Zingiberaceae

Các loài thực vật mới cho khoa học phát hiện ở Việt Nam 2014

Nycticebus pygmaeus

Buôn bán động vật hoang dã ở Việt Nam.

Ex-situ conservation of Xanthocyparis vietnamensis

Bảo tồn chuyển vị loài Bách vàng ở Hà Giang. Photo by Pham Van The.

Hoya longipedunculata

Cẩm cù cuống dài, loài mới 2012 ở Quảng Nam, Việt Nam. Photo by Pham Van The.

Forest fired

Cháy rừng Khộp, nguyên nhân suy thoái Đa dạng sinh học.

Taxus wallichiana var. chinensis

Thông đỏ bắc, loài trong Sách đỏ Việt Nam, phân bố miền Bắc. Photo by Pham Van The.

Ovophis monticola

Rắn lục núi, loài bị đe đoạ cấp R, phân bố Tây Bắc - Việt Nam.

Paphiopedilum canhii

Lan hài cảnh, loài đứng bên bờ vực tuyệt chủng, phân bố Việt Nam, Lào

Showing posts with label Orchidaceae. Show all posts
Showing posts with label Orchidaceae. Show all posts
15/05/2018

Hai chi lan mới cho Việt Nam và Sáu loài mới cho khoa học vừa được công bố

Đa dạng sinh học của Việt Nam về hệ lan tiếp tục được ghi nhận bởi những chi mới, loài mới được công bố, được ghi nhận lần đầu tại Việt nam.
16/05/2015

Chi và loài Lan mới cho Việt Nam: Cephalanthera exigua [2014]


Vào năm 2014, các nhà thực vật Nga (Maxim S. Nuraliev, Peter G. Efimov, Leonid V. Averyanov, Andrey N. Kuznetsov & Svetlana P. Kuznetsova) đã tìm ra một chi và loài lan mới cho Việt Nam: Cephalanthera exigua.
30/10/2014

Câu chuyện loài mới và những bài học từ Lan

GS.TS. Phan Kế Lộc, ĐH Quốc gia Hà Nội, một nhà khoa học thực vật có tiếng trong giới kể, những nhà thực vật học Việt Nam đã từng tiếc đến ngẩn ngơ khi một loài hoa Lan mới chưa từng được biết đến trên thế giới được phát hiện ở Việt Nam, vì chưa kịp “cầm nóng tay”, thì đã bị một nhà thực vật học người Tiệp nhanh tay công bố ra quốc tế trước...

29/10/2014

Lan len Eria javanica: Việt Nam có thêm loài lan mới

Việt Nam lại có thêm một loài lan mới, đó là loài Eria javanica do hình ảnh và tài liệu do anh Trần Thanh Tùng ở Diên Khánh, Khánh Hoà gửi cho chúng tôi vào tháng 10-2014 và đã được Tiến sĩ Leonid Averyanov xác nhận.

07/09/2014

Lan hài cảnh ở núi đá vôi Phachao, bắc Lào

Ảnh: Khu vực phân bố của Lan hài cảnh Paphiopedilum canhii ở Lào và Việt Nam.
(BiodiVn) Trong năm 2011-2013 chúng tôi đã có các đợt khảo sát sự phân bố cũng như tình trạng bảo tồn của loài Lan hài cảnh Paphiopedilum canhii tại Lào. Đặc biệt chúng tôi đã phát hiện được những quần thể nguyên sinh Lan hài cảnh tại khu vực núi đá vôi Phachao, bắc Lào

Họ Lan ở Việt Nam - Qua ví dụ ở Lâm Đồng

Ảnh Lan hài cảnh trong tự nhiên. Ảnh Phạm Văn Thế
Đặt vấn đề
Điều tra phát hiện tính đa dạng của sinh vật, nghiên cứu và xây dựng chiến lược sử dụng bền vững chúng là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của các nhà sinh học và những nguời làm công tác bảo tồn thiên nhiên [14]. Hầu hết các loài sinh vật, nhất là thực vật đã được phát hiện và ghi nhận ở nước ta từ trước năm 1945 trong môi trường sống của chúng là rừng nguyên sinh. Đó là nơi sinh sống của hầu hết các loài sinh vật có nguồn gốc tại chỗ và có giá trị nhiều mặt cùng khoảng 10-12% các loài đặc hữu. Tuy nhiên, diện tích loại rừng này đang bị suy giảm ngày càng nhanh chóng (hình 1).
15/06/2014

