Zingiberaceae

Các loài thực vật mới cho khoa học phát hiện ở Việt Nam 2014

Nycticebus pygmaeus

Buôn bán động vật hoang dã ở Việt Nam.

Ex-situ conservation of Xanthocyparis vietnamensis

Bảo tồn chuyển vị loài Bách vàng ở Hà Giang. Photo by Pham Van The.

Hoya longipedunculata

Cẩm cù cuống dài, loài mới 2012 ở Quảng Nam, Việt Nam. Photo by Pham Van The.

Forest fired

Cháy rừng Khộp, nguyên nhân suy thoái Đa dạng sinh học.

Taxus wallichiana var. chinensis

Thông đỏ bắc, loài trong Sách đỏ Việt Nam, phân bố miền Bắc. Photo by Pham Van The.

Ovophis monticola

Rắn lục núi, loài bị đe đoạ cấp R, phân bố Tây Bắc - Việt Nam.

Paphiopedilum canhii

Lan hài cảnh, loài đứng bên bờ vực tuyệt chủng, phân bố Việt Nam, Lào

Showing posts with label Ninh Binh. Show all posts
Showing posts with label Ninh Binh. Show all posts
04/04/2015

Loài Ve sầu mới phát hiện ở Ninh Bình

 Một loài ve sầu mới cho khoa học, có tên là Pomponia brevialata, đã được phát hiện ở Vườn quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình, Việt Nam.
06/02/2015

Loài Ong mới Anterhynchium punctatum cho khoa học từ Việt Nam


Tiến sỹ Nguyễn Thị Phương Liên thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật vừa phát hiện một loài ong mới cho khoa học thuộc giống Anterhynchium, họ Ong vàng (Vespidae), bộ Cánh màng (Hymenoptera). Loài mới được công bố trên Tạp chí Khoa học Zootaxa, số 3915 tập 1, ngày 2/2/2015.

22/01/2015

Mười chín loài Nhện mới công bố

Công bố mười chín loài nhện mới cho khoa học phát hiện được ở phía Bắc Việt Nam

Đây là kết quả hợp tác giữa TS. Phạm Đình Sắc thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và các nhà khoa học Trung Quốc.

Mười chín loài nhện mới này thuộc họ Pholcidae, được mô tả dựa trên các mẫu vật thu thập ở các tỉnh Bắc Cạn, Phú Thọ, Hà Giang, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Ninh BìnhQuảng Bình. Chúng không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có giá trị thực tiễn cao, nhiều loài có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, đặc hữu của Việt Nam. Bên cạnh đó, loài nhện còn được biết đến như là những thiên địch quan trọng góp phần phòng chống tổng hợp sâu hại bảo vệ cây trồng. Mô tả của 19 loài mới được công bố trên Tạp chí Quốc tế chuyên ngành Zootaxa, 3909(1): 82pp (monograph, tháng 1 năm 2015).
13/01/2015

Hai loài chuồn chuồn mới ghi nhận cho Việt Nam

90 loài Chuồn chuồn thuộc 60 giống, 15 họ đã được ghi nhận tại các Vườn Quốc gia Cúc Phương, Tam Đảo, Ba Bể và Trạm đa dạng sinh học Mê Linh (Vĩnh Phúc). Đó là kết quả khảo sát của các nhà khoa học gồm TS. Phạm Hồng Thái thuộc Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Mỹ thực hiện ở các địa điểm trên.
14/10/2014

Seized pangolins saved by Vietnam’s conservation program

Conservationists have successfully rescued a juvenile Sunda Pangolin (Manis javanica) seized from illegal captivity in Binh Duong Province.
The one-year old pangolin weighing roughly 900 grams is being taken care of in quarantine cage of by the Carnivore and Pangolin Conservation Program of Wildlife Rescue and Conservation Center in Ninh Binh Province’s Cuc Phuong Park.
08/08/2014

Phát hiện 2 loài rầy mới (Sogana condaoana, S. cucphuongana)

