Zingiberaceae

Các loài thực vật mới cho khoa học phát hiện ở Việt Nam 2014

Nycticebus pygmaeus

Buôn bán động vật hoang dã ở Việt Nam.

Ex-situ conservation of Xanthocyparis vietnamensis

Bảo tồn chuyển vị loài Bách vàng ở Hà Giang. Photo by Pham Van The.

Hoya longipedunculata

Cẩm cù cuống dài, loài mới 2012 ở Quảng Nam, Việt Nam. Photo by Pham Van The.

Forest fired

Cháy rừng Khộp, nguyên nhân suy thoái Đa dạng sinh học.

Taxus wallichiana var. chinensis

Thông đỏ bắc, loài trong Sách đỏ Việt Nam, phân bố miền Bắc. Photo by Pham Van The.

Ovophis monticola

Rắn lục núi, loài bị đe đoạ cấp R, phân bố Tây Bắc - Việt Nam.

Paphiopedilum canhii

Lan hài cảnh, loài đứng bên bờ vực tuyệt chủng, phân bố Việt Nam, Lào

Showing posts with label Paleontology. Show all posts
Showing posts with label Paleontology. Show all posts
05/08/2014

Đông Dương, Borneo: vùng phát sinh Đa dạng sinh học Đông Nam Á

Phân phối các dòng và các sự kiện đa dạng hóa tại chỗ trong số 61 bộ dữ liệu theo thời gian.

(Borneo and Indochina are Major Evolutionary Hotspots for Southeast Asian 
Biodiversity)
(BiodiVn) - Các nhà khoa học thuộc các quốc gia Anh, Đức, In đô nê xi-a, Mỹ, Úc và Trung Quốc vừa công bố các kết quả cổ địa tiến hoá sinh vật trên tạp chí Systematic Biologists (Oxford University) nhằm chứng minh nguyên nhân tiến hoá ra các điểm nóng Đa dạng Sinh học ở Đông Nam Á hiện nay.

22/07/2014

Cổ sinh vật ở Na Dương (Epiaceratherium naduongense)

