Zingiberaceae

Các loài thực vật mới cho khoa học phát hiện ở Việt Nam 2014

Nycticebus pygmaeus

Buôn bán động vật hoang dã ở Việt Nam.

Ex-situ conservation of Xanthocyparis vietnamensis

Bảo tồn chuyển vị loài Bách vàng ở Hà Giang. Photo by Pham Van The.

Hoya longipedunculata

Cẩm cù cuống dài, loài mới 2012 ở Quảng Nam, Việt Nam. Photo by Pham Van The.

Forest fired

Cháy rừng Khộp, nguyên nhân suy thoái Đa dạng sinh học.

Taxus wallichiana var. chinensis

Thông đỏ bắc, loài trong Sách đỏ Việt Nam, phân bố miền Bắc. Photo by Pham Van The.

Ovophis monticola

Rắn lục núi, loài bị đe đoạ cấp R, phân bố Tây Bắc - Việt Nam.

Paphiopedilum canhii

Lan hài cảnh, loài đứng bên bờ vực tuyệt chủng, phân bố Việt Nam, Lào

Showing posts with label Quang Binh. Show all posts
Showing posts with label Quang Binh. Show all posts
06/07/2016

Những loài cá biển quý, hiếm ở miền Trung Việt Nam

Đây là những loài cá quý, hiếm đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007, chúng có phân bố ở một số tỉnh Miền Trung, và có thể bị ảnh hưởng trực tiếp bởi thảm hoạ ô nhiễm môi trường biển. Chúng là những loại có tình trạng bảo tồn từ Rất nguy cấp, đến Bị đe doạ tuyệt chủng trong tương lai gần.

Chúng được pháp luật Việt Nam bảo vệ, nghiêm cấm đánh bắt ngoài tự nhiên, nghiêm cấm sử dụng các hình thức mang tính diệt chủng như sử dụng CHẤT ĐỘC, phá huỷ môi trường sống. 
09/05/2015

Một loài tôm nước ngọt mới cho khoa học trong hang động của Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng


Hai nhà khoc học Đỗ Văn Tứ và Nguyễn Tống Cường thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật vừa phát hiện một loài tôm càng nước ngọt mới. Điều thú vị là loài tôm mới được phát hiện trong một số hang động của Vườn Quốc Gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Phát hiện mới được công bố trên Tạp chí Sinh học, số 36(3) trang 301-308


Loài tôm Phong Nha, Macrobrachium phongnhaense có đặc điểm đặc trưng bởi cơ thể trong suốt, mắt bị tiêu giảm, chân bò thứ hai mịn và thanh mảnh, không có gai trước hậu môn. Loài này sống trong các suối và vùng nước đọng ở trong các hang động, có thể xa cửa hang tới 4-5 km như trong hang Va. Tại đây, hoàn toàn không có ánh sáng và nước trong hang chủ yếu là nước thấm từ các khe đá và nền đá. Nền đáy có thể là đáy bùn hoặc bùn pha lẫn cát.



Hình. Ảnh mẫu vật sống loài tôm Macrobrachium phongnhaense 
(Nguồn: TS. Đỗ Văn Tứ)

22/01/2015

Mười chín loài Nhện mới công bố

Công bố mười chín loài nhện mới cho khoa học phát hiện được ở phía Bắc Việt Nam

Đây là kết quả hợp tác giữa TS. Phạm Đình Sắc thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và các nhà khoa học Trung Quốc.