Hình 1 A-F: Loài Sogana condaoana Constant & Pham, 2013. (A) cơ thể con đực nhìn từ mặt lưng; (B) vertex và ngực nhìn từ mặt lưng; (C) đầu nhìn từ mặt bên trái; (D) trán nhìn từ mặt bụng; (E) cánh trước bên phải nhìn từ mặt lưng; (F) cánh sau bên phải nhìn từ mặt lưng.
Các nhà khoa học Việt Nam là Phạm Hồng Thái (Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, VAST) và Bỉ là Jérôme Constant (Viện nghiên cứu khoa học tự nhiên Hoàng gia) vừa công bố 2 loài côn trùng mới thuộc họ Rầy đầu dài Tropiduchidae, bộ Cánh giống Homoptera. Hai loài mới này được đặt tên theo địa điểm thu được mẫu chuẩn: Rầy đầu dài côn đảo Sogana condaoana và Rầy đầu dài cúc phương Sogana cucphuongana. Mô tả chi tiết của loài được đăng tải trên Tạp chí Annales Zoologici (Warszawa) 63(1): 71-77 (2014).

08/07/2014

Ba loài Nhện mới cho khoa học từ Tam Đảo, Cúc Phương

Ảnh minh hoạ. A spider species in the forest of of Lo Go - Xa Mat.
(BiodiVn) Họ Nhện Mysmenidae lần đầu tiên được ghi nhận tại Việt Nam cùng với 3 loài mới cho khoa học đã được mô tả bởi các nhà Côn trùng học Trung Quốc. Bài mô tả các loài này vừa được công bố trên tạp chí Zootaxa (Tập 3826, số 1, trang 169–194) vào cuối tháng 6 vừa qua.
Vào các năm 2007 và 2008, Yu Cheng Lin (ĐH Tứ Xuyên) và Shu Quang Li ( Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc) đã thu thập được các mẫu vật Nhện lạ thuộc họ Mysmenidae có kích thước rất nhỏ, nhỏ hơn 3 mm từ Việt Nam. Sau khi nghiên cứu dưới kính hiển vi soi nổi họ đã xác định chúng là các loài mới lần đầu tiên được mô tả cho khoa học.
Loài Nhện mới Calodipoena tamdaoensis n. sp. được phát hiện tại Vườn Quốc gia Tam Đảo, còn hai loài Nhện mới khác là Gaoligonga taeniata n. sp. và Mysmena maculosa n. sp được phát hiện từ Vườn Quốc gia Cúc Phương, Việt Nam. 
Theo các nhà Côn trùng học thì Việt Nam hiện nay là điểm nóng của Đa dạng Sinh học Nhện, trong đó có rất nhiều loài mới thuộc các họ Amaurobiidae, Zodariidae, Sparassidae, Linyphiidae, Thomisidae, Hahniidae và Oonopidae được phát hiện trong các năm gần đây.

Mysmenidae (Arachnida, Araneae), a spider family newly recorded from Vietnam
YUCHENG LIN, Key Laboratory of Bio-resources and Eco-environment (Ministry of Education), College of Life Sciences, Sichuan University, Chengdu, Sichuan 610064, China; & SHUQIANG LI, Institute of Zoology, Chinese Academy of Sciences, Beijing 100101, E-mail: lisq@ioz.ac.cn
Abstract
The spider family Mysmenidae is reported from Vietnam for the first time. Both sexes of three new species are described: Calodipoena tamdaoensis n. sp. from Tam Dao National Park, Gaoligonga taeniata n. sp. and Mysmena maculosa n. sp. from Cuc Phuong National Park. Morphological descriptions, diagnoses and comparative illustrations are provided.

