Zingiberaceae

Các loài thực vật mới cho khoa học phát hiện ở Việt Nam 2014

Nycticebus pygmaeus

Buôn bán động vật hoang dã ở Việt Nam.

Ex-situ conservation of Xanthocyparis vietnamensis

Bảo tồn chuyển vị loài Bách vàng ở Hà Giang. Photo by Pham Van The.

Hoya longipedunculata

Cẩm cù cuống dài, loài mới 2012 ở Quảng Nam, Việt Nam. Photo by Pham Van The.

Forest fired

Cháy rừng Khộp, nguyên nhân suy thoái Đa dạng sinh học.

Taxus wallichiana var. chinensis

Thông đỏ bắc, loài trong Sách đỏ Việt Nam, phân bố miền Bắc. Photo by Pham Van The.

Ovophis monticola

Rắn lục núi, loài bị đe đoạ cấp R, phân bố Tây Bắc - Việt Nam.

Paphiopedilum canhii

Lan hài cảnh, loài đứng bên bờ vực tuyệt chủng, phân bố Việt Nam, Lào

Showing posts with label Lao Cai. Show all posts
Showing posts with label Lao Cai. Show all posts
23/01/2015

Sinh vật mới không ở đâu xa

TTO - Phát hiện trong vườn nhà mình có một cây lan lạ, anh Nguyễn Phong (Hà Nội) liên hệ với các chuyên gia về lan. Thật bất ngờ khi sau đó cây lan này được xác định là một loài mới...

Việc phát hiện loài mới không hề đơn giản vì chúng thường phân bố ở những nơi xa xôi hẻo lánh khó tiếp cận như nơi núi cao, rừng sâu, vực thẳm... Tuy nhiên đôi khi có những loài được phát hiện một cách rất tình cờ như từ một mẩu tin du lịch, tồn tại ngay trước mắt chúng ta như cây trồng trong vườn hoặc được bán đầy chợ. Có loài lại tình cờ được phát hiện... trong bảo tàng khi mẫu vật đã được lưu giữ hơn thế kỷ.
14/12/2014

Loài động vật có vú mới phát hiện ở Sơn La

Loài động vật có vú mới này được phát hiện mẫu chuẩn tại Sơn La - Việt Nam. Chúng vừa được các nhà khoa học Nga công bố trên tạp chí ZooKeys với tên khoa học là Chiromyscus thomasi. Đây là một loài chuột cây và có phân bố khá rộng từ miền bắc đến miền trung Việt Nam.
05/07/2014

Phát hiện hai loài Ruồi mới ở Lào Cai

(biodivn.blogspot.com) A.I. Shatalkin - một nhà côn trùng học ở Bảo tàng Động vật, Đại học Moscow, Nga - vừa mô tả và công bố 2 loài ruồi hai cánh mới cho khoa học được phát hiện từ tỉnh Lào Cai của Việt Nam trên tạp chí Russian Entomol. J. (Tập 23, số 2, trang 151–154; 2014). Theo đó hai loài  Ruồi hai cánh sa pa Chyliza gavryushini và Ruồi hai cánh hoàng liên Cypselosoma tibialis đều được thu mẫu từ vùng VQG Hoàng Liên, Lào Cai. Tuy nhiên, bài báo lại có sự nhầm lẫn khi chỉ địa danh này thuộc tỉnh Lai Châu.
Ruồi hai cánh sa pa Chyliza gavryushini có thân màu đen và cánh trong suốt, chiều dài cơ thể 5,3 mm, chiều dài cánh 5 mm. Ruồi hai cánh hoàng liên Cypselosoma tibialis có thân màu xám đen và cánh cánh trong suốt, chiều dài thân 3,2 mm, chiều dài cánh 2,9 mm. Chúng đều là những loài ruồi rất nhỏ. Tên tiếng Việt của hai loài này được đặt theo địa danh nơi đã thu được mẫu vật nghiên cứu. (biodivn.blogspot.com) 