Hình ảnh minh hoạ một loài Tê giác cổ đại Epiaceratherium. Ảnh  bioquicknews.
(BiodiVn) Một nhóm các nhà khoa học từ Đức, Pháp, Ốt-xtrây-li-a và Việt Nam đã có thể phục hồi hóa thạch của một loài động vật có vú trước đây chưa biết sống khoảng 37 triệu năm trước. Loài động vật có vú mới được mô tả cho thấy một mối quan hệ đáng ngạc nhiên gần với các loài tiền sử được biết đến từ các vị trí hóa thạch ở châu Âu. Khu vực tìm thấy hoá thạch các loài cổ sinh vật là các mỏ than non khai thác Na Dương, Lộc Bình, Lạng Sơn, Việt Nam. Tại đây, nhóm nghiên cứu của các nhà khoa học cũng đã thực hiện một loạt những khám phá nhiều hơn mong đợi, trong đó có hoá thạch một loài động vật có vú mới khác, ba loài cá sấu, một số loài rùa, một số loài các nước ngọt và rất nhiều loài Trai. 
Đông Nam Á được coi là một khu vực đặc biệt phong phú các loài sinh vật ngay cả trong thời tiền sử - được gọi là một điểm nóng đa dạng sinh học. Nhiều thập kỷ nay, các nhà khoa học đã mặc nhiên công nhận quan hệ gần gũi đã tồn tại vào cuối thế Thuỷ Tân (thế Eocen) (khoảng 38-34.000.000 năm trước) giữa các hệ động vật của khu vực Đông Nam Á và châu Âu. Những phát hiện mới đây của nhóm nghiên cứu dưới sự lãnh đạo của Giáo sư Tiến sĩ Madelaine Böhme là bằng chứng cho thấy một số loài châu Âu có nguồn gốc từ Đông Nam Á. 
Hoá thạch loài Tê giác na dương Epiaceratherium naduongense cổ đại được tìm thấy ở Na Dương, Lộc Bình, Lạng Sơn. Ảnh Madelaine Böhme et al. 2014.
Một trong những động vật có vú mới được mô tả là Tê giác na dương Epiaceratherium naduongense. Giải phẫu của răng hóa thạch cho phép xác định con tê giác này như là một cổ sinh vật ưu thế vào thời điểm đó. Khi ấy, Na Dương là một đầm lầy rừng xung quanh Hồ Rhin Chua (địa danh cổ địa sinh học). Tên của loài tê giác này được đặt theo địa danh nơi phát hiện ra chúng đầu tiên. Ngoài ra nhóm nghiên cứu còn phát hiện hoá thạch một loài động vật vú khác mới cho khoa học là , một chi và loài cá nước ngọt mới Planktophaga minuta và hài cốt hóa thạch của cá sấu lên đến 6 mét. 
Vào thời cuối thế Thuỷ Tân, lục địa châu Âu có hình dạng rất khác so với hiện nay. Italia và Bulgaria là một phần của một chuỗi đảo ở Biển Tethys. Những hòn đảo này kéo dài vài ngàn km và sau này trở thành châu Âu và Ấn Độ. Hóa thạch châu Âu từ thời đó là rất hiếm, vì ít vật liệu được bảo tồn do sự hình thành núi và xói mòn. Tuy nhiên, loài tê giác mới cũng có mối liên hệ họ hàng thân thiết với các loài khác ở Châu Âu. Tê giác na dương Epiaceratherium naduongense có quan hệ gần gũi với loài tê giác Epiaceratherium  bolcense đã được tìm thấy ở Italy (Monteviale). Phát hiện hóa thạch của Epiaceratherium magnum từ Bayern, Đức cho thấy tê giác ở Đông Nam Á đã vươn xa và xâm nhập vào lục địa châu Âu không muộn hơn 33 triệu năm trước đây. 
Mỏ khai thác than lộ thiên Na Dương vẫn còn hoạt động, trong khi các nhà khoa học tiến hành khai quật của họ. Từ năm 2008, nhóm nghiên cứu quốc tế của  Giáo sư Tiến sĩ Madelaine Böhme từ Trung tâm Tiến hoá Loài người và Cổ môi trường Senckenberg (HEP) tại Đại học Tübingen, Đức đã nghiên cứu hệ sinh thái thời tiền sử và các hóa thạch của Na Dương ở Việt Nam. Nghiên cứu này cho thấy rằng các vỉa than nâu có một chứa những hóa thạch quan trọng trên toàn cầu từ kỷ Cổ Cận (Kỷ Paleogen). Ban đầu, các nhà khoa học đã dự kiến ​​sẽ tìm thấy hóa thạch từ kỷ Đại Tân sinh (Kỷ Kainozoi) trẻ hơn (lên đến 23 triệu năm trước) tại khu vực nghiên cứu. Từ những kết quả đó, các nhà khoa học từ Việt Nam, Pháp và Đức đã tìm hiểu và xây dựng lại một cách chi tiết một khu rừng đầm lầy ở 37 triệu năm trước đây, thuộc vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Khu rừng cổ đại này gồm những cây lớn cao đến 35 mét và mật độ 600/1 hécta.

Epiaceratherium naduongense (Rhinocerotidae) - New ancient rhinoceros species discovered in Vietnam