References: Zootaxa 3826 (1): 169–194

...
21/06/2014

Phát hiện loài Miliusa mới ở Việt Nam

 Loài mới Miliusa astiana, có tên Việt Nam là Cây-Dú-Bò, phát hiện ở Nha Trang. Hình theo Nordic Journal of Botany, 2014.
(biodivn.blogspot.com) Một nhóm nghiên cứu gồm Tanawat Chaowasku and Paul J. A. Keßler ở Hà Lan vừa công bố 3 loài mới thuộc chi Miliusa, họ Na Annonaceae được phát hiện từ Việt Nam và Cam Pu Chia. Công bố này được đăng tải trên tạp chí Nordic Journal of Botany ở bản Early View. Tổng quan về chi Miliusa ở Campuchia và Việt Nam đã được đánh giá lại: ở mỗi quốc gia có 6 loài thuộc chi này trong đó có 3 loài mới cho khoa học được mô tả. Một loài ở Campuchia (Miliusa cambodgensis sp. nov.), và hai loài khác ở Việt Nam (M. astiana and M. ninhbinhensis spp. nov.). Thêm vào đó, danh pháp khoa học và các thông tin liên quan về các loài thuộc chi Miliusa ở 2 quốc gia này cũng được cung cấp, kèm theo đó là khoá định tên khoa học loài của chúng.
Chi Millusa ở Việt Nam hiện có 6 loài M. velutina; M. ninhbinhensis sp. nov.; M. balansae; M. baillonii; M. banghoiensis  và M. astiana sp. nov. Khoá định loại đến loài của chi này được đưa ra ở cuối bài. 
Loài mới Miliusa astiana có tên Việt Nam là Cây-Dú-Bò, được phát hiện ở Khánh hoà, trên đồi có độ cao chừng 100 m so với mực nước biển. Chúng là loài cây bụi, hoặc gỗ nhỏ, cao 2 m, hoa màu vàng, ra hoa vào tháng Tư, quả ăn được.
Loài mới Miliusa ninhbinhensis được phát hiện ở Vườn Quốc Gia Cúc Phương, Ninh Bình. Là loài cây gỗ nhỏ, cao 4 đến 12 m. Hoa màu trắng xỉn, đằng sau hơi xanh.
Ngoài ra nhóm nghiên cứu cũng mô tả một loài mới từ Cam Pu Chia là Miliusa cambodgensis. (biodivn.blogspot.com).

Miliusa cambodgensissp. nov. (Annonaceae) from Cambodia 
and M. astiana, M. ninhbinhensisspp. nov. from Vietnam

Tanawat Chaowasku and Paul J. A. Keßler
Miliusa astiana Chaowasku & Kessler sp. nov. 
Type: Poilane 4694, fl. & fr. (holotype: P (barcode P00160856), isotypes: BO, P), Vietnam, Nha Trang, Hoa Cat, Sep 1922.
Etymology
The epithet is selected to honour Madame Suzanne Jovet-Ast (1914–2006) who actively studied and described many southeast Asian Annonaceae.
Description
Shrubs or trees, ca 2 m tall. Young twigs puberulous. Leaves subsessile, blade (broadly) elliptic, 2.0–6.8 x 1.2–3.1 cm; base subcordate or obtuse, sometimes slightly asymmetrical; apex obtuse to acute; lamina glabrous on both sides; upper surface of midrib slightly sunken, almost glabrous to puberulous, lower surface of midrib slightly raised, almost glabrous to appressed-puberulous; secondary veins 10–11 per side, angle with midrib 41°–57°at the middle part of blade. Flowers usually in 2-flowered inflorescences, terminal developing to internodal; peduncles 0.4–1.5 cm long [ca 0.4 cm long in fruit], glabrous, usually thickened in fruit; inflorescence axes inconspicuous when present; pedi-cels 0.6–1.2 cm long [ca 1.0 cm long in fruit], (almost) glabrous, usually thickened in fruit; bract(s) of peduncles and inflorescence axes (1–)2–7, triangular, placed at top of peduncles (and along the inconspicuous inflorescence axes), sometimes caducous; pedicel bract 1 for each flower, triangular, placed at base to near the midpoint of pedicels, sometimes caducous. Sepals (broadly) triangular, 0.5–0.7  x 0.5–0.9 mm, slightly connate at base; their outside and mar-gin puberulous. Outer petals triangular, 1.0–1.5 x 1.0 mm; their outside and margin puberulous. Inner petals (broadly) ovate-triangular, 3.5–5.4 x 3.0–4.5 mm; their outside and margin puberulous, inside (almost) glabrous, sometimes with a semicircular to triangular discolouration zone observed inside near base when dry; base (not to) slightly saccate. Torus slightly conical. Stamens ca 24, ca 1.0 mm long. Carpels ca 12, ca 1.6 mm long; stigmas  capitate; ovaries puberulous; ovules 2, lateral, uniseriate. Monocarps 2–4, (sub)globose to irregular-shaped, 0.7–0.8 x 0.5–0.7 cm; surface smooth to slightly verruculose, glabrous; apex not apiculate; stipe 3.0–3.5 mm long, glabrous, attached obliquely to the monocarps. Seed(s) 1–2, subglobose, flattened on one side when 2 seeds present in a monocarp, 0.6–0.7  0.4–0.5 cm; surface smooth, light brown when dry; raphe grooved.
Distribution, habitat/ecology and phenology: Occurring in Vietnam (Khanh Hoa Province: Fig. 3); on small hills; on stony soil. Elevation: ca 100 m a.s.l. Flowering and fruiting: April, September.
Similar species: This species is morphologically close to M. banghoiensis Jovet-Ast. The new species principally differs in having (broadly) elliptic leaf shape, obtuse to acute leaf apex, and only 2 ovules per ovary, while M. banghoiensishas obovate leaf shape, usually emarginate leaf apex, and 3–4 ovules per ovary. Further, a groove of seed raphe is (clearly) visible on the monocarps when dry in M. astiana(Fig. 1f ) while it is never observed in M. banghoiensis. Both species belong to the M. velutinagroup sensu Chaowasku and Keßler (2013). Within this group, M. astianamight be sympatric to M. banghoiensisand/or M. velutina. The specimens Poilane 2948, 4694 (type of M. astiana) were formerly the syntypes of M. banghoiensis(Jovet-Ast 1940); the other syntypes of M. banghoiensisare Poilane 63, 8540, 9177, 9299, one of which (Poilane 63) was designated as the lectotype of M. banghoiensisby Bân (2000).
Field notes: Flowers yellow. Fruits edible.
Vernacular name: Cây-Dú-Bò (Annamite).
Additional specimens examined (paratypes): Herb. Pha. m-Hoàng-Hô. 5302 (P), Vietnam, unknown locality; Poilane 2948 (L, P), Vietnam, Nha Trang, Ile Tre, Apr 1922.