Mười chín loài nhện mới này thuộc họ Pholcidae, được mô tả dựa trên các mẫu vật thu thập ở các tỉnh Bắc Cạn, Phú Thọ, Hà Giang, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Ninh BìnhQuảng Bình. Chúng không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có giá trị thực tiễn cao, nhiều loài có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, đặc hữu của Việt Nam. Bên cạnh đó, loài nhện còn được biết đến như là những thiên địch quan trọng góp phần phòng chống tổng hợp sâu hại bảo vệ cây trồng. Mô tả của 19 loài mới được công bố trên Tạp chí Quốc tế chuyên ngành Zootaxa, 3909(1): 82pp (monograph, tháng 1 năm 2015).
30/12/2014

Phân bố và Sinh cảnh của Chuột đá lào

Chuột đá Lào Laonastes aenigmamus chính là "hoá thạch sống", là loài sống sót duy nhất của họ Diatomyidae được cho là đã tuyệt chủng. Chúng được phát hiện và công bố vào năm 2005 tại Lào bởi các nhà khoa học Jenkins, Kilpatrick, Robinson và Timmins. Khi đó chúng chỉ được tìm thấy tại khu vực núi đá vôi nhỏ của tỉnh Khăm Muộn.

Ba loài ếch giun mới ở Việt Nam và Campuchia

Trong quá trình phân tích các đặc điểm hình thái và dẫn liệu phân tử các loài Ếch giun thuộc giống Ichthyophis Fitzinger, 1826, Tiến sỹ Nguyễn Quảng Trường cùng các đồng nghiệp người Đức, Nga đã phát hiện và công bố 3 loài mới cho khoa học. 
23/10/2014

Phát hiện loài mới cho khoa học ở Phong Nha

Một loài mới cho khoa học thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) đã được hai nhà thực vật Việt Nam là Nguyễn Thị Kim Thanh và Nguyễn Nghĩa Thìn (Đại học Quốc gia Hà Nội) mô tả và công bố trên The Gardens' Bulletin Singapore (tập  66(1), trang 61-65) vào tháng 1 năm 2014.

08/09/2014

Tỏi rừng thế: loài mới phát hiện ở Quảng Bình

Ảnh hoa loài Tỏi rừng thế Tupistra theana. Ảnh Phạm Văn Thế.
(BiodiVn) Vào tháng 5 năm 2011, Trung tâm Bảo tồn thực vật Việt Nam (CPCVN, Hà Nội) tổ chức đợt khảo sát đa dạng thực vật dài ngày đối với các khu rừng còn sót lại dọc trên tuyến đường Hồ Chí Minh (giới hạn trong các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế Quảng Nam) được tài trợ bởi Hội Địa lý Hoa Kỳ. 
Một trong những kết quả đáng lưu ý của đợt khảo sát đó là mô tả và công bố 6 loài mới cho khoa học thuộc họ Thiên môn đông Asparagaceae. Các loài mới này bao gồm 5 loài trong chi Huệ đá Peliosanthes là:
17/08/2014

Thuần hoá và chăm sóc Cẩm cù rừng

 
Cẩm cù khô Hoya pachyclada - Loài phân bố chủ yếu ở các khu rừng khô ở Tây Nguyên Việt Nam. Ảnh Phạm Văn Thế
(BiodiVn) - Có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, hầu hết Cẩm cù (hay Hoya - còn gọi là Hoa sao) phát triển tốt trong nhà, trong khu vực được bảo vệ hay một nhà kính. Các cây Cẩm cù leo lên bằng rễ con, thân nhỏ, khi chưa được cắt tỉa chúng tạo thành một tấm thảm dày. Một số loài tạo được những giỏ đẹp. Việc chăm sóc Cẩm cù có thể tuân theo những kinh nghiệm chung như sau:
09/08/2014

Kế hoạch Hành động Đa dạng sinh học (BAP)