Bài đăng gốc với những thông tin sau đây có thể được tìm thấy tại nhà xuất bản.
RUSSIAN ENTOMOLOGICAL JOURNAL, 2014, 23(2):151–154
Chyliza gavryushini sp.n. (Psilidae) and Cypselosoma tibialis sp.n. (Cypselosomatidae) — two new dipterous species from Vietnam
A.I. Shatalkin
ABSTRACT. The following 2 new species are de-scribed from Vietnam:Chyliza gavryushinisp.n. (Psil-idae) and Cypselosoma tibialissp.n. (Cypselosomati-dae). Types of new species are deposited in collection of Zoological Museum of Moscow University (ZMUM)

28/06/2014

Chuồn chuồn quên lãng Indocypha neglecta ở Lào Cai

Hình 1-2. Chuồn chuồn quên lãng Indocypha neglecta sp. nov. đực; (1) xem lưng; (2) xem bên. các 
tác phẩm nghệ thuật cho thấy mẫu chuẩn đầu tiên, nhưng hình dạng của S6-S10 và phụ hậu môn là một xây dựng lại dựa trên các phân đoạn bị hỏng của mẫu chuẩn đầu tiên và một nghiên cứu về paratypes. Tác phẩm của Albert G. Orr.
(biodivn.blogspot.com) Loài Chuồn chuồn quên lãng Indocypha neglecta (Odonata: Chlorocyphidae) được thu mẫu cách đây hơn 120 năm và lưu giữ lại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia (MNHN), Pari, Pháp. Khu vực thu mẫu ở miền bắc, tại khu vực núi cao "Song-Chai", địa danh này có thể là Sông Chảy ở Lào Cai. Hơn 100 năm trước, René Martin có viết một bản nháp về loài này, nhưng sau đó thì bản thảo đã không được chú ý và lãng quên trong một thời gian dài. Năm 2012, Matti Hämäläinen ở Trung tâm Đa dạng Sinh học Tự nhiên Hà Lan đã mô tả và công bố trên tạp chí Odonatologica (Tập 43(1/2, trang 79-90) hồi tháng 6 năm 2014. Tên loài Chuồn chuồn quên lãng Indocypha neglecta được đặt tên do mẫu vật bị quên lãng quá lâu, hơn một thế kỷ (biodivn.blogspot.com).