Loài mới Miliusa ninhbinhensis được phát hiện từ VQG Cúc Phương. Hình theo Nordic Journal of Botany, 2014.
Miliusa ninhbinhensis Chaowasku & Kessler sp. nov. 
Type: Soejarto et al. 11651, fl. (holotype: L (barcode L0333250)), Vietnam, Ninh Binh, Nho Quan, Cuc Phuong National Park, Sep 2000.
Etymology: Named after the Vietnamese Province (Ninh Binh) in which this species is thus far known to be endemic.
Description
Trees, 4–12 m tall, 10–38 cm in diameter. Young twigs puberulous(-velvety). Leaves subsessile, blade narrowly elliptic-oblong, 3.4–11.0 x 1.1–2.9 cm; base subcordate, usually asymmetrical; apex (caudate-)acuminate; lamina glabrous above, glabrous to puberulous below; upper 
surface of midrib flat to slightly sunken, glabrous, lower sur-face of midrib slightly raised, (appressed-)puberulous; sec-ondary veins 14–23 per side, angle with midrib 38°–62°at the middle part of blade. Flower(s) solitary or in 2-flowered inflorescences, axillary; peduncles inconspicuous when present, bracts ca 2 when peduncles present, triangular to semicircular; pedicels 0.8–2.0 cm long [ca 1.4 cm long in fruit], glabrous, bracts 2–3 for solitary and each flower of 2-flowered inflorescences, triangular, placed at base and along the basal half of pedicels. Sepals triangular, 1.8–2.0 x 1.4–1.8 mm, connate at base, persistent in fruit; outside glabrous but margin puberulous. Outer petals triangular, 1.5–2.1 x 1.0–2.1 mm, persistent in fruit; outside and along margin puberulous. Inner petals (broadly) ovate(-triangular), 3.6–4.4 x 3.6–4.6 mm; outside puberulous and margin long-velvety but glabrous inside; glandular structures present inside near base, thickened, crescent-shaped, slightly finely warty; base not saccate. Torus subglobose. Stamens ca 29, ca 1.1 mm long. Carpels ca 12, ca 1.1 mm long; stig-mas (globose-)capitate; ovaries glabrous; ovule 1, basal. Monocarp(s) 1–8, ellipsoid-cylindrical, ca 1.4 x 0.7 cm; surface slightly verruculose, glabrous; apex not apiculate; stipe ca 7.0 mm long, (almost) glabrous. Seed 1, ellipsoid-cylindrical, ca 1.3  0.6 cm; surface and raphe not observed.
Distribution, habitat/ecology and phenology: Occurring in Vietnam (Ninh Binh Province: Fig. 3); in pri-mary forests on limestone hills with stunted trees 10.0–20.0 m tall. Elevation: 300–690 m a.s.l. Flowering: September–December, fruiting: October–December.
Similar species: Miliusa ninhbinhensisseems to be morphologically close to M. fusca Pierre. However, M. ninhbinhensisdiffers in having (slightly) larger inner petals (3.6–4.4  3.6–4.6 mm 
in M. ninhbinhensisvs 2.5–3.5  3.0–3.5 mm in M. fusca) and longer monocarps (ca 1.4 cm long in M. ninhbinhensis vs 0.8–1.0 cm long in M. fusca). Furthermore, the leaf shape of the former is narrowly elliptic-oblong with a sub-cordate base, whereas it is (broadly) elliptic to slightly (ob)ovate with a cuneate, obtuse to slightly rounded base in the latter. Both species belong to the M. mollisgroup sensu Chaowasku and Keßler (2013). Miliusa ninhbinhensisis allopatric to the other species of this group.
Field notes: Bark black–grey, smooth, slash white to dull brown. Flowers dirty white to dull pale green, black in center (  glandular structures).
Additional specimens examined (paratypes): All from the same vicinity as the type: Cuong et al. 701 (L), Dec 1999; 995 (L), Aug 2000; Mai Van Sinh MVX 07 (L), Oct 1999; Soejarto et al. 10415 (L, P), Nov 1998; 11288 (L), Dec 1999; 11290 (L), Dec 1999.