Tỏi rừng thế an na Tupistra theana, loài mới phát hiện 2012 từ Quảng Bình. Ảnh Phạm Văn Thế
(BiodiVn) - Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam (BAP) được soạn thảo và được Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt ngày 22 tháng 12 năm 1995. BAP được xây dựng trong bối cảnh Chính phủ Việt Nam đã ký Công ước Quốc tế ĐDSH, năm 1993 và được Quốc hội thông qua năm 1994. Kể từ khi ban hành đến nay, BAP là văn bản có tính pháp lý và là kim chỉ nam cho hành động của Việt Nam trong việc bảo vệ ĐDSH ở tất cả các cấp từ Trung ương đến địa phương, các ngành và các đoàn thể. 
Giới thiệu chung về Kế hoạch hành động đa dạng sinh học của Việt Nam
Mục tiêu của BAP. Mục tiêu lâu dài của BAP là Bảo vệ sự ĐDSH phong phú và đặc sắc của Việt Nam trong khuôn khổ phát triển bền vững:
- Bảo vệ các HST đặc thù của Việt Nam, các HST nhạy cảm đang bị đe doạ thu hẹp hay bị huỷ hoại do các hoạt động kinh tế của con người;
- Bảo vệ các thành phần của ĐDSH đang bị đe doạ do khai thác quá mức hay bị lãng quên;

Chiến lược và chính sách bảo tồn đa dạng sinh học

Huệ đá hoa đen Peliosanthes nutans, một loài mới phát hiện cho khoa học từ Quảng Nam, 2012. Ảnh Phạm Văn Thế
Các phần trước:

(BiodiVn) - Chính phủ Việt Nam đã sớm nhận thức về bảo vệ và phát triển tài nguyên ĐDSH. Theo thống kê từ 1958 đến nay, có tới gần 100 văn bản pháp luật của Nhà nước Việt Nam liên quan đến bảo tồn ĐDSH và các tài liệu hướng dẫn thi hành lần lượt được ban hành. Có thể nói đây là cơ sở pháp lý thực hiện bảo vệ ĐDSH. 
Năm 1962, Cục Kiểm lâm được thành lập cùng với sự ra đời rừng cấm Cúc Phương-rừng cấm đầu tiên của Việt Nam. Năm 1985, Chiến lược Bảo tồn Quốc gia của Việt Nam (NCS) được ban hành. Đây là một chiến lược đầu tiên được xây dựng ở một nước đang phát triển. 

