Zingiberaceae

Các loài thực vật mới cho khoa học phát hiện ở Việt Nam 2014

Nycticebus pygmaeus

Buôn bán động vật hoang dã ở Việt Nam.

Ex-situ conservation of Xanthocyparis vietnamensis

Bảo tồn chuyển vị loài Bách vàng ở Hà Giang. Photo by Pham Van The.

Hoya longipedunculata

Cẩm cù cuống dài, loài mới 2012 ở Quảng Nam, Việt Nam. Photo by Pham Van The.

Forest fired

Cháy rừng Khộp, nguyên nhân suy thoái Đa dạng sinh học.

Taxus wallichiana var. chinensis

Thông đỏ bắc, loài trong Sách đỏ Việt Nam, phân bố miền Bắc. Photo by Pham Van The.

Ovophis monticola

Rắn lục núi, loài bị đe đoạ cấp R, phân bố Tây Bắc - Việt Nam.

Paphiopedilum canhii

Lan hài cảnh, loài đứng bên bờ vực tuyệt chủng, phân bố Việt Nam, Lào

Showing posts with label Laos. Show all posts
Showing posts with label Laos. Show all posts
21/05/2015

Hội nghị Thực vật chí Việt Nam, Lào, Capuchia lần 3: Botanical Research in Tropical Asia - 2015

Botanical Research in Tropical Asia 7-11/12/2015

This congress follows the two last symposia on the “Flore du Cambodge, du Laos et du Vietnam”, held in Phnom Penh (2008) and in Hanoi (2010), and widens its horizons to include all of Tropical Asia.

10/04/2015

Hai loài Chân kép mới ở Lào và mô tả lại bốn loài ở Việt Nam

Hai loài chân kép (Cuốn chiếu) mới cho khoa học là Desmoxytes rhinoceros và Desmoxytes rhinoparva phát hiện ở Nam và Bắc Lào đã được các nhà khoa học Thái Lan và Nga mô tả và minh hoạ, và vừa được công bố trên tạp chí Zootaxa 3931 (4): 483–504.

Desmoxytes enghoffi Nguyen et al. 2005, từ Quảng Bình
07/04/2015

Loài chuồn chuồn mới Devadatta kompieri ở miền Bắc Việt Nam

Một loài chuồn chuồn kim mới có tên khoa học Devadatta kompieri vừa được công bố trên tạp chí Zootaxa (số 3941 (3): 414-420) từ Tú Lệ, huyện Mù Cang Chải tỉnh Yên Bái miền Bắc Việt Nam.
30/12/2014

Phân bố và Sinh cảnh của Chuột đá lào

Chuột đá Lào Laonastes aenigmamus chính là "hoá thạch sống", là loài sống sót duy nhất của họ Diatomyidae được cho là đã tuyệt chủng. Chúng được phát hiện và công bố vào năm 2005 tại Lào bởi các nhà khoa học Jenkins, Kilpatrick, Robinson và Timmins. Khi đó chúng chỉ được tìm thấy tại khu vực núi đá vôi nhỏ của tỉnh Khăm Muộn.
14/12/2014

Loài động vật có vú mới phát hiện ở Sơn La

Loài động vật có vú mới này được phát hiện mẫu chuẩn tại Sơn La - Việt Nam. Chúng vừa được các nhà khoa học Nga công bố trên tạp chí ZooKeys với tên khoa học là Chiromyscus thomasi. Đây là một loài chuột cây và có phân bố khá rộng từ miền bắc đến miền trung Việt Nam.
02/12/2014

Loài Dơi mới phát hiện ở Việt Nam và Lào

Loài Dơi muỗi Hypsugo dolichodon phát hiện tại tỉnh Attapư (Attapeu) nam Lào  Vườn Quốc gia Cát Tiên ở nam Việt Nam vừa được mô tả mới cho khoa học.

24/11/2014

Loài thông mới phát hiện tại biên giới Việt – Lào

Trước đây, một loài thông 5 lá mọc ở khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha – Sơn La đã từng bị định loại nhầm là Thông trắng trung quốc (Pinus armandii) hoặc Thông trắng hải nam (Pinus fenzeliana)

06/11/2014

Thực vật không diệp lục mới cho thế giới ở Nghệ An

Một loài thực vật dị dưỡng cộng sinh nấm không diệp lục vừa được công bố mới cho thế giới phát hiện từ Việt Nam. Đây là kết quả của các đợt điều tra nghiên cứu thực vật ở Việt Nam do Hội Địa lý Hoa Kỳ tài trợ cho nhóm các nhà khoa học gồm Leonid Averyanov (Viện Thực vật Komarov, Nga), Nguyễn Sinh Khang (Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật) và Nguyễn Tiến Hiệp (Trung tâm bảo tồn thực vật Việt Nam).
07/09/2014