Loài mới Miliusa cambodgensis phát hiện ở Cam Pu Chia. Hình theo Nordic Journal of Botany, 2014.
Miliusa cambodgensis Chaowasku & Kessler sp. nov. 
Type: Poilane 28731, fl. (holotype: P (barcode P00495852), isotypes: L, P), Cambodia, Kg. Chhnang, Phnom Chom, Jan 1939.
Etymology: Named after Cambodia (Cambodge in French), where this species is endemic.
Description: Understory shrubs, 2–5 m tall, 8–9 cm in diameter. Young twigs curlily velvety. Leaves sessile, blade (narrowly) elliptic(-oblong), 3.6–10.0 x 1.7–3.8 cm; base cordate, always asymmetrical, often slightly clasping the twigs; apex (broadly) acute to (caudate-)acuminate; lamina glabrous on both sides; upper surface of midrib flat to slightly sunken, puberulous, denser on the basal half near twigs, lower surface of midrib raised, (puberulous-)velvety, denser on the basal half near twigs; secondary veins 18–20 per side, angle with midrib 60°–68°at the middle part of blade. FIower solitary, axillary; pedicels 0.7–2.0 cm long, puberulous-velvety near base, bracts 2–3, triangular, placed at base and along the basal half of pedicels. Sepals triangular, 1.0–1.5 x 1.0–1.5 mm, connate at base; margin puberulous-velvety, outside (almost) glabrous, inside glabrous. Outer petals triangular, 1.8–2.0  1.5–1.9 mm; both sides glabrous but margin puberulous. Inner petals  (broadly) ovate, 5.0–5.8 x 5.0–6.0 mm; both sides glabrous but margin curlily puberulous-velvety; both sides of margin somewhat recurved upward at anthesis; glandular structures present inside at base, thickened, x semicircular, slightly finely warty; base not saccate. Torus subglobose. Stamens ca 32, ca 1.0 mm long. Carpels ca 16, ca 1.1 mm long; stigmas globose to capitate; ovaries glabrous; ovule 1, (sub) basal. Monocarps unknown.
Distribution, habitat/ecology and phenology: Occurring in Cambodia (Kampong Chhnang Province: Fig. 3); in old forests with many tall trees; on granitic soil. Elevation: ca 1200 m a.s.l. Flowering: January.
Similar species: Miliusa cambodgensissuperficially resembles M. mollis, but primarily differs in having a more asymmetrical leaf base, larger inner petals (5.0–5.8  5.0–6.0 mm in M. cambodgensis vs 3.0–3.3  3.2–3.5 mm in M. mollis), more numerous stamens (ca 32 in M. cambodgensisvs 12–18 in M. mollis), and carpels per flower (ca 16 in M. cambodgensisvs 4–8 in M. mollis). Besides, the lower leaf surface of M. cambodgensis is glabrous, while it is densely hairy in M. mollis. The new species belongs to the M. mollisgroup sensu Chaowasku and Keßler (2013). It is allopatric to the other species of this group.
Field notes: Young leaves bright greenish–yellowish. Flowers cream or yellow.   (biodivn.blogspot.com)
Khoá định loại loài thuộc chi Miliusa ở Việt Nam:
Phiên bản cuối cùng của bài báo có thể tìm thấy trên:  


15/06/2014

Côn trùng mới Metopheltes clypeoarmatus ở Ninh Bình

Mặt con cái loài Metopheltes clypeoarmatus. Theo Biodivers Data J. 2014; (2): e1061
Một loài côn trùng mới Metopheltes clypeoarmatus thuộc Bộ cánh màng (Hymenoptera: Ichneumonidae, Ctenopelmatinae) vừa được mô tả mới cho khoa học, phát hiện tại Ninh Bình, Việt Nam.
Metopheltes clypeoarmatus Reshchikov & Achterberg sp. nov.
urn:lsid:zoobank.org:act:BB674DDC-E6FB-4E0D-9A6A-60CF17DB5C4A
Materials: Type status: Holotype. Occurrence: recordedBy: Mai Phu Quy; individualCount: 1; sex: female;Location: country: Vietnam; stateProvince: Ninh Binh; verbatimLocality: Cuc Phuong N.P., near entrance, c. 225 m; Event: samplingProtocol: Malaise trap; eventDate: 14.iv.-1.v.2000; Record Level: institutionCode: RMNH
Description
Body length 11 mm. Antennal flagellum with 34 segments. Width to length ratio of scapus 0.5. First flagellomere 3 times as long as wide, without distinct tyloid. Head not narrowed behind the eyes, temple rounded. Maximal length of temple 1.3 times transverse eye diameter; minimal length of temple equal to transverse eye diameter. Face as wide as longitudinal eye diameter; moderately convex, bulging; matt; densely and shallowly punctate, densely pubescent. Frontal carina between eye and antennal socket present. Clypeus flat, very slightly separated from face by a shallow impression; apical margin of clypeus moderately obtuse and serrate. Posterior ocellus separated from eye by 2.5 times maximum diameter of ocellus. Tentorial pits large. Width of malar space 0.3 times of basal width of mandible. Lower mandible tooth longer than upper one. Second maxillary palpomere not modified . Hypostomal carina joining occipital carina well above base of mandible. Occipital carina complete.
Mesosoma matt, punctate, with sparse yellowish setae. Notauli not impressed. Epicnemial carina raised at lower part of mesopleuron, not reaching anterior margin of mesopleuron, terminating dorsally in rounded transverse ridge that sharply delimits a median longitudinal furrow extending across middle of mesopleuron. Mesopleuron matt, densely and shallowly punctate, with deep groove extending full length of mesopleuron. First tibia with an apical tooth. Apical margin of mid tibia without distinct tooth similar to that on fore tibia. Posterior hind tibial spur at least 11 times longer than its maximum basal width. Tarsal claws pectinate with comparatively short teeth. Areolet of fore wing petiolate. Radius leaving pterostigma little before its middle. Second recurrent vein with two bullae. Nervulus postfurcal. Nervellus intercepted above its middle. Propodeal carinae complete, strongly raised, except basal part of dorso-median longitudinal carina; apical transverse carina curved towards metasoma; area superomedia trapezoidal and as long as wide.
Con cái loài Metopheltes clypeoarmatus sp. n., nhìn ngang. Theo Biodivers Data J. 2014; (2): e1061
Metasoma slightly shiny, smooth, sparsely pubescent. First metasomal tergite 0.4 times wider than its length; slightly prominent dorsally in profile; without shallow median longitudinal impression; only basally bordered by lateral longitudinal carinae. Second metasomal tergite with thyridium. Apical metasomal segments compressed laterally. Ovipositor straight, as long as height of last tergite, without notch and nodus apically, swollen basally.
Colour. Body yellowish-red . Mandible black apically  Apical part of antennal flagellum, hind tibia and tarsus reddish. Pterostigma brown. Fore wing very slightly infuscate apically.
Diagnosis: This species differs from other two members of Metopheltes by the following combination of character states: first flagellomere shorter (3.0 times as long as wide) than in Metopheltes petiolaris (6.0 times as long as wide) and Metopheltes chinensis (4.0 times as long as wide clypeus); clypeus apically serrate; tentorial pits large; clypeus flat, very slightly separated from face by a shallow impression; posterior ocellus separated from eye by 2.5 times its maximum diameter (1.7 times in two other species; frontal carina between eye and antennal socket present; upper hind part of mesopleuron polished and smooth (Fpunctate in Metopheltes petiolaris); apical margin of middle tibia without distinct tooth similar to that on fore tibia; posterior hind tibial spur at least 11.0 times longer than maximum basal width (6.0–7.0 times inMetopheltes petiolaris); hind femur and tibia 4.8 and 7.0 times as long as wide, respectively, (10.0 and 11.0 times in Metopheltes petiolaris); tarsal claws shorter and pectinate with comparatively short teeth ; areolet petiolate; radius leaving pterostigma only little before its middle; propodeum more precipitous than in Metopheltes petiolaris, its carinae complete and strongly raised (except basal part of dorso-median longitudinal carina; only area apicalis defined in Metopheltes petiolaris and Metophelteschinensis; first metasomal tergite  0.4 times wider than long (0.6 times in Metopheltespetiolaris or Metopheltes chinensis chinensis); ovipositor without notch and nodus apically, (ovipositor with shallow notch and weak nodus in Metopheltes petiolaris
Etymology: The species epithet clypeoarmatus refers to the serrate apical margin of the clypeus.
Distribution: Bắc Việt Nam.
Theo Biodivers Data J. 2014; (2): e1061
Phiên bản cuối cùng có thể tìm thấy ở đây: 