24/07/2014

Phòng kỷ mới ở Quảng Bình Aristolochia quangbinhensis

Hoa Phòng kỷ quảng bình Aristolochia quangbinhensis trong tự nhiên. Ảnh Nghiêm Đức Trọng.
(BiodiVn) - Vào hồi đầu năm 2014, tạp chí khoa học PhytoKeys (số 33, trang 51-59) đã công bố một loài thực vật thuộc chi Phòng kỷ (Aristolochia) họ Mộc hương (Aristolochiaceae) mới cho khoa học được phát hiện tại Quảng Bình, Việt Nam. Chi Phòng kỷ Aristolochia có khoảng 500 loài, phân bố chủ yếu vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Các loài trong chi này được sử dụng rộng rãi trong nền y học dân tộc của Việt Nam và Trung Quốc, ngoài ra, đây cũng là nhóm thực vật quan trọng trong nghiên cứu đồng tiến hóa của sinh giới.
Loài thực vật mới này được một nhóm các nhà thực vật học gồm Đỗ Văn Trường (Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), Nghiêm Đức Trọng (Đại học Dược Hà Nội) và hai người khác từ Viện Thực vật Dresden – Cộng hòa Liên bang Đức mô tả.
Hoa Phòng kỷ quảng bình Aristolochia quangbinhensis trong tự nhiên nhìn ngang. Ảnh Nghiêm Đức Trọng.
Tên loài: Phòng kỷ quảng bình Aristolochia quangbinhensis T.V.Do; được đặt theo địa danh tỉnh Quảng Bình, nơi phân bố tự nhiên của loài này.
Mô tả: Dây leo thân gỗ lâu năm, rễ nhiều. Thân có lông nhung màu nâu vàng khi non, nhẵn khi già. Cuống lá dài 1.5-2.5 (-3) cm, thẳng, nhiều lông nâu vàng; Phiến lá hình elip thuôn dài đến elip, dài (6 -) 8-13 (-14) cm, rộng 3-5 (-6) cm, mũi nhọn, mặt trên nhẵn, màu xanh đậm, mặt dưới đầy lông nhung nâu vàng, gân chính 3, mạng chân vịt, gân phụ 7-8 cặp, mạng lông chim, gân nổi trên cả hai mặt. Hoa nách lá, cô độc. Cuống dài 1,5-2 cm, rủ xuống, tím, nhiều lông tơ. Cuống, lá bắc và bao hoa đông bao phủ bởi lông đa bào màu vàng-nâu. Bao hoa hình chữ S, dài (3 -) 3,2-3,5 cm, bên ngoài nhiều lông màu vàng nâu tối, gân hoa song song, bên trong nhẵn. Bầu thuôn dài, (0,8) dài 1-1,2 cm, đường kính 0,3-0,4 cm., màu vàng-xanh, noãn nhiều. Ống hình trứng, dài (1,2) 1,5-1,8 cm, đường kính 0,5-0,6 (-0,8) cm, bên ngoài màu trắng, bề mặt bên trong màu tím đên, ống cong mạnh mẽ tại gốc. Vành ba thùy, hình chuông, đường kính 2-2,5 (-3) cm, màu tím-hồng ở cả hai mặt, mặt ngoài nhiều lông xồm xoàm, mặt trong mịn, ba thùy bất xứng; họng tròn, tím-đen; nhị 6 trong 3 cặp; bao phấn thuôn dài, dài (2 -) 2,5-3 mm, màu vàng, mở dọc . Quả chưa thấy.
Loài gần giống: Loài mới có đặc điểm hình thái tương tự với các loài Aristolochia championii Merrill (Nam Trung Quốc), A. vallisicola Yao (bán đảo  Malaysia) và A. versicolor Hwang (Nam Trung Quốc ). Tuy nhiên, loài mới được phân biệt với các loài kể trên bởi những đặc trưng hình thái sau: cuống lá dài 1.5–2.5(–3) cm, phiến lá hình e líp đến e líp thuôn; cuống cụm hoa dài 1.5–2 cm; đài hình chuông, đường kính 2–2.5 (–3) cm, duy nhất màu hồng, phớt tím trên cả 2 mặt, bao hoa không có các chấm màu và gân song song, bao hoa 3 thùy không đều nhau, mép các thùy cuộn tròn. 
Hoa Phòng kỷ quảng bình Aristolochia quangbinhensis trong tự nhiên, nhìn từ phía sau. Ảnh Nghiêm Đức Trọng.
Phân bố: Mới chỉ gặp ở huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình, Việt Nam
Sinh thái: Loài mới được phát hiện dưới tán rừng lá rộng thường xanh trên núi đất thấp, gần với khu vực vùng đệm Vườn Quốc Gia Phong Nha-Kẻ Bàng, Quảng Bình, nơi đây đang chịu những tác động mạnh từ hoạt động đốt, phá rừng mở rộng diện tích đất canh tác, làm suy giảm vùng phân bố và kích thước của quần thể.
Vật hậu học: Mẫu vật có hoa thu được vào tháng 4, tháng 5, nhưng có khả năng chúng bắt đầu có hoa vào tháng 3.
Thân mang hoa và lá Phòng kỷ quảng bình Aristolochia quangbinhensis trong tự nhiên. Ảnh Nghiêm Đức Trọng.
Đề nghị tình trạng bảo tồn: Đoàn nghiên cứu mới chỉ phát hiện được 2 cá thể của loài mới này trong tự nhiên cách nhau 50m. Do đó, khả năng vùng phân bố của loài này là nhỏ hơn 20km2, số lượng cá thể thấp. Vậy theo tiêu chuẩn của IUCN (2013), loài mới được đề nghị ở mức Sắp nguy cấp Vulnerable (VU D2) hoặc Nguy cấp (EN).
BiodiVn xin gửi lời cảm ơn chân thành đến DS. Nghiêm Đức Trọng đã gửi tặng ảnh cho Blog!