Hình 3. Chuồn chuồn quên lãng Indocypha neglecta sp. nov. cánh con đực trưởng thành. Ảnh Odonatologica, 2014
Male (holotype) (Figs 1–3) 
Head – Labium black. Base of mandibles black with chrome yellow patch on outer half. Labrum black. Anterior surface of rhinarium black with lat-eral edges pale brownish in lower half. Posterior surface of rhinarium black. Frons, vertex and occiput black with six small, yellow spots as follows: two round spots between the antennae, a narrow, oblong spot beside each lat-eral ocellus and heart-shaped spots on either side of the vertex. Antennae black, outer surface of apical half of pedicel yellow. Genae with narrow yel-low stripe extending to level of lateral ocelli, the stripe being broader below scape of antennae. 
Thorax – Prothorax largely black with yellow markings as follows: narrow stripe on anterior lobe; middle lobe with pair of tiny round, closely set spots medially and larger spots on sides; hind lobe narrowly bordered with yel-low, and with narrow longitudinal stripe medially. Synthorax black with yel-low stripes or spots as follows. Collar with two separate triangular spots at each side. Mid-dorsal carina narrowly yellow. Very narrow antehumeral and humeral stripes, the antehumeral stripe developed only in anterior half of mesepisternum, with a tiny separate transverse stripe near antealar trian-gle. Metepisternum with band of variable width, nearly cut in two at about the level of the spiracle, narrowing to a point well before the wing base; a separate narrow stripe along upper part of lateral suture near the wing base, continuing briefly at a sharp angle posteriorly along dorsal margin. Metepimeron with stripe in apical half, narrowing anteriorly. Ventral side of thorax black, posterior border of poststernum yellow. 
Legs – Black, except for the inner surface of middle and hind tibiae largely whitish and for small yellow lateral spots on hind coxae.
Wings (Fig. 3) – Entirely hyaline. Antenodals (Ax, first series) number 13 in Fw and Hw; postnodals (Px) 17–20 in Fw and 15–17 in Hw. Arculus slightly proximal to the level of Ax 3. Quadrangle with two or three cross-veins. 1A arises distinctly proximal to Ax1 in Fw and less markedly proxi-mal to Ax1 in Hw. 1A meets wing margin at the level of Px3 in Fw and Px4 or Px5 in Hw. Intercalated vein present between CuP and MA, starting beyond nodus at the level of Px1 in Fw and between Px1 and Px2 in Hw. Rarising slightly distal to nodus. Pterostigma dark brown, covering 4–5 underlying cells. 
Abdomen – (In holotype S6–S10 are detached from the body and glued to a label. These segments are partly broken and the anal appendages are incom-plete). Dorsoventrally flattened, S3 being the broadest, thereafter gradually narrowing towards the apical segments. Predominantly black with yellow stripes and with reddish-orange dorsal areas as follows. S1 with distinct lat-eral yellow spot; S2–S7 with yellow lateral stripe, interrupted by segmen-tal rings. On S3–S6 lateral stripe broadest at base of each segment, slightly narrowing towards apex, on S6 stripe rather obscured. Dorsum of S2 with short, narrow, yellow spot mid-dorsally. Mid-dorsal carina on S3–S6 nar-rowly yellow, except at base and apex of each segment. Dorsum of S6 with obscure remnants of paler colour in the basal part of segment. S7 and S8 
wholly reddish-orange on dorsum and on sides. S9 and S10 entirely black. Anal appendages black. (Broken in holotype, but in paratypes superiors curving inwards distinctly. Inferior appendages curved slightly; over ½ of the length of the superiors). 
Measurements [mm] – Hind wing 26; abdomen (incl. appendages) ca 25. 
Hình 4-5. Chuồn chuồn quên lãng Indocypha neglecta sp. nov, paratype cái. (4) đầu, ngực và bụng, mặt bên; (5) bụng, xem lưng. Ảnh Odonatologica, 2014.
Female (Figs 4–5)
Head – Markings of head generally similar to male, but with pale stripes on anterior corners of frons.
Thorax – Colour pattern of thorax similar to that of male.
Wings – Hyaline. Antenodals (Ax, first series) number 12–15 in Fw and 12–14 in Hw; postnodals (Px) 16–19 in Fw and 13–16 in Hw. Arculus at the level of Ax 3 or slightly proximal to it. Quadrangle with 2 or 3 cross-veins. 1A arises distinctly proximal to Ax1 in Fw and less markedly proxi-mal to Ax1 in Hw. 1A meets wing margin at the level of Px2 (rarely 1) in Fw and Px3 or PX4 in Hw. Intercalated vein present between CuP and MA. R3 arising slightly distal to nodus. Pterostigma dark brown, the apical third or fourth paler.
