Zingiberaceae

Các loài thực vật mới cho khoa học phát hiện ở Việt Nam 2014

Nycticebus pygmaeus

Buôn bán động vật hoang dã ở Việt Nam.

Ex-situ conservation of Xanthocyparis vietnamensis

Bảo tồn chuyển vị loài Bách vàng ở Hà Giang. Photo by Pham Van The.

Hoya longipedunculata

Cẩm cù cuống dài, loài mới 2012 ở Quảng Nam, Việt Nam. Photo by Pham Van The.

Forest fired

Cháy rừng Khộp, nguyên nhân suy thoái Đa dạng sinh học.

Taxus wallichiana var. chinensis

Thông đỏ bắc, loài trong Sách đỏ Việt Nam, phân bố miền Bắc. Photo by Pham Van The.

Ovophis monticola

Rắn lục núi, loài bị đe đoạ cấp R, phân bố Tây Bắc - Việt Nam.

Paphiopedilum canhii

Lan hài cảnh, loài đứng bên bờ vực tuyệt chủng, phân bố Việt Nam, Lào

Showing posts with label Lai Chau. Show all posts
Showing posts with label Lai Chau. Show all posts
05/07/2014

Phát hiện hai loài Ruồi mới ở Lào Cai

(biodivn.blogspot.com) A.I. Shatalkin - một nhà côn trùng học ở Bảo tàng Động vật, Đại học Moscow, Nga - vừa mô tả và công bố 2 loài ruồi hai cánh mới cho khoa học được phát hiện từ tỉnh Lào Cai của Việt Nam trên tạp chí Russian Entomol. J. (Tập 23, số 2, trang 151–154; 2014). Theo đó hai loài  Ruồi hai cánh sa pa Chyliza gavryushini và Ruồi hai cánh hoàng liên Cypselosoma tibialis đều được thu mẫu từ vùng VQG Hoàng Liên, Lào Cai. Tuy nhiên, bài báo lại có sự nhầm lẫn khi chỉ địa danh này thuộc tỉnh Lai Châu.
Ruồi hai cánh sa pa Chyliza gavryushini có thân màu đen và cánh trong suốt, chiều dài cơ thể 5,3 mm, chiều dài cánh 5 mm. Ruồi hai cánh hoàng liên Cypselosoma tibialis có thân màu xám đen và cánh cánh trong suốt, chiều dài thân 3,2 mm, chiều dài cánh 2,9 mm. Chúng đều là những loài ruồi rất nhỏ. Tên tiếng Việt của hai loài này được đặt theo địa danh nơi đã thu được mẫu vật nghiên cứu. (biodivn.blogspot.com) 

Bài đăng gốc với những thông tin sau đây có thể được tìm thấy tại nhà xuất bản.
RUSSIAN ENTOMOLOGICAL JOURNAL, 2014, 23(2):151–154
Chyliza gavryushini sp.n. (Psilidae) and Cypselosoma tibialis sp.n. (Cypselosomatidae) — two new dipterous species from Vietnam
A.I. Shatalkin
ABSTRACT. The following 2 new species are de-scribed from Vietnam:Chyliza gavryushinisp.n. (Psil-idae) and Cypselosoma tibialissp.n. (Cypselosomati-dae). Types of new species are deposited in collection of Zoological Museum of Moscow University (ZMUM)

24/06/2014

Bổ sung 10 loài dương xỉ Polystichum cho Việt Nam

Hình 1. Polystichum auriculum Ching. Tọa độ (23°09'04''N 104°59'53''E, 850 m, 13/12/2013)

Trên thế giới chi Polystichum có khoảng 500 loài, phân bố chủ yếu ở các vùng ôn đới và cận nhiệt đới, phổ biến ở phía Nam và Tây Nam Trung Quốc, Himalaya, Nhật Bản và Việt Nam. Đây là một trong ba chi có số lượng loài nhiều nhất trong họ Dryopteridaceae. Ở Việt nam, chi Polystichum có khoảng 13 loài (P.H.Hộ 1999), 14 loài (DLTVVN 2003), 15 loài (P.K.Lộc 2010).