Lan hài cảnh ở núi đá vôi Phachao, bắc Lào

Ảnh: Khu vực phân bố của Lan hài cảnh Paphiopedilum canhii ở Lào và Việt Nam.
(BiodiVn) Trong năm 2011-2013 chúng tôi đã có các đợt khảo sát sự phân bố cũng như tình trạng bảo tồn của loài Lan hài cảnh Paphiopedilum canhii tại Lào. Đặc biệt chúng tôi đã phát hiện được những quần thể nguyên sinh Lan hài cảnh tại khu vực núi đá vôi Phachao, bắc Lào
24/08/2014

Loài mới "Tỏi đá khang" phát hiện ở Sơn La

Chùm hoa Tỏi đá khang Tupistra khangii tự nhiên. Ảnh Nguyễn Sinh Khang.
(BiodiVn) Các nhà thực vật Việt Nam là TS. Nguyễn Tiến Hiệp (Trung tâm Bảo tồn thực vật Việt Nam - CPCV) và Nga là GS.TS Leonid Averyanov và những người khác vừa mô tả một loài thực vật mới cho khoa học phát hiện tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha - Sơn La. Loài thực vật mới này có tên Tỏi đá khang Tupistra khangii thuộc họ Thiên môn đông Asparagaceae. Công bố này vừa được đăng tải trên tạp chí Phytotaxa tập 175 (5), trang 287–292. Đây là một phần kết quả của dự án "Khám phá những cánh rừng nguyên sinh dọc theo tuyến đường Hồ Chí Minh cho mục đích bảo tồn bền vững (giới hạn các tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An)" được tài trợ bởi Hội Địa lý Hoa Kỳ. (Exploration of primary woods along constructed highway Hanoi - Ho Chi Minh for their sustainable conservation (in limits of Ha Tinh and Nghe An provinces of central Vietnam).

03/08/2014

Cá cóc sần lào Tylototriton notialis hiếm ở Pù Hoạt

 
Cá cóc sần lào Tylototriton notialis, nhìn từ trên xuống. Ảnh do Lê Văn Nghĩa cung cấp
BiodiVn vừa nhận được một số hình ảnh của một loài cá cóc sần do ông Lê Văn Nghĩa (Phó phòng Kho học - Hợp tác Quốc tế, khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Pù Hoạt) gửi. Được biết loài cá cóc này do Ban Quản lý (BQL) khu BTTN phát hiện tại khu vực tiểu khu 101 (xã Nậm Giải, huyện Quế Phong, Nghệ An). Ông Nguyễn Danh Hùng (Giám đốc kiêm Hạt trưởng Hạt Liểm lâm, BQL khu BTTN Pù Hoạt) cho biết thêm chúng được tìm thấy tại các vũng nước đọng hoặc khu vực nước tĩnh tại rừng nguyên sinh nơi có độ cao chừng 500 m so với mực nước biển. 

30/07/2014

Thêm loài Cẩm cù rừng mới Hoya lyi cho Việt Nam

Cẩm cù ly Hoya lyi nở hoa trong tự nhiên. Ảnh Chu Xuân Cảnh (Click vào ảnh để xem hình gốc)
(BiodiVn) Vào cuối tháng 6, 2014 tôi có nhận được vài bức ảnh của TS. Leonid Averyanov (Viện Thực vật Komarov, Nga), anh Nguyễn Sinh Khang (Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Việt Nam) và anh Chu Xuân Cảnh (một người chơi Lan tài tử ở Hội Lan Tràng An) về môt loài Cẩm cù rừng lạ của Việt Nam. Những bức ảnh này làm tôi khá bất ngờ và nghi ngờ đây là loài Cẩm cù chưa từng được ghi nhận ở tự nhiên Việt Nam, thậm chí có thể là một loài mới cho khoa học. 

12/07/2014

Thằn lằn mới cho khoa học từ Lào: Cyrtodactylus vilaphongi




 

Hình ảnh nhìn chếch loài Thằn lằn vi-la-phông  Cyrtodactylus vilaphongi từ hai mẫu khác nhau. (Dorso-lateral view of (A) the holotype of Cyrtodactylus vilaphongi sp. nov.(IEBR A.2013.103) and (B) the paratype (NUOL R-2013.5) in life from Luang Prabang Province, Laos.) Photos by T. Q. Nguyen.
Mô tả loài động vật mới Thằn lằn vi-la-phông cho thế giới từ Lào
(BiodiVn)-Tạp chí Zootaxa tập 3835 (số 1, trang 080–096, 9 tháng 7 năm 2014) vừa công bố một loài Thằn lằn mới cho khoa học được phát hiện từ Luông Pra-băng, Lào. Loài mới có tên là Thằn lằn vi-la-phông  Cyrtodactylus vilaphongi (Squamata: Gekkonidae) được đặt tên theo tên ông Vilaphong Kanyasone - nhân viên Tài nguyên thiên nhiên và Môi trường tỉnh Luông Pra-băng, Lào. 
Loài mới Thằn lằn vi-la-phông có thể được phân biệt với tất cả đồng loại trên cơ sở của sự kết hợp các đặc điểm sau đây: chiều dài mình tối đa 86,1 mm SVL, vảy môi trên 9 hoặc 10; vảy môi dưới 7-9; vảy lưng 15 hoặc 16 hàng tại phần giữa cơ thể; vảy bụng 34-36 tại phần giữa cơ thể. 
Thằn lằn vi-la-phông  Cyrtodactylus vilaphongi có màu da đen - nâu với các hàng vảy trắng trên cơ thể. Chúng được Nguyễn Quảng Trường (Viện Sinh thái và TNSV), Lê Đức Minh (ĐHQGHN) và các nhà khoa học nước ngoài tìm thấy tại khu vực rừng thứ sinh đá vôi ở độ cao chừng 600 m so với mực nước biển ở Luông Pra-băng, Lào. Chúng hoạt động vào ban đêm ở vỏ các thân cây và vách đá. Hiện tại chưa tìm thấy khu phân bố thứ hai của loài này. 