A team of scientists from the University of Tübingen and the Senckenberg Center for Human Evolution and Palaeoenvironment Tübingen was able to recover fossils of two previously unknown mammal species that lived about 37 million years ago. The newly described mammals show a surprisingly close relationship to prehistoric species known from fossil sites in Europe. The location: The open lignite-mining Na Duong in Vietnam. Here, the team of scientists was also able to make a series of further discoveries, including three species of fossilized crocodiles and several new turtles.
Southeast Asia is considered a particularly species-rich region, even in prehistoric times -- a so-called hotspot of biodiversity. For several decades now, scientists have postulated close relationships that existed in the late Eocene (ca. 38-34 million years ago) between the faunas of that region and Europe. The recent findings by the research team under leadership of Prof. Dr. Madelaine Böhme serve as proof that some European species originated in Southeast Asia.
Rhinoceros and Coal beast
One of the newly described mammals is a rhinoceros, Epiaceratherium naduongense. The anatomy of the fossil teeth allows identifying this rhinoceros as a potential forest dweller. The other species is the so-called "Coal Beast," . This pig-like ungulate, closely related to hippos, led a semi-aquatic lifestyle, i.e., it preferred the water close to bank areas. At that time, Na Duong was a forested swampland surrounding Lake Rhin Chua. The mammals' remains bear signs of crocodile attacks. Indeed, the excavation site at Na Duong contains the fossilized remains of crocodiles up to 6 meters in length.
From island to island toward Europe
In the Late Eocene, the European mainland presented a very different aspect than it does today. Italy and Bulgaria were part of an island chain in the Tethys Sea. These islands spanned several thousand kilometers between what later became Europe and India. European fossils from that epoch are very rare, since little material has been preserved due to the folding of mountains and erosion. Yet, the two new species had relatives in this area: A rhinoceros Epiaceratherium bolcense closely resembling the one from Na Duong was found in Italy (Monteviale). Fossil finds of Epiaceratherium magnum from Bavaria indicate that rhinoceroses reached continental Europe no later than 33 million years ago and colonized the landmass. The coal beast did not quite make it to the European mainland -- but it certainly reached the so-called Balkano-Rhodopen Island: a fossilized coal beast very similar to Bakalovia orientalis was unearthed in present-day Bulgaria.
Research among coal dust and excavators
The open mining pit Na Duong is still active. While the scientists conduct their excavations, lignite is being extracted nearby. Since 2008, the international research team around Prof. Dr. Madelaine Böhme from the Senckenberg Center for Human Evolution and Palaeoenvironment (HEP) at the University of Tübingen has studied the prehistoric ecosystem and the fossils of Na Duong in Vietnam. This research revealed that the lignite seams contained a globally important fossil deposit from the Paleogene interval. Originally, scientists had expected to find fossils from the younger Cenozoic (up to 23 million years ago) at the site. This ecosystem, which the scientists from Vietnam, France and Germany explore and reconstruct in ever more detail from one excavation season to the next, is a 37 million year-old swamp forest in a tropical to subtropical climate. Up to 600 trees grew there per hectare, and their crowns reached heights of up to 35 meters.

Refereces: http://www.sciencedaily.com/



 
21/07/2014

Hoá thạch cổ động vật mới ở Na Dương (Bakalovia orientalis)