Loài lan mới ở bắc Việt Nam Gastrochilus kadooriei

Gastrochilus kadooriei Kumar, S.W.Gale, Kocyan, G.A.Fisch. & Aver. sp. nov. (Theo: Phytotaxa)

Phytotaxa 164 (4): 276–280 
Description: Lithophytic herbs, prostrate, apex ascending, 3–30 cm tall. Roots vermiform, slender, up to 10.0 cm long, 1.5–1.8 mm in diameter. Stem rarely branched, up to 30.0 cm tall, 1.5–2.0 mm in diameter, covered with sheathing leaf bases, green, glabrous, ridged and woody towards the base, herbaceous towards the apex; internodes of stem 5–6 mm long. Leaves alternate, distichous, green, ovate, 1.3–1.8 ×5.0–6.0 mm, margin finely serrate towards upper quarter; leaf apex aristate with a smaller lateral tooth on either side, median aristae 1.5–3.0 mm long, lateral teeth less than 1.5 mm long (teeth shorter in older leaves); leaf base amplexicaul, sometimes with tiny red-purple spot only on young shoots. Inflorescence a raceme, 1 or 2, pendulous, thick (1.5 mm in diameter) green, up to 1 cm long, 1–3-flowered; peduncle 9 mm long. Flowers 9 ×9 mm, pale yellow, petals and sepals with red-brown spots. Pedicel and ovary 5.0–5.2 mm long, green at base, reddish-green towards the apex. Sepals and petals 1-veined, margins entire, thicker towards middle; dorsal sepal obovate, 3.5 ×2.0 mm; lateral sepals obliquely obovate, 3.5 ×2.2 mm; petals obovate, 3.0 ×1.7 mm. Labellum 4.0–4.2 ×5.0 mm, glabrous; hypochile attached to the base of column wings, saccate, 4.2–4.5 ×3.0–3.5 mm, with an obscure median ridge giving a roughly scrotiform appearance from the front, ecallose, margin entire, reddish towards attachment with column, yellow elsewhere; epichile projecting forwards, triangular with rounded corners, slightly concave, around 1/3 the height of hypochile, 1.6 ×1.6 mm, yellow with some red-brown spots at the front. Column rounded at back, flat in front, 2.0 mm long, 1.4 mm thick, 1.6 mm wide; anther cap copular, with two chambers, trapezoid, 1.5 ×1.3 mm, with a beak on the front that partly covers the stipe; pollinarium 1.7–1.9 mm long; pollinia 2, yellow, bilobed, 0.6 ×0.5 mm, almost hemispheric with a depression at the centre; stipe elongate, obovate, 0.8 mm long; viscidium thicker and broader than the stipe, elliptic, 0.3 ×0.1 mm, sticky, yellowish; rostellum inverted L-shaped, 1.8 mm long, yellow, forked apically with rounded tips, arising from the centre of horseshoe-shaped clinandrum, hanging in front of the stigma without touching the stigmatic surface; stigma deeply seated, almost triangular in outline with rounded corners.
Habitat:—In Hong Kong, plants grow on moss-covered granite rocks and boulders in seasonal streams with leaves devoid of or with faint purple spots. In Vietnam, plants are found on limestone rocks and may reach up to 30 cm or more tall and, if in bright sunlight, have purple spots on the leaves. In both places, plants grow only loosely attached to the rock surface. As they are found near streams, they seem to be highly vulnerable to flash flooding.
Distribution:—Southwestern China (Yunnan), Hong Kong, Laos and Vietnam. The species is also likely to occur in intervening and adjacent areas. In addition to the Yunnan specimens cited above, we suspect that the image in Xu et al.(2009: 476, plate 695a) labeled as Gastrochilus pseudodistichus is probably referable to G. kadooriei. The growth habit, flower colour, and morphology of the stem/leaves are a close match for the species. There is one more photographic record of the species, Averyanov et al. HAL 8441(Averyanov pers. comm.), from Vietnam, Ha Giang, Yen Minh, Lao Va Chai, vicinity of Chi Sang village
Phiên bản chính thức có thể tìm thấy ở đây:  