Sinh cảnh núi đá vôi loài Thằn lằn vi-la-phông  (Cyrtodactylus vilaphongi. General vegetation type of the karst forest (A) and biotope (B) of Cyrtodactylus vilaphongiin Luang Prabang Province, Laos). Photos T. Q. Nguyen.

A new species of Cyrtodactylus (Squamata: Gekkonidae) from the karst forest of northern Laos

NICOLE SCHNEIDER, TRUONG QUANG NGUYEN, MINH DUC LE, LIPHONE NOPHASEUD, MICHAEL BONKOWSKI, THOMAS ZIEGLER

Abstract. We describe a new species of the gekkonid genus Cyrtodactylus on the basis of two specimens collected from limestone forests of Luang Prabang Province, northern Laos. Morphologically, the new species is distinguishable from its congeners by a combination of the following diagnostic characters: maximum SVL 86.1 mm; supralabials 9 or 10; infralabials 7–9; dorsal tubercles in 15 or 16 rows at midbody; ventral scale rows 34–36 at midbody; precloacal groove absent; femoral scales not distinctly enlarged; precloacal pores absent in females (unknown in males); subdigital lamellae under the fourth finger 18 or 19, under the fourth toe 18–20; subcaudals not transversally enlarged; dorsal bands white, 4 or 5 between limb insertions plus another one between hind limbs; tail banded. Based on molecular analyses, the new species is clustered in the same clade with C. wayakonei and two other species from Luang Prabang and Houaphan provinces.


Khu phân loài Thằn lằn vi-la-phông  Cyrtodactylus vilaphongi được chấm đen trên bản đồ. (Type locality (black dot) of Cyrtodactylus vilaphongiin Luang Prabang Province, Laos.)

Cyrtodactylus vilaphongisp. nov. 
Holotype. IEBR A.2013.103, adult female, collected by Truong Quang Nguyen and Vilaphong Kanyasone on 16 August 2013, near Ban Xieng Muak (19o48.772’N, 102o06.181’E, elevation 597 m), Luang Prabang District, Luang Prabang Province, Laos. 
Description of the holotype. Adult female, SVL 86.1 mm, tail regenerated (TL 61.2 mm); rostral square-shaped, wider than high (RW 4.1 mm, RH 2.4 mm), medially with a straight, vertical suture, in contact with nasorostral, nare, and first supralabial on each side; supralabials 9 or 10; supralabials separated from orbit by 3 or 4 rows of scales; nares in contact with rostral, nasorostral, supranasal, two postnasals, and first supralabial; internasals absent; scales on snout distinctly larger than on upper head; loreal region slightly upraised; scales between fifth supralabials across the dorsal head surface in 30 rows; scales between anterior corners of eyes 32; interorbital region with small, round, convex scales, outer ones more oval; scales in postorbital region distinctly smaller (ca. half the size) than snout scales, round and convex, interrupted by a few small tubercles, in 3 or 4 rows laterally; dorsal surface of head without enlarged tubercles; pupil vertical; spinous ciliaria absent; ear opening vertical, oval; mental triangular, slightly narrower than rostral (MW: 3.6 mm), in contact with two postmentals and the first infralabial on each side; infralabials 8 or 9; postmentals surrounded by first infralabial on each side and six granular scales posteriorly, two outer ones enlarged; gular scales granular.
Dorsal scales small; dorsal tubercles in 15 longitudinal rows at midbody, separated from each other by 2 or 3 dorsal scales and surrounded by 9–11 granular scales; tubercles on flanks slightly smaller than dorsal tubercles; ventrolateral folds slightly developed, with tubercles; ventral scales round, imbricated, 2 or 3 times larger than gular and throat scales, twice the size of dorsal scales; ventral scales 34, plus 122 dorsal scales around midbody; scales between mental and cloacal slit 165; dorsal surface of limbs with tubercles, distinctly higher counts on hind limbs; distinctly enlarged femoral scales absent; fingers and toes free of webbing; relative finger lengths I<V<II<IV<III, relative toe lengths I<II<V<IV<III; claw bordered by two scales; subdigital lamellae: finger I 15 (with 3 basally broadened lamellae), finger II 14–16 (4), finger III 18 (5), finger IV 18 or 19 (5), finger V 18 (5), toe I 14 or 15 (3), toe II 17 or 18 (4 or 5), toe III 19 (5), toe IV 18 or 19 (5 or 6), toe V 20 or 21 (5 or 6); precloacal depression absent; precloacal pores absent; enlarged precloacal scales 5, in one row; adjoining scales in precloacal region twice the size of femoral scales or ventrals; postcloacal tubercles 2 on each side, well developed; dorsal tail base with tubercles, regenerated part without tubercles or whorls; subcaudals of original part of tail not transversally enlarged.
Coloration in life: Dorsal head dark brown, marbled in light yellow; each side with a blackish brown stripe stretching from the posterior corner of the eye to the neck, connecting with the neck band on the right side, interrupted on the left side; irregular dark blotches with light margins present between eyes, on occiput and on postorbital region; ciliaria bright yellow; iris yellowish brown, pupil slit edged in orange; neck band blackish brown, widened posteriorly, edged in yellow anteriorly and posteriorly; ground color of dorsum blackish brown with five transverse yellowish white bands between limb insertions; flanks and upper limbs with yellowish white spots, in irregular rows; tail base dark brown with a white band, regenerated part uniformly dark brown; ventral 
surface light beige.
Distribution. Cyrtodactylus vilaphongiis currently known only from the type locality in Luang Prabang Province, Laos (Fig. 5).
Etymology. The new species is named in honour of Mr. Vilaphong Kanyasone, a staff of Provincial Natural Resources and Environmental Office of Luang Prabang Province, Laos, who collected the holotype and provided a great support for our field research in Laos. 
Ecological notes. Cyrtodactylus vilaphongiinhabits disturbed secondary limestone forest near a residential area at elevations between 577 and 597 m a.s.l. Specimens were found at night, on karst cliff and rock boulder ca. 0.5 m above the ground (Fig. 6). Air temperature at the site was 24–30 oC and humidity ranged from 72 to 86%.
References: 2014 Magnolia Press, Zootaxa 3835 (1): 080–096
11/07/2014