Hình minh hoạ một loài Thú than cổ đại. Ảnh Wikipedia
(BiodiVn)- Các nhà cổ sinh học vừa phát hiện hoá thạch loài thú mới ở Na Dương thuộc huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam. Loài thú mới có tên "Thú than" phương đông Bakalovia orientalis nov. sp. (Anthracotheriidae) đã từng sống trong các khu rừng đầm lầy tại đây vào khoảng 39 - 35 triệu năm trước, thuộc thế Thuỷ Tân, tuổi cuối Bartonian tới Priabonian. Các khu rừng đầm lầy này sau đó đã biến thành các khu rừng nhiệt đới có thể do sự biến đổi nóng lên của khí hậu hoặc sự rút mực nước. Khu vực Na Dương hiện nay khoảng mấy chục triệu năm trước đã từng là lưu vực sông chảy từ Cao Bằng xuống.
Hoá thạch hàm dưới "Thú than" phương đông Bakalovia orientalis. Ảnh Madelaine Böhme et al. 2014
Cùng với việc phát hiện ra hoá thạch cổ sinh vật mới "Thú than" phương đông Bakalovia orientalis, các nhà khoa học còn phát hiện ra các hoá thạch cổ sinh vật mới khác như , chi và loài mới Planktophaga minuta. Khu vực Na Dương được coi là . Công bố này vừa được đăng tải trên tạp chí Zitteliana Số A53 (trang 120 – 167) hồi đầu năm 2014.
Hoá thạch hàm trên "Thú than" phương đông Bakalovia orientalis. Ảnh Madelaine Böhme et al. 2014
Theo , họ Anthracotheriidae là một họ động vật guốc chẵn đã tuyệt chủng, trông tương tự như hà mã và có quan hệ họ hàng gần với cả hà mã lẫn cá voi. Chi cổ đại với hóa thạch bộ xương được bảo tồn tốt nhất là Elomeryx, lần đầu tiên xuất hiện trong Trung Eocen tại châu Á. Chúng thịnh vượng tại châu Phi và đại lục Á-Âu, với một ít loài sau đó đã du nhập vào Bắc Mỹ trong thế Oligocen và cuối cùng bị tuyệt chủng tại châu Âu và châu Phi trong thế Miocen, có thể là do sự kết hợp của các thay đổi khí hậu với sự cạnh tranh từ hà mã thật sự. Chi trẻ nhất, Merycopotamus, tuyệt chủng tại châu Á vào Hậu Pliocen. Họ này được đặt tên theo chi đầu tiên được phát hiện là chi Anthracotherium, có nghĩa là "thú than", do các hóa thạch đầu tiên của nó được tìm thấy trong các tầng than có niên đại thuộc kỷ Paleogen tại Pháp. 
Trong thực tế, một con "thú than" trung bình trông tương tự như một con hà mã gầy với đầu tương đối nhỏ và hẹp. Chúng có 4 hay 5 ngón tại mỗi chân và bàn chân rộng thích hợp với việc đi lại trên bùn mềm. Chúng có bộ răng đầy đủ, mà ở một số loài đã thích nghi với việc đào bới rễ của thực vật thủy sinh.
Chứng cứ gần đây thu được từ lập chuỗi gen so sánh gợi ý tiếp rằng "thú than", như là họ hàng của hà mã, có thể gần với tổ tiên của cá voi. Tuy nhiên, các "thú than" đã biết sớm nhất xuất hiện trong các hóa thạch thuộc về Trung Eocen, diễn ra đủ lâu sau khi các dạng cá voi cổ đã thích nghi hoàn toàn với kiểu sống dưới nước.
Hoá thạch qoai hàm dưới "Thú than" phương đông Bakalovia orientalis. Ảnh Madelaine Böhme et al. 2014
"Thú than" phương đông Bakalovia orientalis có kích thước ước chừng tương đương như B. palaeopontica, và nhỏ hơn một chút (~ 20%) so với B. astica. Nó khác với các loài khác của Bakaloviain có răng hàm tương đối rộng hơn thấp hơn theo hướng ngang, thuộc về như môi liềm hơn. Hơn nữa, "Thú than" phương đông Bakalovia orientalis khác với B. palaeoponticain có răng thấp hơn, khoẻ hơn (xét về kích thước của các phế nang).

Bakalovia orientalis nov. sp. from Na Duong, Lang Son, Vietnam
Holotype: SAU 3: partially preserved skeleton (skull, both mandibles, some postcranials) of a fe-male adult individual. SAU 3-21: extremely deformed skull preserving right P3-M3, and left P4-M3, and part of the muzzle (nasal and premaxilla) bearing alveoli of upper incisors, canines, and anterior premolars (Figs 10, 11); SAU 3-20a: right mandible preserving p4-m3 and alveoli of p1 to p3; SAU 3-20b: left man-dible ramus preserving p4-m3 (and alveoli for double rooted p2-p3) (Figs 12, 13). Na Duong coalmine, Na Duong Formation (Loc Binh district, Lang Son Province, northern Vietnam). The temporary repository of the original material is the University of Tübingen (Germany).
Bakalovia orientalisis of approximately the same size as B. palaeopontica, and slightly smaller (~20%) than B. astica. It differs from other species of Bakaloviain having relatively wider lower molars in transverse direction, more crescentic labial cuspids, and a higher and more developed transver-sal hypocristid that forms a continous crest with the preentocristid. Furthermore, Bakalovia orientalisdif-fers from B. palaeoponticain having a stronger lower canine (judging from the size of the alveoli), and a diastema between the canine and p1. 
Derivatio nominis: Referring to the eastward enlar-ged distribution area of the genus Bakalovia, which was so far reported solely from the type locality, Tcherno More, in Bulgaria.
Type locality and horizon: Base of the main lignite seam of Na Duong coalmine (layer 80), late Middle to Late Eocene Na Duong Formation (Lang Son Provin-ce, northern Vietnam).
Stratigraphical range and geographic distribution: Only known from the type locality.
Reference:
See more at