PhytoKeys 33: 51–59, doi: 10.3897/phytokeys.33.6094
Aristolochia quangbinhensis (Aristolochiaceae), a new species from Central Vietnam

Truong Van Do, Trong Duc Nghiem, Stefan Wanke and Christoph Neinhuis 

Aristolochia quangbinhensis T. V. Do, sp. nov.
Type. VIETNAM. Quang Binh province: Minh Hoa district, Hoa Luong community, 17°47'5.00"N, 105°52'20.05"E, elev. 380 m, 3 April 2013, T.V. Do 39 (holotype: VNMN; isotype: DR).
Description. Perennial woody lianas. Roots numerous, fasciculate and cylindrical. Stems terete, densely yellow-brown villous when young, older stems with corky bark, glabrous. Petiole 1.5–2.5(–3) cm long, straight, densely covered with yellow-brown trichomes; lamina elliptic to oblong-elliptic, (6–)8–13(–14) cm long, 3–5(–6) cm wide, subcoriaceous, base subcordate to auriculate, with a shallow sinus 3–4 mm deep, (1–)1.5–2 mm wide, apex acute, adaxially glabrous, dark green, abaxially densely yellow-brown villous, basal veins 3, palmate, secondary veins 7–8 pairs, pinnate, venation densely reticulate and prominent on both sides. Flowers terminal, solitary, but accompanied by a lanceolate scale-like bracteole, (2–)3 mm long, (1.5–)2 mm wide, sessile, inserted near base of the peduncle, conspicuous, persistent. Peduncles 1.5–2 cm long, pendulous, purple, densely hirsute. Peduncles, bracts and perianth densely covered by yellow-brown pluricellular hairs. Perianth S-shaped, (3–)3.2–3.5 cm long, outside densely yellow-brown hirsute with obscure, parallel veins, inside smooth. Ovary oblong, (0.8–)1–1.2 cm long, 0.3–0.4 cm diam., yellowish-green, densely hirsute, 6-locular, ovules numerous, usually in one series. Utricle ovoid, (1.2–)1.5–1.8 cm long, 0.5–0.6(–0.8) cm diam., externally white, inner surface basally with a dark-purple patch and distally with a white patch; tube strongly curved at its base, parallel and in close contact with the utricle, narrower than the utricle, cylindrical, 0.9–1.0 cm long, 0.4–0.5 cm diam.; limb three-lobed, bell-shaped, 2–2.5(–3) cm diam., purplish-pink on both sides, without any blotches or veins visible, outer surface densely hirsute, inner surface smooth, the three unequal lobes valvate in preanthetic flowers, the lateral lobes broadly deltoid with acute apex, the lower (median) lobe semicircular, during anthesis bell-shaped and with the margins recurved; throat circular, dark-purple, densely papillose; annulus present, formed by an ellipsoid flange, dark-violet; gynostemium three-lobed, lobes with obtuse apices, smooth, (3–)4–5 mm high, 2–3 mm diam., white; stamens six in one serie of three pairs; anthers oblong, (2–)2.5–3 mm long, yellow, tetralocular, longitudinally dehiscent. Capsules not seen.
Figure 1. Line drawing ofAristolochia quangbinhensis T.V. Do. A Flowering branch B–D Lateral (B) frontal (C) and dorsal (D) views of a flower at anthesis E–F Lateral (E) and frontal (F) views of a preanthetic flower G Gynostemium and ovary H Transverse section of ovary I Multicellular trichomes on the surface of the petiole. Drawing by N.V. Quyet from the holotype. Photo T.V.Do et al. 2014.
Vernacular name. Phòng Kỷ Quảng Bình (in Vietnamese).
Distribution. Aristolochia quangbinhensis is known from a single population found on the north-eastern slope of a mountain range bordering the buffer zone of Phong Nha-Ke Bang National Park in the Hoa Luong community, Minh Hoa district, Quang Binh province (Fig. 3). It might also be present in Laos P.D.R., because of the proximity of the Khammouan province with Central Laos.
Ecology. Aristolochia quangbinhensis occurs in humid mountain sites, in the understory of disturbed lowland evergreen broad-leaved forest and mainly evergreen scrubs. Dominant plants at the type locality are Annonaceae (Desmos spp.), Apocynaceae (Marsdenia spp., Wrightia spp.), Fabaceae (Millettia spp.), Lauraceae (Machilus spp., Litsea spp.), Malvaceae (Sterculia spp.), Pandaceae(Microdesmis spp.), Phyllanthaceae (Antidesma spp., Aporosa spp., Glochidion spp.), and Rubiaceae (Randia spp.).
Phenology. Flowering specimens have been collected in April and May but it is possible that blooming already begins in March.
Etymology. The specific epithet refers to the type locality.
Figure 2. Photographs of Aristolochia quangbinhensis T.V. Do. A Habit B–C Frontal (B) and lateral (C) views of a preanthetic flower D–E Leaf in adaxial (D) and abaxial (E) views F Flowering branch G–I Lateral (G–H) and dorsal (I) views of flowers at anthesis J Transverse section of the ovary K Inner surface of perianth LGynostemium and ovary M Frontal view of an anthetic flower. Photographs taken on the holotype locality in Hoa Luong community, Minh Hoa district, Quang Binh province, Central Vietnam. Photo T.V.Do et al. 2014.
Conservation status. In the past, large areas of primary, broad-leaved, evergreen forest covered the Hoa Luong community. Excessive logging, however, resulted in the loss of large extensions of primary forest. Although logging was prohibited in the 1990s, local farmers continued to impose strong pressure on the remaining forest patches converting it mostly into corn and soybean fields. As a result, the flora of the area should be regarded as threatened by extinction. Within the area, Aristolochia quangbinhensis is known from a single population; in fact, during the present study, only two healthy individuals were located growing about 50 m apart from each other. Therefore, the new species is assigned a preliminary status of vulnerable (VU D2) according to IUCN Red List criteria (IUCN 2013), indicating a population with a very restricted area of occupancy (typically less than 20 km2) or the number of locations (typically five or fewer) being both at hand for Aristolochia quangbinhensis. The lack of data currently does not allow a final risk evaluation, but the species might also be regarded as endangered (EN).