Loài mới cho khoa học từ Lào "Hemiphyllodactylus kiziriani"


Thạch sùng dẹp ki-zi-ri-an: A - hình ảnh nhìn chếch con đực, B - hình ảnh nhìn chếch con cái. Latero-dorsal view of the male holotype of Hemiphyllodactylus kiziriani sp. nov.(IEBR A.2014.3) (A) and the female paratype (NUOL R-2014.2) from Luang Prabang Province, Laos. Photos T.Q. Nguyen.

 New Species from Laos Hemiphyllodactylus kiziriani (Reptilia: Gekkonidae)

(BiodiVn)-Tạp chí Zootaxa tập 3827 (số 1, trang 045–056, 2 tháng 7 năm 2014) vừa công bố một loài Thạch sùng mới cho khoa học được phát hiện từ Luông Pra-băng, Lào. Loài mới được đặt tên theo tên TS. David A. Kizirian, ở Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Hoa Kỳ nhằm vinh danh những đóng góp khoa học của ông ở vùng Đông Dương. Thạch sùng dẹp ki-zi-ri-an Hemiphyllodactylus kiziriani có chiều dài mình con đực là 35.1–40.1 mm, con cái là 36.3–40.8 mm, có màu  da nâu đen lẫn trắng. 


Thạch sùng dẹp ki-zi-ri-an được các nhà khoa học Nguyễn Quảng Trường (Viện Sinh thái và TNSV), Lê Đức Minh (ĐHQGHN) và các nhà khoa học nước ngoài tìm thấy tại khu vực rừng thứ sinh đá vôi ở độ cao chừng 600 m so với mực nước biển. Chúng hoạt động vào ban đêm ở vỏ các thân cây và vách đá. Hiện tại chưa tìm thấy khu phân bố thứ hai của loài này.

Nơi phân bố của Thạch sùng dẹp ki-zi-ri-an ở Luông Pra-băng được chấm đen trên bản đồ. Type locality (black circle) of Hemiphyllodactylus kizirianiin Luang Prabang Province, Laos. Photo T.Q. Nguyen et al. 2014.