Cuối năm 2013, các nhà thực vật thuộc Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam (VNMN) đã phối hợp với các nhà thực vật thuộc Vườn Thực vật Mítsuri, Mỹ đã tiến hành khảo sát, nghiên cứu và thu thập mẫu dương xỉ tại các hang động vùng núi phía Bắc Việt Nam, đã phát hiện bổ sung 10 loài thuộc chi Polystichum cho hệ thực vật Việt Nam. Các loài đó là Polystichum auriculum Ching, Polystichum dangii P.S.Wang in Wang & Wang, Polystichum excellens Ching, Polystichum fimbriatum Christ, Polystichum liboenseP.S.Wang & X.Y.Wang, Polystichum minimum (Y.T.Hsieh) Li Bing Zhang, Polystichum mucronifolium(Blume) C.Presl, Polystichum nepalense (Sprengel) C.Christensen, Polystichum subacutidens Ching ex L.L.Xiang, và Polystichum xichouense (S.K.Wu & Mitsuta) Li Bing Zhang.

Kết quả nghiên cứu này đã được công bố trên tạp chí Phytotaxa số 164(2), 2014.

1. Polystichum auriculum Ching - Hình 1

Loài này phân bố ở các vách đá trong rừng lá rộng thường xanh, độ cao 850–1800 m, ở phía Tây Nam Trung Quốc. Khảo sát của chúng tôi đã phát hiện loài phân bố ở Vị Xuyên (Hà Giang).
 2. Polystichum dangii P.S.Wang in Wang & Wang- Hình 2,3
Loài này phân bố ở xung quanh miệng hang hoặc đường nứt của vách đá trong rừng, độ cao 700-800m. Loài mới chỉ được biết đến phan bố ở phía Nam Trung Quốc. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phát hiện loài này ở xã Quản Bạ (Hà Giang).
Loài này có đặc điểm đặc trưng lá dầy và nguyên (Wang & Wang 2001, Zhang & Barrington 2013).
duong-xi-Polystichum-dangii-1
Hình 2. Polystichum dangii P.S.Wang. Môi trường sống (23°07'57''N 104°55'44''E, 800 m, 10 tháng 12, 2013)
duong-xi-Polystichum-dangii-2
Hình 3. Polystichum dangii P.S.Wang. Mặt trên của phiến lá (23°07'57''N 104°55'44''E, 800 m, 10/12/2013) 
3. Polystichum excellens Ching- Hình 4
Loài phân bố rừng núi đá vôi, hay các hang động đá vôi, độ cao 780-1700m. Trước đây, mới chỉ gặp ở phía Nam Trung Quốc, chúng tôi thu được ở Nguyên Bình (Cao Bằng) và Yên Minh (Hà Giang).
Loài khá phổ biến ở phía Nam Trung Quốc, nhưng rất hiếm ở miền Bắc Việt Nam. Đôi khi loài nhầm lẫn với loài Polystichum subacutidens, nhưng loài Polystichum excellens có lá chét hình liềm hoặc dạng mác trong khi Polystichum subacutidens có lá chét thuôn dài.
duong-xi-Polystichum-excellens
Hình 4. Polystichum excellens Ching. Mặt dưới phiến lá (22°36'05''N 105°55'15''E, 780 m, 8/12/2013).
4. Polystichum fimbriatum Christ
Loài phân bố ở vách đá vôi trong rừng, ở độ cao 700-1100m. Mới chỉ biết phân bố ở phía Nam Trung Quốc. Qua phân tích mẫu vật tại phòng tiêu bản của Vườn Thực vật Mítsuri, Mỹ chúng tôi phát hiện loài này phân bố ở Trà Lĩnh (Cao Bằng). Loài rất hiếm và ít gặp ở Trung Quốc và Việt Nam, có đặc điểm phiến kép lông chim một lần, màu xanh đậm và dạng da.
5. Polystichum liboense P.S.Wang & X.Y.Wang – Hình 5
Loài này phân bố ở rừng núi đá vôi, ở độ cao khoảng 1000m, phân bố ở phía Nam Trung Quốc. Chuyến khảo sát của chúng tôi ghi nhận loài này ở Quản Bạ (Hà Giang).