Na Dương: Cánh cửa hiếm bước vào Thế Eocen

Một số hoá thạch cổ thực vật tìm thấy ở Na Dương, Lạng Sơn. Ảnh Madelaine Böhme et al. 2014
(BiodiVn)- Na Dương thuộc huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam hiện đang được các nhà cổ sinh học trong nước và quốc tế quan tâm nghiên cứu do nơi đây chứa đựng tiềm năng đa dạng cổ sinh học cao. Kết quả bước đầu của sự nghiên cứu đó vừa được công bố trên tạp chí Zitteliana Số A53 (trang 120 – 167) hồi đầu năm 2014.
Ngày nay, các hệ sinh thái lục địa Đông Nam Á đại diện cho một điểm nóng đa dạng sinh học toàn cầu. Nhìn theo góc độ sâu của thời gian, tuy nhiên, rất ít thông tin về sự hình thành của điểm nóng này. Đặc biệt, nguồn gốc tiến hóa và địa sinh học của nhiều sinh vật trên mặt đất là chưa biết, và thông tin cổ hệ sinh thái, đặc biệt là cho kỷ Cổ Cận (kỷ Paleogen), là không có. Lưu vực sông Dương Na ở miền Bắc Việt Nam đã mang lại một sự đa dạng đáng chú ý của động vật có xương sống, không xương sống và hóa thạch thực vật của kỷ Cổ Cận. Và do đó nó là một trong số ít địa phương ở Đông Nam Á cho phép để điều tra đa tập trung trong giai đoạn này. Chúng tôi trình bày địa tầng, cổ sinh vật, và cổ sinh thái thu được từ kết quả ở địa tầng dày 220m thuộc Na Dương, phân tích magnetostratigraphy, biochronology, động vật có xương sống, không xương sống, phân loại thực vật và dấu ấn sinh học. Chỉ có trên 40m của phần này hiển thị các từ hóa ban đầu, giới hạn bất kỳ magnetostratigraphic hơn nữa trong terpretation. Các mối quan hệ phát sinh của hai loài thú mới được mô tả, nov. sp. (Anthracotheriidae) và  nov. sp. (Rhinocerotidae), đề nghị thuộc thế Thuỷ Tân, tuổi cuối Bartonian tới Priabonian (39-35 triệu năm trước). Đa dạng sinh học cao được ghi nhận là các loài trai Unionidae (năm loài), cá nước ngọt (chín đơn vị phân loại, bao gồm cả chi và loài mới Planktophaga minuta nov.. Et sp.), Rùa (5-6 đơn vị phân loại), và cá sấu (ba đơn vị phân loại), và nhiều hơn nữa thuộc Unionidea Đông Nam Á và khu hệ cá được chứng minh. Lá hóa thạch, gỗ và nhựa và thảm thực vật địa đới; các cây họ Dầu đã được xác định từ nhựa dịch rỉ quang phổ. Gốc cây tại chỗ cho phép để tính mật độ cây (600 mẫu vật/ha) và chiều cao tán tối đa (35 m); cả hai giá trị tương tự như của rừng đầm lầy than bùn ở Đông Nam Á gần đây. Môi trường thay đổi đột ngột từ một khu rừng đầm lầy đến một khu rừng nhiệt đới làm ấm hồ nhiệt đới, và nguyên nhân khác do dao động độ sâu của nước. Liên kết chặt chẽ giữa địa sinh học khu hệ động vật có vú thế Thuỷ Tân ở Na Dương và châu Âu nhấn mạnh tầm quan trọng của Đông Nam Á là một khu vực nguồn cho xuyên lục động vật có vú phát tán dọc theo rìa phía bắc Tethys.
Khu vực nghiên cứu cổ sinh vật Na Dương, Lạng Sơn. Ảnh Madelaine Böhme et al. 2014
Zitteliana A 53, 120 – 167
Na Duong (northern Vietnam) – an exceptional window into Eocene ecosystems from Southeast Asia
Madelaine Böhme, Manuela Aiglstorfer, Pierre-Olivier Antoine, Erwin Appel, Philipe Havlik, Grégoire Métais, Laq The Phuc, Simon Schneider, Fabian Setzer, Ralf Tappert, Dang Ngoc Tran, Dieter Uhl & Jérôme Prieto