Abdomen – Predominantly black with yellow dorsal and lateral stripes. The dorsal stripes are as narrow as in male, but are present also on S6 and S7. S1 with a distinct, yellow lateral spot; S2–S8 with yellow lateral stripe, inter-rupted by segmental rings; S9 with only narrow short lateral marking. On S2–S6 yellow stripe quite similar to male. S10 and anal appendages black.
Measurements [mm] – Hind wing 27.5–28.5; abdomen (incl. appendages) 20–21.
So sánh với các loài gần gũi (Differential diagnosis):
Hình 6-7. Đực của Indocypha Katharina; (6) xem lưng bụng của một mẫu vật từ Libo, Quý Châu, Trung Quốc; (7) ngực và bụng của một mẫu teneral từ Quảng Tây, Trung Quốc. Ảnh: Keith Wilson.
Males of svenhediniand catoptadiffer from the other Indocyphaspecies in the relative length of wings and abdomen. In these two species the hind wing is distinctly longer (5–6 and 3 mm, respectively) than the abdomen (incl. the appendages). In males of the other species listed above the hind wing is only about 1 mm longer than the abdomen. In this character neglecta belongs to the second group and therefore the males are not compared here with svenhediniand catopta. The male of neglectadiffers markedly from vit-tatain its colour pattern. In the mature male vittata(Fig. 8) the thorax is nearly uniform black and abdominal segments 3–6 are strikingly pale blue, the others being black. Invittatamale the abdomen is proportionally broad-er basally. The male ofneglectadiffers from that of katharina(Fig. 6) by its proportionally much slimmer abdomen and by the colour pattern; in ma-ture katharina the abdomen is largely pale orange-brown with S1–S3 and S9–S10 being black with paler markings of variable size. In teneral males of katharinathe pale colour of the abdomen is brighter (Fig. 7). The male of silbergliedi(Figs  9–10) is a clearly smaller (male Hw 22–22.5 mm and abdomen+app. 21–22.5 mm) than male neglecta, katharinaand vittata. The pale stripes on thorax of silbergliediare much broader than in neglectaand are pale green rather than yellow. The apical segments of abdomen are deep orange, the colour on S7–S8 resembling that in neglecta, but in silbergliedi the orange area covers also S9 and part of S10. The apical segments of silber-gliedi appear proportionally broader than neglecta, although the real shape of the neglecta abdomen is somewhat uncertain due to the poor preserva-tion of available specimens. 
Hình 8-10. Con đực của loài Indocypha, hình ảnh của cá thể tự nhiên. (8) I. vittata. Ảnh chụp bởi MH ở Kanchanaburi, Thái-đất, 03 tháng năm năm 1999; (9-10) I. silbergliedi. Hình ảnh được chụp bởi Chao Wu trong Menglun, Vân Nam, Trung Quốc, ngày 28 tháng 4 năm 2012. 
Female of neglectacan be easily separated from vittataand katharinaby the colour pattern of the abdomen. In vittata(Fig. 11) there are two rows of lateral stripes on the abdomen; in katharina(Fig. 12) and neglecta(Fig. 4) the ventrolateral line is missing. In katharina(Fig. 13) the middorsal pale markings are much broader, on S2–S4 often arrow-head shaped, whereas in neglecta(Fig. 5) the middorsal stripes are very narrow lines. The female of silbergliediis unknown. The female of svenhedini differs from the others by much its larger size (Hw 34.5 mm), in catoptafemale the colour pattern of abdomen is very different. For illustrations of females of these two species, see Zhanget al. (2010).
Hình 11-13. Con cái của loài Indocypha; (11) I. vittata, thể trạng, mặt bên, mẫu Kanchanaburi, Thái Lan; (12) I. Katharina, thể trạng, mặt bên, mẫu vật từ Libo, Quý Châu, Trung Quốc. Hình ảnh của Hào-miao Zhang; (13) I. Katharina, bụng, xem lưng, mẫu vật từ Libo, Quý Châu, Trung Quốc.  Ảnh Odonatologica, 2014. (biodivn.blogspot.com).
Tài liệu tham khảo: Odonatologica 43(1/2) 2014: 79-90
Phiên bản cuối cùng có thể được tìm thấy ở đây:  

09/11/2013

Ảnh đẹp và hiếm của Vân Sam Phanxipang - Abies delavayi subsp. fansipanensis

Để tiếp cận và chụp được ảnh của Vân Sam Phanxipang là điều không phải dễ dàng, ngay người viết bài này cũng chưa từng có cơ hội được làm điều đó.  Thật vinh hạnh và may mắn làm sao, GS. Phan Kế Lộc đã gửi tặng cho Blog những bức ảnh đẹp về cây này được chụp trong tự nhiên.