duong-xi-Polystichum-liboense
Hình 5. Polystichum liboense P.S.Wang & X.Y.Wang. (22°36'05''N 105°55'15''E, 780 m, 8/12/2013) 
6. Polystichum minimum (Y.T.Hsieh) Li Bing Zhang – Hình 6
Loài phân bố ở trong rừng đá vôi, rất hiếm ở các hang động, ở độ cao 500-1500m. Mới chỉ gặp ở phía Nam Trung Quốc. Chúng tôi đã ghi nhận ở Vị Xuyên (Hà Giang). Loài này cho đến gần đây vẫn được gọi là Cyrtogonellum inaequale (Christ) Ching, nhưng hiện nay tên Polystichum minimum mới là danh pháp chính thức (Zhang 2012).
duong-xi-Polystichum-minimum
Hình 6. Polystichum minimum (Y.T. Hsieh) Li Bing Zhang. (22°50'40''N 105°07'47''E, 1100 m, 13/12/2013). 
 7. Polystichum mucronifolium (Blume) C.Presl
Loài phân bố dọc suối trong rừng, độ cao1600-2400m. Phân bố ở Đài Loan, Vân Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Mianma, Srilanka, Nepan, Thái Lan. Qua phân tích mẫu, chúng tôi đã xác định loài có phân bố ở tỉnh Kon Tum và Lâm Đồng.
8. Polystichum nepalense (Sprengel) C.Christensen
Loài phân bố trong rừng, ở độ cao 1500-3000m. Phân bố ở Trung Quốc, Ấn Độ, Nê Pan, Philíppin. Qua phân tích mẫu, chúng tôi xác định loài có phân bố ở Lai Châu.
9. Polystichum subacutidens Ching ex L.L.Xiang – Hình 7
Loài phân bố trong các rừng núi đá vôi, hang động trong rừng, ở độ cao 200-1500m. Mới chỉ biết loài phân bố ở phía Nam Trung Quốc. Khảo sát của chúng tôi đã xác định loài có phân bố ở Nguyên Bình (Cao Bằng), Vị Xuyên (Hà Giang) và mẫu vật của các nhà khoa học trước đây thu được tại Mộc Châu (Sơn La).
Loài Polystichum subacutidens có đặc điểm phiến lá hẹp, dài, lên tới 110 cặp lá chét (Zhang & Barrington 2013)
duong-xi-Polystichum-subacutidens
Hình 7. Polystichum subacutidens Ching ex L.L.Xiang. Mặt trên của phiến lá (22°51'25''N 105°06'01''E, 200 m, 12/12/2013). 
10. Polystichum xichouense (S.K.Wu & Mitsuta) Li Bing Zhang – Hình 8
Loài phân bố ở rừng đá vôi hoặc vách đá trong rừng rậm, độ cao khoảng 1700m. Loài mới chỉ được biết đến phân bố ở phía Nam Trung Quốc. Khảo sát của chúng tôi xác định loài này có phân bố ở Quản Bạ (Hà Giang).
duong-xi-Polystichum-xichouense
Hình 8. Polystichum xichouense (S.K.Wu & Mitsuta) Li Bing Zhang. Mặt trên của phiến lá (23°08'26''N 105°00'44''E, 1200 m, 11/12/2013).
Lữ Thị Ngân
Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam
Theo http://vnmn.ac.vn/
Phiên bản cuối cùng có thể được tìm thấy tại đây: 

05/11/2013

Tìm hiểu Sâm Lai Châu Panax vietnamensis var. fuscidiscus

Chi sâm Panax L. gồm có 15 loài và dưới loài, và hầu hết chúng là nguồn dược liệu cho y học cổ truyền như các loại Nhân Sâm, Nhân Sâm Hoa kỳ, Tam thất, Nhân Sâm Nhật bản và Sâm ngọc linh. Loài Sâm ngọc linh hay Sâm việt nam Panax vietnamensis được phát hiện tại núi Ngọc Linh của tỉnh Quảng Nam và là loài đặc hữu hẹp. Năm 2003, Zhu và cộng sự đã mô tả một thứ mới Sâm lai châu Panax vietnamensis var. fuscidiscus, bậc phân loại dưới loài của Panax vietnamensis. Thứ này được phát hiện tại vùng Jinping, phía nam của tỉnh Vân Nam - Trung Quốc.