A new species of Hemiphyllodactylus (Reptilia: Gekkonidae) from northern Laos
Truong Quang Nguyen, Andreas Botov, Minh Duc Le, Liphone Nophaseud, George Zug, Michael Bonkowski, Thomas Ziegler
Abstract. A new species of the genus Hemiphyllodactylus is described from Luang Prabang Province, northern Laos. Hemiphyllodactylus kiziriani sp. nov. is distinguished from the remaining congeners by morphology, coloration, and a significant genetic divergence of greater than 20% (ND2 gene). The new species from Laos is characterized by the following features: SVL of adult males 35.1–40.1 mm, of adult females 36.3–40.8 mm; dorsal scale rows 18–27; ventral scale rows 11–15; chin scales bordering mental and first infralabial distinctly enlarged; digital lamellae formulae 3-4-4-4 (forefoot) and 4-4/5-4/5-4 (hindfoot); femoral pores 0–4, total precloacal pores 10–13 in males, 8–10 pitted precloacal scales in females; cloacal spurs present in both sexes; dorsal trunk pattern dark brown with two rows of irregular transverse bands; dark lateral head stripe distinct; upper zone of flank with a dark brown stripe; caecum and gonadal ducts unpigmented.
Hemiphyllodactylus kiziriani sp. nov.
Holotype. IEBR A.2014.3, adult male, collected by Truong Quang Nguyen, Nicole Schneider, and Liphone Nophaseud on 10 August 2013, on limestone wall of a small cave (19o48.708’N, 102o06.188’E, 637 m a.s.l. elevation), near Ban Xieng Muak Village, Luang Prabang District, Luang Prabang Province, Laos.
Description of the holotype. Body dorsolaterally flattened, size small SVL 40.1mm, tail regenerated (TaL 19+11.8 mm), trunk length (TrunkL) 19.7mm, head slightly longer than wide (HeadL 7.4mm, HeadW 6.7mm), eye moderate (EyeD 2.7mm), ear opening oblique (EarD 0.8mm), nare-eye length (NarEye 3.2mm), snout-eye length (SnEye 4.2mm), internarial distance (SnW 1.7mm). Proportions: TrunkL/SVL 49.1%, HeadL/SVL 18.5%, HeadW/SVL 16.7%, HeadW/HeadL 90.5%, SnEye/HeadL 56.8%, NarEye/HeadL 43.2%, EyeD/HeadL 36.5%, SnW/HeadL 23%, EyeD/NarEye 84.4%, SnW/HeadW 25.4%. Scalation. Rostral very large, wider than high (rostral width 1.7mm, rostral height 0.9mm), with a shallow, but distinct suture; supralabials 11/11, enlarged from rostral to below eye, smaller in subocular rictus; nare in contact with rostral, first supralabial, supranasal, and two nasals posteriorly on each side; supranasals separated from each other by three small granular internasals; snout flat, covered by granular scales; pupil vertical; ear opening oblique, oval, approximately 29.6% of the eye diameter, without bordering enlarged scales; mental triangular, wider than long; infralabials 10/10; three enlarged postmentals, outer ones distinctly larger than the middle scale, in contact with mental and first infralabials anteriorly; nine chin scales, all enlarged and of same size; dorsal scale rows 21–23 at midbody (contained within one eye diameter), enlarged tubercles absent, ventral scales larger than dorsal scales in 13 or 14 rows at midbody (contained within one eye diameter); dorsal surface of fore and hindlimbs covered with granular scales; terminal two phalanges free, claws absent on first finger, minute on first toe, present on second to fifth digit of fore and hindfoot; pads of digits II–V each with large triangular lamella, digital formula 3-4-4-4 (forefoot) and 4-4-5-4 (hindfoot); femoral and precloacal pore series continuous, 13 in total, asymmetrically arranged (femoral pores four on the left side, absent on the right side); cloacal spurs one; lamellae five on first fingers, five on first toes; dorsal caudal scales granular; subcaudals flat, slightly larger than dorsal caudal scales.
Coloration in preservative. Ground color of dorsal surface of head and body yellowish grey; two dark brown streaks originating from posterior corner of eye on each side, the upper one extending to the neck but not forming a nuchal loop, the lower one connecting with a dark dorsolateral stripe extending along the flank to tail base; a dark brown band present on neck; neck and dorsum with a row of vertebral light spots; two rows of narrow dark brown bands present along dorsum but not connected with each other; dorsal surface of limbs grey with dark bars; upper and lower lips with dark bars; distinct postsacral mark with middorsal dark brown spot, bordered posteriorly and laterally by an U-shaped arm which can extend to posterior edge of abdomen; dorsal tail base with dark bands, generated part of the tail dark grey; throat, venter, and precloacal region cream, outer area with small dark brown dots; caecum and testis white, unpigmented. For color and pattern in life see Fig. 2.
Etymology.We name the new species in honour of Dr. David A. Kizirian, American Museum of Natural History (New York, USA), in recognition of his contribution to herpetological research in the Indochina region. As common names we suggest Kizirian’s Slender Gecko (English), Kizirians Halbblattfingergecko (German), and Thạch sùng dẹp ki-zi-ri-an (Vietnamese).
Natural history. Hemiphyllodactylus kizirianiinhabits disturbed secondary limestone forests near a residential area at elevations between 590 and 640 m. Specimens were found at night on tree bark and limestone cliffs near cave entrances or on a limestone boulder near a forest path, ca. 0.2–1.2 m above the ground. Two female paratypes (IEBR A.2014.5, NUOL R-2014.2) were gravid with two shelled eggs each. 
Distribution.The species is currently known only from Luang Prabang Province in northern Laos 
References: Zootaxa3827 (1): 045–056 (2 Jul. 2014)
19/06/2014