Reference: Do TV, Nghiem TD, Wanke S, Neinhuis C (2014) Aristolochia quangbinhensis(Aristolochiaceae), a new species from Central Vietnam. PhytoKeys 33: 51–59. doi: 
15/06/2014

Phát hiện loài cây gỗ mới Hopea vietnamensis ở Quảng Bình

 
Figure 1: Hopea vietnamensis H. V. Sam & D. Vu a, leaves and inflorescence, b, flower, c fruit (A & B Le Van Thuan 6974 (VNF), C Le Van Thuan 6975 (VNF)). Theo Global Journal of Botanical Science, 2014.
A New Species of Hopea (Dipterocarpaceae) from Vietnam 
Hoang Van Sam*1; Xia Nanhe 2, Vu Van Dung 3 and Luu Hong Truong  4.
 1 - Vietnam Forestry University, Xuan Mai, Ha Noi, Vietnam; 2 - South China Botanical Garden, Xingke Road 723, Tianhe District, Guangzhou, China; 3-Vietnam Forest Inventory and Planning Institute, Van Dien, Thanh Tri, Ha Noi, Vietnam; 4 - Centre for Biodiversity and Development, 85 Tran Quoc Toan, Dítrist 3, Ho Chi Minh City, Vietnam 
*Address correspondence to this author at the Vietnam Forestry University, Xuan Mai, Ha Noi, Vietnam; E-mail: samhv@vfu.edu.vn
Tóm tắt: Đây là loài cây gỗ lớn, cao đến 40m, đường kính thân lên đến gần 1m, được phát hiện tại rừng núi đá vôi thuộc Vườn Quốc Gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Quảng Bình, Việt Nam. Được công bố trên tạp chí lobal Journal of Botanical Science năm 2013 nhưng mới chính thức được miễn phí xem vào tháng 6 năm 2014.
Abstract: A new species of Hopea (Dipterocarpaceae) from Vietnam, Hopea vietnamensis, has been described and depicted. This species was previously misidentified as Hopea exalata Lin, Yang & Hsue. Hopea vietnamensis is somewhat similar to Hopea exalata and Hopea reticulata, but the sepals are dense hairy outside, slightly hairy inside, and have a pale yellow color. 
INTRODUCTION : The Dipterocarpaceae include about 600 species in three subfamilies and 17 genera, with 6 genera and 44 species in Vietnam. A careful examination of Indochinese specimens of Hopea at Vietnam Forestry University and the Vietnam Forest Inventory and Planning Institute found some unusual specimens that had been collected by Le Van Thuan in Thua Thien Hue and Quang Binh provinces, which are almost 500 km south of Hanoi, Vietnam. These specimens were collected in 1978, and they were assigned the numbers Le Van Thuan 6792, 6794, 6795, 6796 and 6797. These specimens were identified by Nguyen Ngoc Chinh and Vu Van Dung as Hopea exalata. In 2011 we conducted fieldwork in Quang Binh province (Phong Nha Ke Bang National Park) to try and recollect this species, and we were able to discover a similar specimen in the karst formation of the National Park. We studied literatures [1-4, 8-10] and many specimens including types of Indochineses and Chinese Hope After comparing this specimen with type specimens and many other specimens in Paris (P), Leiden (L), South China Botanical Garden Herbarium (IBSC) and most herbaria in Vietnam, it became obvious that our materials differed significantly from Hopea exalata Lin, Yang & Hsue and Hopea reticulata Tardieu 
RESULTS AND DISCUSSION: Hopea vietnamensis H. V. Sam & D. Vu Typus Le Van Thuan 6795 (Holo type, VNF) 