31/12/2013

Bẩy loài bọ cánh cứng mới ở Cao Bằng và Ninh Bình

 
Loài Coomaniella lingafelteri Jendek & Pham, 2013: 1 (con đực), 4 (con cái); Loài Coomaniella tarsalis Jendek & Pham, 2013: 2 (con đực), 5 (con cái); Loài Coomaniella communis Jendek & Pham, 2013: 3 (con đực), 6 (con cái). Ảnh ZFMK
Trong khuôn khổ hợp tác nghiên cứu về đa dạng côn trùng giữa Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam với Viện Smithsonian, Bảo tàng lịch sử tự nhiên, Washington, Hoa Kỳ, TS. Phạm Hồng Thái cùng các nhà khoa học vừa công bố 7 loài cánh cứng mới cho khoa học ở miền Bắc Việt Nam.
Các loài cánh cứng mới này thuộc giống Coomaniella Bourgoin, 1924, họ Đầu bằng – Buprestidae, bộ Cánh cứng - Coleoptera và được đặt tên khoa học như sau: Coomaniella lingafelteri Jendek & Pham, 2013; Coomaniella tarsalis Jendek & Pham, 2013; Coomaniella communis Jendek & Pham, 2013; Coomaniella copipes Jendek & Pham, 2013; Coomaniella calcarata Jendek & Pham, 2013; Coomaniella simulatrix Jendek & Pham, 2013; Coomaniella brevicornis Jendek & Pham, 2013.