Loài Cọ núi lào mới Trachycarpus ravenii từ bắc Lào

Cọ núi lào Trachycarpus ravenii. Ảnh Leonid Aver.
(biodivn.blogspot.com) Tạp chí Nordic Journal of Botany vừa công bố một loài cọ núi mới được phát hiện tại khu vực núi đá vôi miền Bắc nước Lào. Công bố này hiện vẫn đang ở phiên bản Xem trước (Early View), nghĩa là chưa có số tập, số trang nhưng về mặt nội dung thì có thể xem là phiên bản cuối cùng. Loài mới có tên Cọ núi lào Trachycarpus ravenii nhằm vinh danh GS. Peter Raven - Cựu Giám đốc Vườn Thực vật Mít su ri, Hoa Kỳ - với những đóng góp tài trợ kinh phí và tổ chức điều phát phát hiện rất nhiều loài mới từ vùng Đông Dương. Chi cọ núi Trachycarpus trên thế giới có khoảng 10 loài. Cọ núi lào Trachycarpus ravenii  có chiều cao chừng 6 m, mọc rải rác. Chúng có hình dạng khá đẹp, có giá trị về mặt tài nguyên cây cảnh cao. Phân bố của chúng là khu vực rừng thứ sinh, trảng cỏ, cây bụi với diện tích phân bố rất hạn chế, khoảng dưới 100km2. Với vùng xuất hiện ít như vậy nên Cọ núi lào Trachycarpus ravenii  được đề nghị xếp ở trình trạng bảo tồn Rất nguy cấp (Critically Endangered-CR), theo thứ hạng và hạng mục của Danh lục đỏ thế giới IUCN.