Figure 2: Hopea vietnamensisH. V. Sam & D. Vu (Le Van Thuan 6975 (VNF)). Theo Global Journal of Botanical Science, 2014.
Evergreen trees, 30-40 m tall, 60-80 cm in diameter. Bark thin, white grey, not peeling when young, peelingoff into large pieces when old. Branches slender, white grey. Leaves simple, alternate, distichous ovoid or lanceolate, tip attenuate, base rounded, a little bit asymmetrical, 5-11cm long, 3-5cm wide. Basal veins 5-6 pairs, the two lower veins usually not obvious, lateral veins 3-5 pairs, without domatia at the lower surface of the leaves. There is no reticulate tertiary venation. Petioles thin, 6-10 mm long, covered with yellow grey tomentum when young, soon caducous. Inflorescence and axillary panicle, 6-11cm long, rachis glabrous, bud c. 6 mm long. Sepals 5, nearly rounded or ovoid, 2-2,5 mm long, top convex, tomentose at margin and outside. Petals 5, obovoid or elliptical, pale yellow, c. 5 mm long; apex acuminate and oblique, dense, grey tomentose outside and slightly pubescent inside. Stamens 15, arranged in two rings; inside round with 10 and outside round with 5 stamens Anthers ellipsoid, 0,5-0,7mm long, filaments 1,3-1,6 mm long, connectival appendage about 2 times as long as anther, Ovary superior, pyriform, shortly fine pubescent with short style, 3-locular, two ovules in each locule. Fruits ovoid, c. 1,7cm long and c. 0,9cm wide, pointed at top, brownish-yellow when mature, wings 2, 4-6cm long, c. 1,2 cm wide; apex obtuse, glabrous, about 11 parallel veins on each wing. 
Note: According to “Flora of China”, Hopea exalata is a synonym for Hopea reticulata. However, my research shows that they are two different species (see Table 1). Hopea exalata has glans on the lower surface of the leaves while Hopea reticulata does not have glans; Hopea exalata has 15 stamens while Hopea reticulata only has 10 stamens. The sepal of Hopea exalata is of a pink color and smooth on both surfaces while the sepal of Hopea reticulate has a reddish color, and is slightly hairy outside and smooth inside. 
Distribution: This species is an endemic species of Vietnam. To date it has only been found in limestone forests in Nam Dong and Phong Nha Ke Bang National Park, Quang Binh province, central Vietnam. These areas are about 500 km south of Hanoi (Figure 3). 
Ecology: Flowering in July-September; fruiting in February-March. 
Figure 3:Distribution of Hopea vietnamensisH. V. Sam & D. Vu. Theo Global Journal of Botanical Science, 2014.
This species grows in limestone forests in Nam Dong and Phong Nha Ke Bang National Park, Quang Binh province, Vietnam. 
Additional specimens: Le Van Thuan 6800, Le Van Thuan 6790, Le Van Thuan 6791, Le Van Thuan 6792, Le Van Thuan 6796, Le Van Thuan 6797, Le Van Thuan 6976, Le Van Thuan 6977 (FIPI); Le Van Thuan 6794 and Le Van Thuan 6795 (VNF) in Quang Binh, Vietnam. Date of collection June 1978. Hoang Van Sam BC-TV 1445 (VNF) in Quang Binh, Vietnam. Date of collection November 2011.
Theo: Global Journal of Botanical Science, 2013, 1, 29-32; Savvy Science Publisher
DOI: http://dx.doi.org/10.12974/2311-858X.2013.01.01.5