Abstract. Today, the continental ecosystems of Southeast Asia represent a global biodiversity hotspot. From a deep-time perspective, however, very little is known about the formation of this hotspot. In particular, the evolutionary and biogeographic roots of numerous terrestrial biota are unknown, and ecosystemic information, especially for the Paleogene, is unavailable. The Na Duong Basin in northern Vietnam has yielded a remarkable diversity of Paleogene vertebrate, invertebrate, and plant fossils, and is thus one of the few localities in South-east Asia allowing for multi-focused investigation of this period. We present stratigraphic, paleontologic, and paleoecologic results from the 220 m thick Na Duong section derived from magnetostratigraphy, biochronology, vertebrate, invertebrate, and plant taxonomy, and biomarker analysis. Only the upper 40 m of the section show the original magnetization, prohibiting any further magnetostratigraphic in-terpretation. The affinities of two newly described mammal species, Bakalovia orientalis nov. sp. Anthracotheriidae) and Epiaceratherium naduongense nov. sp. (Rhinocerotidae), suggest an Eocene, late Bartonian to Priabonian age (39–35 Ma). High biodiversity is recorded for unionid mussels (five species), freshwater fishes (nine taxa, including Planktophaga minuta nov. gen. et sp.), turtles (five to six taxa), and crocodiles (three taxa), and long-term stability of Southeast Asian unionid and fish faunas is demonstrated. Fossil leaves, wood and resin document azonal and zonal vegetation; dipterocarp trees were identified from resin exudate spectroscopy. In-situ tree-stump horizons allow for calculation of tree density (600 specimens/ha) and maximum canopy height (35m); both values resemble those of recent South-east Asian peat swamp forests. Environment changed abruptly from a swamp forest to a tropical to warm sub-tropical lake of fluctuating water depth. The strong biogeographic link between the Eocene mammal faunas from Na Duong and Europe highlights the importance of Southeast Asia as a source region for trans-continental mammal dispersal along the northern Tethys margin.
Key words:Eocene, Southeast Asia, mammals, transcontinental migration, ecosystems, crocodiles, fishes, mollusks, Dipterocar-paceae, biogeography
Một số hoá thạch cổ động vật tìm thấy ở Na Dương, Lạng Sơn. Ảnh Madelaine Böhme et al. 2014

See more at: 
27/06/2014

Đa dạng sinh học cổ xưa nhất cách đây hơn 2 tỷ năm

Tập hợp hoá thạch sinh vật vĩ mô đã bị Pyrit hoá từ đá phiến sét đen FB2 của Francevillian Series, Gabon: Hình ảnh và diễn tả lượng CT-vi mô trong một nửa hoặc toàn bộ kính ảnh phim đèn chiếu. Nơi mà cả hai bộ phận và đồng bộ phận được thể hiện, phía bên trái của hình ảnh cho thấy bề mặt địa tầng nhìn từ trên, ấn tượng của đá phiến sét đen nằm phía trên là ở phía bên phải. (A-H) cho thấy cấu trúc hình thức phân thuỳ, dạng tấm, vải bố trí hình tròn (A, B, G, H) và nếp nhăn xuất hiện (A). Kích thước thanh 1 cm. Ảnh Plos One. doi: 10.1371/journal.pone.0099438.g002.