Trachycarpus ravenii sp. nov. (Arecaceae, Corypheae) from central Laos
Leonid V. Averyanov, Khang Sinh Nguyen, Tien Hiep Nguyen, The Van Pham and Shengvilai Lorphengsy
L. V. Averyanov (av_leonid@mail.ru), Komarov Botanical Inst., Russian Acad. of Science, Prof. Papov Srt. 2, RU-197376 St Petersburg, Russia. – K. S. Nguyen, Inst. of Ecology and Biological Resources, 18 Hoang Quoc Viet, Cau Giay, Ha Noi, Vietnam. – H. T. Nguyen, Center for Plant Conservation, no. 25/32, Lane 191, Lac Long Quân Rd, Nghia Dô, Cau Giay District, Ha Noi, Vietnam. – T. V. Pham, Inst. of Ecology and Biological Resources, 18 Hoang Quoc Viet, Cau Giay, Ha Noi, Vietnam. – S. Lorphengsy, National Science Council Dept, National Herbarium of Laos.
A new species Trachycarpus raveniidiscovered in Kasi district, Vientiane province of central Laos is described and illustrated. Morphologically, it is closest to T. oreophilusandT. princeps, but differs by having a shorter stem of mature plants; glabrous, dull green petiole; almost circular leaf blade, waxy bluish–white abaxially; narrow leaf segments with narrow free lobes densely adpressed to each other, as well as in oblique-round apices of median leaf segments.
Trachycarpus H. Wendl.
10 species. Nepal, Bhutan, northern India, southwestern China, Myanmar, northwestern Thailand, central Laos, northern Vietnam.
Trachycarpus ravenii Aver. & K. S. Nguyen sp. nov. (Fig. 1–2)
Etymology. This superb, kinglike tree is named after Prof. Peter H. Raven in recognition of the truly outstanding and essential role that this noble person has played in the organization and support of field botanical explorations and new species discoveries within unexplored areas of Indochina.
Cọ núi lào Trachycarpus ravenii. Ảnh Leonid Aver.
Description. Erect unbranched dioecious fan palm. Stem solitary, straight or slightly ascending, to 6 m tall and 15 cm in diameter, with few insignificant remnants of leaf sheaths near apex or entirely naked, ringed. Leaves (15)18–25(30), palmate, forming a compact, dense hemispherical to almost spherical crown; old, dry, marcescent leaves hang downward, form a dense, broad skirt embracing an almost naked trunk.  Leaf petiole slender, (40)45–55(60) cm long, triangular in cross section, 3.0–1.5 cm in diameter, glabrous, dull green, straight to slightly curved, at base strongly recurved, with few stiff, rigid, almost straight bristles; leaf sheaths rather short, fibrous; old sheaths forming a mass of interwo-ven fibers, fibers at apex of sheath on younger leaves form-ing a short ocrea; petiole margins with very small blunt teeth to almost unarmed. Leaf blade semicircular to almost circular in outline, 0.7–1.0 m long and wide, dark green adaxially, waxy bluish–white abaxially, divided to about half of their length into 50–60 stiff segments; hastula triangular-ovate, obtuse, 2.2–3.0 cm long and wide, with entire, light yellowish–brown, coriaceous margin. Leaf segments arranged in one plane, producing a nearly flat leaf profile, conduplicate, 1.5–2.0 cm wide, their lobes densely adpressed to each other toward the apex; apex of lobes bi-lobulate, lobules acute to strongly oblique round-ish, often with small reflexed seta placed between lobules; secondary veinlets parallel, transverse veinlets almost invisible. Inflorescences (1)2–5(6), interfoliar. Male inflo-rescences with short peduncle, erect, 0.3–0.5 m long, oval in cross section, 8–12 cm wide, enveloped at base by 3–4(5) bracts, branched to 3–4 orders; rachillae 1–3 cm; inflorescence bracts base tubular, ovate, leathery, coriaceous, yellowish to chestnut-brown (when old), shortly hairy, concave, 20–30 cm long, (6)8–12 cm wide; flowers densely arranged, subsessile, white, not widely opening, globose, 2–3 mm in diameter, sepals ovate-triangular, 1.5–2.0 mm long, shortly connate at base; petals oblong-orbicular, twice as long as sepals; stamens 6, exceeding the petals; anthers bean-shaped, 1.2–1.4 mm long; pistillodes insignificant, less than half the length of stamens. Female inflorescences erect or spreading, robust, 0.8–1.2 m long, 15–20 cm wide, branched to 3 orders; rachillae 1–8 cm long; inflorescence rachis oval in section, with (4)6–8 broad sterile bracts; inflorescence bracts chestnut-brown, concave, coriaceous, 10–20(25) cm long, 5–8(10) cm wide; flowers solitary, subtended by minute triangular bracteoles. Old fruits brown to dull black, grooved, 1-seeded, almost globu-lar, 7–8(10) mm in diameter.
Ecology. Primary and secondary forests, secondary scrub and grass-lands on rocky highly eroded solid, crystalline limestone at elevations 1600–1800 m a.s.l., commonly on very steep cliffy rocky north-faced outcrops near mountain tops. Flowering in March to June and fruiting in September to October?
Sinh cảnh sống của Cọ núi lào Trachycarpus ravenii. Ảnh Leonid Aver.
Distribution. Central Laos, Vientiane province, Kasi district, Thong Mout and Namken villages. Local endemic.
Similar species. Discovered plant clearly differs from all previously known Trachycarpusspecies. Morphologically, it is more or less close to three species occurring in Indochina: T. geminisectus,T. oreophilusand T. princeps. Trachycarpus raveniidistinctly differs from T. geminisectusin having tall, naked (not densely furry) stems, a large number of leaves with a small insignificant leaf sheath and ocrea, large hastula and narrow leaf segments. The new species differs from T. oreophilusand T. princepsin having a much shorter stem on mature plants; a glabrous, dull green petiole; an almost circular leaf blade with waxy bluish–white abaxially; narrow leaf lobes with narrow free lobules densely adpressed to each other, as well as oblique-round apices of median leaf segments. A comparison of selected morphological and taxonomic features of Trachycarpus species native to Indochina is shown in Table 1.
Conservation status. A number of earlier studies confirmed that all Trachycarpus species apart from T. fortuneiare more or less seriously threatened and very close to full extinction in the wild  (Gibbons and Spanner 1998, Kholia 2009, Kholia and Rajbhawan 2010). All of these species were recorded as local endemics whose limited distribution may be caused by the widespread and nearly complete destruction of primary plant communities in their native ranges. Degradation of primary native habitats continues across the distribution of the genus and is the main factor of Trachycarpus species threathened status and extinction. This is true for the survival status of T. raveniias well. The estimated total known area of its distribution is less than 100 kmwith no more than 100 observed mature individuals tentatively qualifying this palm as ‘Critically Endangered’ (CR) according IUCN criteria B1, C2 ai, aii and D (IUCN 2012). Conservation of all populations of this relictual species represents the highest priority of nature protection activity in central Indochina. As a first step, T. raveniimay be effectively protected in-situ in suitable habitats within the highest limestone formations in Indochina–Phachao Mountain. Establishing a protected area at Phachao Mountain will also protect large stands of intact, upper elevation limestone forests containing a rich diversity of native endemic species. Trachycarpus raveniiis an attractive tree providing a unique characteristic to the upland limestone landscape of central Laos. (biodivn.blogspot.com).

Phiên bản cuối cùng có thể tìm thấy tại: Nordic Journal of Botany
 

15/06/2014

Loài lan mới ở bắc Việt Nam Gastrochilus kadooriei

Gastrochilus kadooriei Kumar, S.W.Gale, Kocyan, G.A.Fisch. & Aver. sp. nov. (Theo: Phytotaxa)