12/06/2014

Chi hiệp và loài thực vật mới Hiepia corymbosa

Hình 1. Cụm hoa ngù của Hiepia corymbosa, nhìn trực diện
(biodivn.blogspot.com) Năm 2011 các nhà khoa học đã mô tả một chi thực vật mới là Hiepia (Tạm gọi: chi Hiệp) và một loài thực vật mới là Hiepia corymbosa (Tạm gọi: Hiệp hoa ngù) phát hiện từ Quảng Bình và Quảng Trị, Việt Nam. Bài báo đó đã được công bố trên tạp chí Turczaninowia (số 14(3); trang: 5–10; năm 2011). Chi và loài thực vật mới này thuộc phân họ Thiên lýAsclepiadaceae, họ Trúc đào – Apocynaceae.
09/06/2014

Phát hiện loài Cơm nguội mới ở Quảng Bình Ardisia sadirioides

Hoa và cụm hoa loài Ardisia sadirioides, nhìn từ dưới lên
(biodivn.blogspot.com) GS. Phan Kế Lộc và C. M. Hu (Viện Thực vật Nam Trung Hoa) vừa mô tả loài thực vật mới có tên Ardisia sadirioides (họ Myrsinaceae) từ Quảng Bình – Miền Trung Việt Nam. Từ “sadirioides” được lấy từ chi Sadiria cùng họ với loài mới này do có chung đặc điểm cuống cụm hoa rất ngắn hoặc đôi khi không có.
10/12/2013

Lan lọng hồng da cam mới và hiếm Bulbophyllum salmoneum

(biodivn.blogspot) Lan lọng hồng da cam Bulbophyllum salmoneum được L. Averyanov. và J.J.Verm. mô tả vào năm 2012 trên tạp chí Taiwania số 57(2) trang 127-152. Loài này được phát hiện tại tỉnh Quảng Bình của Việt Nam. Chúng được tìm thấy trong rừng rậm nguyên sinh cây lá rộng còn sót lại trên những sườn núi đá rất dốc hỗn hợp gồm đá vôi và đá hoa cương ở độ cao 400-500 m so với mực nước biển.