Xem thêm: 
08/06/2014

Phát hiện loài lan mới Miguelia cruenta ở Khánh Hoà

(biodivn.blogspot.com) TS. Leonid Averyanov và anh Trương Bá Vương (Viện Sinh học nhiệt đới – Miền Nam) vừa phát hiện và mô tả một loài Lan mới cho khoa học ở Khánh Hoà, miền Nam Việt Nam.
Chi Miguelia Aver. là một chi nhỏ bao gồm 4 loài, chỉ xuất hiện ở Nam Trung Hoa, Việt Nam, Lào và Đông Bắc Thái Lan, bao gồm Miguelia annamica, , M. shenzhenica và loài mới M. cruenta. Các loài trong chi này rất gần gũi với 1 chi lớn và có sự phân bô rộng là Vailla Mill., tuy nhiên chúng khác biệt bởi 1 cụm hoa rích rắc với cấu trúc lạ kỳ. 
Miguelia cruenta Aver et Vuong sp. nov. Là loài dây leo trườn, mọc trên đá hoặc trên cây. Thân có ít nhánh, màu xanh, nạc, có thể dài đến 15m, có nhiều đốt trên thân. Lá có cuống ngắn, phiên lá nạc, như da, hình dạng từ hình trứng hẹp đến hình elíp rộng. Cụm hoa bên, mọc ra từ nách lá, cuống cụm hoa ngắn hoặc đôi khi không có, thường chỉ có một nhánh (rất hiếm khi có 2 nhánh). Hoa nở hai bông một lần liên tiếp. Hoa lớn, có đường kính 6-7cm. Đài và tràng màu trắng đến màu vàng nhạt, xanh nhạt dần về phía đỉnh. Cánh tràng và lá đài bên hơi cong hình lưỡi liềm, lõm lòng thuyền. Môi màu trắng đến màu vàng nhạt sáng hoặc vàng nhạt xanh, hình kèn trompet, nguyên hoặc xẻ nhẹ 3 thuỳ. Thuỳ môi bên rộng, hình bán cầu, mỏng và cong. Thuỳ môi giữa xanh, nạc, hình trứng. Đĩa môi ở giữa dạng thể chai lồi màu trắng. Hoa nở vào tháng 5.
Tên khoa học của loài này Miguelia cruenta xuất phát từ nghĩa của từ la tinh “cruentum”, có nghĩa là máu. Sở dĩ có sự mường tượng liên quan như vậy là do màu đỏ như máu của các đường gân ở thuỳ môi bên trong lòng của môi. Màu đặc biệt này của môi hoa có thể liên quan đến một loài côn trùng thụ phấn đặc biệt nào đó. Tuy nhiên thông tin về sự thụ phấn của loài này hiện chưa có. Chúng được phát hiện trong rừng núi nguyên sinh cây lá rộng thường xanh ẩm, trên các sườn núi và vách đá granit trên độ cao 1500m so với mực nước biển. Đây là một loài lan hiếm và cần có sự chú ý đặc biệt để bảo vệ chúng (biodivn.blogspot.com).