Phytotaxa 164 (4): 276–280 
Description: Lithophytic herbs, prostrate, apex ascending, 3–30 cm tall. Roots vermiform, slender, up to 10.0 cm long, 1.5–1.8 mm in diameter. Stem rarely branched, up to 30.0 cm tall, 1.5–2.0 mm in diameter, covered with sheathing leaf bases, green, glabrous, ridged and woody towards the base, herbaceous towards the apex; internodes of stem 5–6 mm long. Leaves alternate, distichous, green, ovate, 1.3–1.8 ×5.0–6.0 mm, margin finely serrate towards upper quarter; leaf apex aristate with a smaller lateral tooth on either side, median aristae 1.5–3.0 mm long, lateral teeth less than 1.5 mm long (teeth shorter in older leaves); leaf base amplexicaul, sometimes with tiny red-purple spot only on young shoots. Inflorescence a raceme, 1 or 2, pendulous, thick (1.5 mm in diameter) green, up to 1 cm long, 1–3-flowered; peduncle 9 mm long. Flowers 9 ×9 mm, pale yellow, petals and sepals with red-brown spots. Pedicel and ovary 5.0–5.2 mm long, green at base, reddish-green towards the apex. Sepals and petals 1-veined, margins entire, thicker towards middle; dorsal sepal obovate, 3.5 ×2.0 mm; lateral sepals obliquely obovate, 3.5 ×2.2 mm; petals obovate, 3.0 ×1.7 mm. Labellum 4.0–4.2 ×5.0 mm, glabrous; hypochile attached to the base of column wings, saccate, 4.2–4.5 ×3.0–3.5 mm, with an obscure median ridge giving a roughly scrotiform appearance from the front, ecallose, margin entire, reddish towards attachment with column, yellow elsewhere; epichile projecting forwards, triangular with rounded corners, slightly concave, around 1/3 the height of hypochile, 1.6 ×1.6 mm, yellow with some red-brown spots at the front. Column rounded at back, flat in front, 2.0 mm long, 1.4 mm thick, 1.6 mm wide; anther cap copular, with two chambers, trapezoid, 1.5 ×1.3 mm, with a beak on the front that partly covers the stipe; pollinarium 1.7–1.9 mm long; pollinia 2, yellow, bilobed, 0.6 ×0.5 mm, almost hemispheric with a depression at the centre; stipe elongate, obovate, 0.8 mm long; viscidium thicker and broader than the stipe, elliptic, 0.3 ×0.1 mm, sticky, yellowish; rostellum inverted L-shaped, 1.8 mm long, yellow, forked apically with rounded tips, arising from the centre of horseshoe-shaped clinandrum, hanging in front of the stigma without touching the stigmatic surface; stigma deeply seated, almost triangular in outline with rounded corners.
Habitat:—In Hong Kong, plants grow on moss-covered granite rocks and boulders in seasonal streams with leaves devoid of or with faint purple spots. In Vietnam, plants are found on limestone rocks and may reach up to 30 cm or more tall and, if in bright sunlight, have purple spots on the leaves. In both places, plants grow only loosely attached to the rock surface. As they are found near streams, they seem to be highly vulnerable to flash flooding.
Distribution:—Southwestern China (Yunnan), Hong Kong, Laos and Vietnam. The species is also likely to occur in intervening and adjacent areas. In addition to the Yunnan specimens cited above, we suspect that the image in Xu et al.(2009: 476, plate 695a) labeled as Gastrochilus pseudodistichus is probably referable to G. kadooriei. The growth habit, flower colour, and morphology of the stem/leaves are a close match for the species. There is one more photographic record of the species, Averyanov et al. HAL 8441(Averyanov pers. comm.), from Vietnam, Ha Giang, Yen Minh, Lao Va Chai, vicinity of Chi Sang village
Phiên bản chính thức có thể tìm thấy ở đây:  

Xem thêm: 
29/05/2014

Lan hài mới phát hiện từ Lào Paphiopedilum rungsuriyanum

Hình thái hoa Paphiopedilum rungsuriyanum. Nguồn Orchideen Journal
 Paphiopedilum rungsuriyanum được Olaf Gruss và cộng sự mô tả vào tháng 5-2014 dựa trên các mẫu cây trồng ở Thái Lan. Những cây trồng này được Niwat Rungroang - một nhà làm vườn Thái Lan - mua được tại một chợ của Thái Lan. Những cây này được lấy từ miền Bắc Lào và được công bố trên Orchideen Journal - Đức. Đây là loài lan hài rất đẹp và có kích thước nhỏ tương đương với loài Paphiopedium canhii - loài mới được phát hiện ở Bắc Việt Nam năm 2010 và cũng được tìm thấy tại Bắc Lào.
06/12/2013

Thực vật chí đại cương Đông Dương

Thực vật chí đại cương Đông Dương - Flora Generale de L'Indo-Chine (Vietnam + Laos + Cambodia) gồm 7 quyển (tome) do M.H. Lecomte chủ biên công bố từ năm 1907 đến năm 1942. Chú ý: files có dung lượng lớn lên đến gần 100MB/1 file
09/11/2013

Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam

 Flore du Camboge du Laos et du Vietnam: được công bố từ năm 1938 đến nay 2013 đã được 32 tập, và vẫn còn đang công bố tiếp
- Từ tập 1 đến tập 10: khoảng từ năm 1938 đến 1969: