IUCN.

Trachycarpus ravenii sp. nov. (Arecaceae, Corypheae) from central Laos
Leonid V. Averyanov, Khang Sinh Nguyen, Tien Hiep Nguyen, The Van Pham and Shengvilai Lorphengsy
L. V. Averyanov (av_leonid@mail.ru), Komarov Botanical Inst., Russian Acad. of Science, Prof. Papov Srt. 2, RU-197376 St Petersburg, Russia. – K. S. Nguyen, Inst. of Ecology and Biological Resources, 18 Hoang Quoc Viet, Cau Giay, Ha Noi, Vietnam. – H. T. Nguyen, Center for Plant Conservation, no. 25/32, Lane 191, Lac Long Quân Rd, Nghia Dô, Cau Giay District, Ha Noi, Vietnam. – T. V. Pham, Inst. of Ecology and Biological Resources, 18 Hoang Quoc Viet, Cau Giay, Ha Noi, Vietnam. – S. Lorphengsy, National Science Council Dept, National Herbarium of Laos.
A new species Trachycarpus raveniidiscovered in Kasi district, Vientiane province of central Laos is described and illustrated. Morphologically, it is closest to T. oreophilusandT. princeps, but differs by having a shorter stem of mature plants; glabrous, dull green petiole; almost circular leaf blade, waxy bluish–white abaxially; narrow leaf segments with narrow free lobes densely adpressed to each other, as well as in oblique-round apices of median leaf segments.
Trachycarpus H. Wendl.
10 species. Nepal, Bhutan, northern India, southwestern China, Myanmar, northwestern Thailand, central Laos, northern Vietnam.
Trachycarpus ravenii Aver. & K. S. Nguyen sp. nov. (Fig. 1–2)
Etymology. This superb, kinglike tree is named after Prof. Peter H. Raven in recognition of the truly outstanding and essential role that this noble person has played in the organization and support of field botanical explorations and new species discoveries within unexplored areas of Indochina.
Cọ núi lào Trachycarpus ravenii. Ảnh Leonid Aver.
Description. Erect unbranched dioecious fan palm. Stem solitary, straight or slightly ascending, to 6 m tall and 15 cm in diameter, with few insignificant remnants of leaf sheaths near apex or entirely naked, ringed. Leaves (15)18–25(30), palmate, forming a compact, dense hemispherical to almost spherical crown; old, dry, marcescent leaves hang downward, form a dense, broad skirt embracing an almost naked trunk.  Leaf petiole slender, (40)45–55(60) cm long, triangular in cross section, 3.0–1.5 cm in diameter, glabrous, dull green, straight to slightly curved, at base strongly recurved, with few stiff, rigid, almost straight bristles; leaf sheaths rather short, fibrous; old sheaths forming a mass of interwo-ven fibers, fibers at apex of sheath on younger leaves form-ing a short ocrea; petiole margins with very small blunt teeth to almost unarmed. Leaf blade semicircular to almost circular in outline, 0.7–1.0 m long and wide, dark green adaxially, waxy bluish–white abaxially, divided to about half of their length into 50–60 stiff segments; hastula triangular-ovate, obtuse, 2.2–3.0 cm long and wide, with entire, light yellowish–brown, coriaceous margin. Leaf segments arranged in one plane, producing a nearly flat leaf profile, conduplicate, 1.5–2.0 cm wide, their lobes densely adpressed to each other toward the apex; apex of lobes bi-lobulate, lobules acute to strongly oblique round-ish, often with small reflexed seta placed between lobules; secondary veinlets parallel, transverse veinlets almost invisible. Inflorescences (1)2–5(6), interfoliar. Male inflo-rescences with short peduncle, erect, 0.3–0.5 m long, oval in cross section, 8–12 cm wide, enveloped at base by 3–4(5) bracts, branched to 3–4 orders; rachillae 1–3 cm; inflorescence bracts base tubular, ovate, leathery, coriaceous, yellowish to chestnut-brown (when old), shortly hairy, concave, 20–30 cm long, (6)8–12 cm wide; flowers densely arranged, subsessile, white, not widely opening, globose, 2–3 mm in diameter, sepals ovate-triangular, 1.5–2.0 mm long, shortly connate at base; petals oblong-orbicular, twice as long as sepals; stamens 6, exceeding the petals; anthers bean-shaped, 1.2–1.4 mm long; pistillodes insignificant, less than half the length of stamens. Female inflorescences erect or spreading, robust, 0.8–1.2 m long, 15–20 cm wide, branched to 3 orders; rachillae 1–8 cm long; inflorescence rachis oval in section, with (4)6–8 broad sterile bracts; inflorescence bracts chestnut-brown, concave, coriaceous, 10–20(25) cm long, 5–8(10) cm wide; flowers solitary, subtended by minute triangular bracteoles. Old fruits brown to dull black, grooved, 1-seeded, almost globu-lar, 7–8(10) mm in diameter.
Ecology. Primary and secondary forests, secondary scrub and grass-lands on rocky highly eroded solid, crystalline limestone at elevations 1600–1800 m a.s.l., commonly on very steep cliffy rocky north-faced outcrops near mountain tops. Flowering in March to June and fruiting in September to October?
Sinh cảnh sống của Cọ núi lào Trachycarpus ravenii. Ảnh Leonid Aver.
Distribution. Central Laos, Vientiane province, Kasi district, Thong Mout and Namken villages. Local endemic.
Similar species. Discovered plant clearly differs from all previously known Trachycarpusspecies. Morphologically, it is more or less close to three species occurring in Indochina: T. geminisectus,T. oreophilusand T. princeps. Trachycarpus raveniidistinctly differs from T. geminisectusin having tall, naked (not densely furry) stems, a large number of leaves with a small insignificant leaf sheath and ocrea, large hastula and narrow leaf segments. The new species differs from T. oreophilusand T. princepsin having a much shorter stem on mature plants; a glabrous, dull green petiole; an almost circular leaf blade with waxy bluish–white abaxially; narrow leaf lobes with narrow free lobules densely adpressed to each other, as well as oblique-round apices of median leaf segments. A comparison of selected morphological and taxonomic features of Trachycarpus species native to Indochina is shown in Table 1.
Conservation status. A number of earlier studies confirmed that all Trachycarpus species apart from T. fortuneiare more or less seriously threatened and very close to full extinction in the wild  (Gibbons and Spanner 1998, Kholia 2009, Kholia and Rajbhawan 2010). All of these species were recorded as local endemics whose limited distribution may be caused by the widespread and nearly complete destruction of primary plant communities in their native ranges. Degradation of primary native habitats continues across the distribution of the genus and is the main factor of Trachycarpus species threathened status and extinction. This is true for the survival status of T. raveniias well. The estimated total known area of its distribution is less than 100 kmwith no more than 100 observed mature individuals tentatively qualifying this palm as ‘Critically Endangered’ (CR) according IUCN criteria B1, C2 ai, aii and D (IUCN 2012). Conservation of all populations of this relictual species represents the highest priority of nature protection activity in central Indochina. As a first step, T. raveniimay be effectively protected in-situ in suitable habitats within the highest limestone formations in Indochina–Phachao Mountain. Establishing a protected area at Phachao Mountain will also protect large stands of intact, upper elevation limestone forests containing a rich diversity of native endemic species. Trachycarpus raveniiis an attractive tree providing a unique characteristic to the upland limestone landscape of central Laos. (biodivn.blogspot.com).

Phiên bản cuối cùng có thể tìm thấy tại: Nordic Journal of Botany
 

15/06/2014

Loài thực vật dị dưỡng mới ở Khánh Hòa Thismia okhaensis

Tiết mi Ô Kha (Thismia okhaensis). Ảnh: TS.Lưu Hồng Trường
Tháng 7 năm 2013, trong khuôn khổ chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học với Chi cục Môi trường - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Khánh Hòa, nhóm các nhà khoa học của Viện Sinh thái học Miền Nam và đồng nghiệp đã tìm thấy một loài thực vật dị dưỡng mới, trông giống như những chiếc lồng đèn bé nhỏ của các cô tiên và được đặt tên là Tiết mi Ô Kha (Thismia okhaensis).
Chi Tiết mi (Thismia) được biết đến với hơn 30 loài thực vật bậc cao dị dưỡng xuất hiện chủ yếu tại vùng nhiệt đới Châu Á, Bắc Mỹ; một vài loài cũng được tìm thấy ở vùng cận nhiệt đới Bắc Mỹ, Đông Nam Á và Châu Úc. Trước đây chúng được xếp trong họ Burmaniaceae, nhưng những dẫn liệu khoa học mới gần đây đã tách chi này thành họ riêng (Thismiaceae).
14/06/2014

Khám phá loài Ngọc lan cát tiên mới Magnolia cattienensis

Hình thái và sinh cảnh  Ngọc lan cát tiên Magnolia cattienensis (Theo Nordic Journal of Botany)
(biodivn.blogspot.com) Tóm tắt: Một loài mới của họ Magnoliaceae, Magnolia cattienensis QN Vũ từ Vườn quốc gia Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng, phía nam của Việt Nam được mô tả và minh họa. Ngọc lan cát tiên Magnolia cattienensis liên quan chặt chẽ loài gần nhất M. henryi Dunn, nhưng khác bởi lá hình nêm hẹp và gốc lá hẹp dần dần (so với hình nêm rộng, không hẹp dần dần), cuống có lông (so với nhẵn), và cuống lông nhung (vs nhẵn), gynoecium lông tơ (vs nhẵn), và ít lá noãn trưởng thành (26-30 vs 85-90) với lông tuyến dày đặc (vs nhẵn).
Hình thái Ngọc lan cát tiên Magnolia cattienensis (Theo Nordic Journal of Botany)
Mô tả: Cây thường xanh; thân cây 3-5 m cao và đường kính 10-15 cm; vỏ màu xám, hơi nứt; cành nhỏ mảnh mai, với trạng thái lá có lông sát xám; vết sẹo lá kèm gần đạt đỉnh của cuống lá. Lá phân bố đều, sắp xếp xoắn ; cuống lá (1,5) 2,5-3,5 (-4,3) cm dài, lông sát xám khi còn non, hơi dày lên đối với cơ sở của nó, dài 0,5-0,7 cm; lá lưỡi elip đến trứng ngược, 25-45 × (8,0) 10-18 cm, lượn sóng, gốc nêm và hẹp dần dần thành một cuống lá, ở đỉnh tù để cấp tính; mặt dưới với trạng thái lá có lông sát thưa thớt, dày đặc hơn trên gân chính; màu xanh lá cây bề mặt trên, nhẵn, bóng; gân chính mặt dưới rất nổi bật, chiều dọc có rãnh (ít nhất là khi khô), mặt trên phẳng; gân thứ 15-22 trên mỗi bên của gân chính, nổi bật bên dưới; chia thành mặt lưới gân dày đặc và nổi bật trên cả hai bề mặt khi khô. Cuống hoa hơi rủ xuống, chừng 1,8-2,5 × 0,5 cm, lông tơ màu trắng xám, với 1-3 vết sẹo lá bắc; cuống sống có lông, ca 0,3-0,5 × 0,5 cm. Hoa cuối trên cành lá, rất thơm, màu kem trắng; nụ hoa hình trứng, 2,5 × 1,5 cm; lá bắc mo trắng bên ngoài; đài tràng 9, trong 3 vòng xoắn, 3 cánh hình elip bên ngoài, mỏng, hơi xanh, 3,0-3,4 × 1,2-1,5 cm, tù ở đỉnh, vòng xoắn giữa và bên trong màu trắng sữa, trứng ngược muỗng hình, 1,5-3,5 × 1,0-2,0 cm, thịt dày. Nhị chừng 70-80, 0,8 cm, màu trắng sữa; bao phấn 0,6-0,7 cm, tự khai; Gynoecium (hợp bầu) không chân, có lông tơ, hình elipxoit, 1,6 × 0,6 cm; lá noãn ca 26-30, mặt ngoài có lông; .số noãn mỗi lá noãn 2, elip, quả hình Elipxoit, kích thước 7,0-8,0 × 1,5-2,0 cm;  Hoa nở trong tháng Bảy-Tháng Chín và đậu quả vào tháng tháng hai.
Phân bố: Magnolia cattienensis phân phối ở miền Nam Việt Nam, tỉnh Lâm Đồng, Vườn quốc gia Cát Tiên, mọc trong rừng lá rộng thường xanh, ở độ cao 250-400 m trên mặt biển, kết hợp với các loài như Scaphium lychnophorum (Hance) Pierre, Aphanamixis polystachya (Wall .) R. Parker, Syzygium spp., Celtis sp. và một số loài họ đậu, Araceae.(biodivn.blogspot.com).
Đề nghị tình trạng bảo tồn: Vì Magnolia cattienensis chỉ được biết đến từ một địa phương và quy mô số lượng cá thể nhỏ (ít hơn 250 cá thể trưởng thành), nó được đánh giá đây là 'Nguy cấp' (EN), theo tiêu chuẩn danh sách đỏ IUCN 2001.

Phiên bản cuối cùng có thể tìm thấy ở: 

 Xem thêm: 
13/06/2014

Động vật ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên và Di tích Vĩnh Cửu

Abstract: Vinh Cuu Natural Reserve and Historical Monuments of Vinh Cuu district, Dong Nai province was established under Decision No. 09/2006 / QD.UBND on 20/02/2006. The NR shares the boder, bordering the east side of Cat Tien National Park and Tri An reservoir, northern and western borders Binh Phuoc and Binh Duong province, a region south of Lake hydroelectric plant in Dong Nai River and Tri An . This area is where the most concentrated natural forest of Dong Nai province, with forest coverage is above 83.4%. Other recent research has confirmed the potential and value of biodiversity in the region. In the framework of the Partnership Program study biodiversity between of Nature Reserve and the Institute of Ecology and Biological Resources, the investigation into the animals here have been made to assess the composition of species in parks area.
12/06/2014

Chi hiệp và loài thực vật mới Hiepia corymbosa

Hình 1. Cụm hoa ngù của Hiepia corymbosa, nhìn trực diện
(biodivn.blogspot.com) Năm 2011 các nhà khoa học đã mô tả một chi thực vật mới là Hiepia (Tạm gọi: chi Hiệp) và một loài thực vật mới là Hiepia corymbosa (Tạm gọi: Hiệp hoa ngù) phát hiện từ Quảng Bình và Quảng Trị, Việt Nam. Bài báo đó đã được công bố trên tạp chí Turczaninowia (số 14(3); trang: 5–10; năm 2011). Chi và loài thực vật mới này thuộc phân họ Thiên lýAsclepiadaceae, họ Trúc đào – Apocynaceae.