Xem thêm: 
29/05/2014

Lan hài mới phát hiện từ Lào Paphiopedilum rungsuriyanum

Hình thái hoa Paphiopedilum rungsuriyanum. Nguồn Orchideen Journal
 Paphiopedilum rungsuriyanum được Olaf Gruss và cộng sự mô tả vào tháng 5-2014 dựa trên các mẫu cây trồng ở Thái Lan. Những cây trồng này được Niwat Rungroang - một nhà làm vườn Thái Lan - mua được tại một chợ của Thái Lan. Những cây này được lấy từ miền Bắc Lào và được công bố trên Orchideen Journal - Đức. Đây là loài lan hài rất đẹp và có kích thước nhỏ tương đương với loài Paphiopedium canhii - loài mới được phát hiện ở Bắc Việt Nam năm 2010 và cũng được tìm thấy tại Bắc Lào.
20/05/2014

Loài lan Dáng hương phong Aerides phongii mới ở Ninh Thuận

Loài lan mới Aerides phongii. Theo Turczaninowia 17 (1): 6–9 (2014)
New orchid species  Aerides phongii from southern Vietnam
Bài báo này mô tả một loài lan mới đặt tên là Aerides phongii, loài được tìm thấy ở khu vực rừng cây lá rộng trên đất thấp trước đây là rừng nguyên sinh nhưng đã bị tác động nặng ở miền Nam Việt Nam. Loài được đặt tên để tri ân ông Phong, người đã mua được cây lan này tại nơi nó được thu hái và đem trồng tại vườn nhà.
24/04/2014

Lan đá quý Nephelaphyllum pulchrum mới ghi nhận cho Việt Nam


Nephelaphyllum pulchrum có nguồn gốc Java, Sumatra, Malaysia, Borneo, và Philippines, nơi nó phát triển dưới bóng trong rừng ẩm ướt. Nephelaphyllum pulchrum thường phát triển đặc biệt bởi màu bạc hấp dẫn và lá màu xanh lá cây, hoa vàng. Nephelaphyllum pulchrum là một phong lan nhỏ trên mặt đất, nó hoàn toàn phù hợp để sử dụng trong một khu vườn nhiệt đới. 

 Nephelaphyllum pulchrum không nở hoa một lần hoặc hai lần một năm, nhưng hoa nó nhỏ, hoa màu vàng, nó không phô trương như nhiều loài lan khác trong họ Lan. Nephelaphyllum pulchrum đôi khi được gọi là Anoectochilus pulcher, Nephelaphyllum borneense, Nephelaphyllum latilabre, Nephelaphyllum pulchrum var. sikkimensis, Nephelaphyllum sikkimensis, Tainia borneensis, Tainia latilabris, hoặc Tainia pulchra.
10/12/2013

Lan lọng hồng da cam mới và hiếm Bulbophyllum salmoneum

(biodivn.blogspot) Lan lọng hồng da cam Bulbophyllum salmoneum được L. Averyanov. và J.J.Verm. mô tả vào năm 2012 trên tạp chí Taiwania số 57(2) trang 127-152. Loài này được phát hiện tại tỉnh Quảng Bình của Việt Nam. Chúng được tìm thấy trong rừng rậm nguyên sinh cây lá rộng còn sót lại trên những sườn núi đá rất dốc hỗn hợp gồm đá vôi và đá hoa cương ở độ cao 400-500 m so với mực nước biển. 


09/12/2013

Phong lan căn diệp không lá Taeniophyllum glandulosum

Lan Căn diệp hay Đại diệp Taeniophyllum glandulosum là một trong 6 loài Căn diệp phân bố ở Việt Nam. Chúng là loài phong lan không lá nhưng có diệp lục ở rễ, nằm trong phân họ Vandoideae. Đây là loài phong lan mọc phổ biến ở rất nhiều nơi như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, đảo Ryuyuku, Đài Loan, Thái Lan, Malaysia, Java, Sulawesi, Sumatra, New Guinea, Campuchia và Việt Nam. 
Taeniophyllum glandulosum không có lá và thân thì cực kì ngắn. Tổng thể hình dạng là bộ rễ phát triển dài và hơi dẹt. Rễ bám sát vào vỏ cây, chứa diệp lục nên có màu xanh đục, đây là bộ phận thay lá làm nhiệm vụ quang hợp. 
 Hình dạng cơ thể là bộ dễ phát triển dài và dẹt
29/11/2013

Lan rừng hoại sinh khoe sắc Didymoplexiopsis khiriwongensis

Chi Lan Didymoplexiopsis có duy nhất một loài là D. khiriwongensis được Seidenf. mô tả năm 1997 tại Miền Nam Thái Lan. Tuy nhiên chúng lại có phân bố khá rộng, từ Thái Lan, Đông Nam Trung Quốc đến vùng Đông Dương. Chi này có nhiều đặc điểm giống với chi Didymoplexis và Didymoplexiella về hình dạng cây và hoa.

Chúng là loài địa lan không lá, không diệp lục, dạng cỏ có củ. Củ nằm ngang hoặc nghiêng trong lòng đất, hình thoi hoặc hình trụ, bề mặt có nhiều mụn cơm. Thân đơn trục, đứng và mảnh, mang một vài rễ nhỏ và một vài lá bắc thưa thớt ở gốc. Cụm hoa xim đơn ở chót thân mang một vài hoa, và các lá bắc hoa nhỏ dạng tam giác. Các hoa không lộn ngược, nở rất to và nở liên tiếp lần lượt, màu trắng, có hai môi, rất mau tàn. Hoa có các lá đài và tràng hợp ở gốc khoảng 1/3, không hợp với lá đài bên. Lá đài bên hợp hợp với nhau khoảng 1/2 chiều dài. Môi tách rời khỏi lá đài và tràng, không có cựa. 
Didymoplexiopsis khiriwongensis trong sinh cảnh tự nhiên, trục thường mang 3-4 hoa nở lần lượt.
28/11/2013

Lan vòi bông hồng khoe hoa rực rỡ Epipogium roseum

Chi Lan Epipogium có tất cả 3 (hoặc 4) loài trên thế giới gồm Epipogium aphyllum Sw., E. japonicum Makino và E. roseum (D.Don) Lindl., các tên khác đều là tên đồng vật. Chúng có phân bố ở Châu Âu, rừng nhiệt đới Châu phi, nhiệt đới và cận nhiệt đới Châu Á, và Đông Bắc Úc. Việt Nam có duy nhất một loài đó là Epipogium roseum. Các loài trong chi này có đặc điểm chung là lan hoại sinh không lá, không diệp lục, mọc trên đất và có củ hình trứng hoặc hình như cành san hô dưới đất. Thân mọc thẳng, nhẵn, nạc và các lá bắc nhỏ dạng vẩy ở các đốt, màu trắng hoặc màu vàng nhạt. Cụm hoa xim cuối thân, mang nhiều hoa rất chóng tàn. Lá bắc dạng màng hình trứng-nhọn. Hoa rủ, lộn ngược hoặc không, màu trắng hoặc hơi vàng, thông thường có các đốm màu tím nhạt hoặc tím thẫm. Bầu hoa tựa hình cầu. Các lá đài và cánh hoa rời, hình dạng tương tự nhau, nhọn giáo. Môi hình trứng đến hình trứng rộng, lõm, cựa ở gốc, nguyên hoặc 3 thuỳ...
Epipogium roseum ra hoa trong sinh cảnh tự nhiên
27/11/2013

Hoa Lan mùn vàng không lá Galeola nudifolia

Chi Lan Galeola trên thế giới có khoảng 5 (hoặc 6) loài, phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á đến New Guinea và Bắc Úc. Chúng gồm các loài Galeola cathcartii Hook.f., G. faberi Rolfe, G. falconeri Hook.f., G. humblotii Rchb.f., G. lindleyana (Hook.f. & Thomson) Rchb.f. và G. nudifolia Lour, các tên khác còn lại đều là tên đồng vật. Chúng có đặc điểm chung là lan hoại sinh không diệp lục, không lá, mọc từ đất, thân có dạng trườn mang nhiều vẩy cố định, thân nạc và cứng, có rễ ở các đốt, rễ hoá gỗ. Cụm hoa xim hoặc chuỳ mọc ở chót thân hoặc bên, mang rất nhiều hoa. Trục có nhiều lông tơ và lá bắc hoa cố định. Hoa không nở to, hình chuông, vàng đôi khi có những chấm đỏ. Lá đài và cánh hoa rời, có hình dạng gần giống nhau. Cánh hoa mặt ngoài nhiều lông. Lá đài hơi nhỏ hơn so với cánh hoa, nhẵn. Môi không xẻ thuỳ, lõm, hình cái chén. ... Ở Việt Nam có duy nhất một loài đó là Galeola nudifolia Lour.

Cành hoa và cây trong sinh cảnh tự nhiên

Lan hoại sinh không diệp lục Gastrodia theana

Có lẽ Lan là họ có số lượng loài nhiều nhất trong số các loài thực vật có hoa. Trên thế giới có khoảng hơn 25.000 loài trong họ này đã xác định được tên. Ở Việt Nam đã ghi nhận khoảng gần 1200 loài. Không chỉ chúng đa đạng về số lượng mà còn đa dạng về môi trường sống như có loại leo trên cây gọi là Phong Lan, có loại bám trên đá gọi là Thạch Lan, có loại mọc trên đất gọi là Địa Lan. Hay sự đa dạng về hình dạng cây như có loại thân to như Phaius, Cymbidium..., có loại lan ruồi, muỗi như Schoenorchis, Porpax... Không chỉ có thế, có những loại Lan mà cả thời gian tồn tại không hề có lá. Chúng ta chỉ có thể quan sát được chúng khi chúng ra hoa. Đa số trong số chúng có dạng thân củ hoặc thân rễ, đây là nguồn dinh dưỡng chính cung cấp cho quá trình ra hoa.
12/11/2013

Chiêm ngưỡng hoa phong lan vani rừng hiếm Miguelia somae

Trong hơn 10 năm công tác trong lĩnh vực đa dạng thực vật, tôi đã có dịp gặp loài này nhiều lần ngoài tự nhiên. Nhưng những lần đó chỉ thấy lá, chẳng bao giờ gặp hoa. Có người nói hoa của chúng rất mau tàn, cũng có người nói chúng rất ít khi ra hoa nên hiếm khi gặp được. Thật may mắn, tình cờ tôi lại gặp được chúng nở hoa ngay ven đường của huyện Quản Bạ tỉnh Hà Giang trong đợt khảo sát thực vật hồi năm 2011. Có lẽ đó là lần may mắn duy nhất tôi gặp chúng, cho đến bây giờ tôi vẫn chưa gặp lại.
30/10/2013

Kho tài liệu về hoa Phong lan cực hay Orchidaceae

I. BỘ TÀI LIỆU CỦA LEONID AVERYANOV.
Đây là bộ sách của GS.TSKH. Leonid Averyanov và cộng sự viết về Lan của Việt Nam như Danh mục tên, mô tả và minh hoạ. GS. Leonid là nhà thực vật học hiện đang công tác tại Viện Thực vật Komarov, Viện Hàn lâm Khoa học Nga, ông đồng thời là phó Chủ tịch Hội Thực vật Nga, Chủ tịch Hội Lan Nga. Lĩnh vực hoạt động khoa học của ông chủ yếu là về Lan Orchidaceae bao gồm phân loại, địa lý thực vật và bảo tồn thiên nhiên. Ông bắt đầu nghiên cứu về Lan Việt Nam từ năm 1981, với hơn 30 hoạt động ông đã mô tả và công bố hàng trăm loài lan và các loài khác từ Việt Nam. Ngoài ra ông và cộng sự cũng công bố một số ấn phẩm nổi bật về Lan Việt Nam. Cộng sự đắc lực của ông ở Việt Nam là TS. Nguyễn Tiến Hiệp (nay là Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Thực vật Việt Nam - CPC) và GS.TS. Phan Kế Lộc (Đại học Quốc Gia Hà Nội, nay đã về hưu). Quý vị có thể liên lạc với ông bằng email theo địa chỉ: av_leonid@mail.ru hoặc av_leonid@yahoo.com. Xin chân thành cảm ơn Giáo sư đã chia sẻ tài liệu!