Zingiberaceae

Các loài thực vật mới cho khoa học phát hiện ở Việt Nam 2014

Nycticebus pygmaeus

Buôn bán động vật hoang dã ở Việt Nam.

Ex-situ conservation of Xanthocyparis vietnamensis

Bảo tồn chuyển vị loài Bách vàng ở Hà Giang. Photo by Pham Van The.

Hoya longipedunculata

Cẩm cù cuống dài, loài mới 2012 ở Quảng Nam, Việt Nam. Photo by Pham Van The.

Forest fired

Cháy rừng Khộp, nguyên nhân suy thoái Đa dạng sinh học.

Taxus wallichiana var. chinensis

Thông đỏ bắc, loài trong Sách đỏ Việt Nam, phân bố miền Bắc. Photo by Pham Van The.

Ovophis monticola

Rắn lục núi, loài bị đe đoạ cấp R, phân bố Tây Bắc - Việt Nam.

Paphiopedilum canhii

Lan hài cảnh, loài đứng bên bờ vực tuyệt chủng, phân bố Việt Nam, Lào

Showing posts with label Kon Tum. Show all posts
Showing posts with label Kon Tum. Show all posts
25/08/2016

Bổ sung loài Lan tu mơ rông (Sunipia rimannii) cho Việt Nam

Trong đợt điều tra cây thuốc ở Kon Tum, chúng tôi có phát hiện loài Sunipia rimannii (H. G. Rchb.) Seid.. Người dân địa phương gọi loài này là Đại bao tu mơ rông. 
23/06/2015

Phát hiện khu phân bố mới cho loài Sồi ba cạnh quý hiếm ở Kon Tum

Trong chuyến điều tra thực vật tại tỉnh Kon Tum, các chuyên gia thuộc Viện Nghiên cứu Lâm Sinh – Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã phát hiện khu phân bố mới cho loài Sồi ba cạnh quý hiếm.
Quả Sồi ba cạnh, Ảnh Hoàng Thanh Sơn
24/12/2014

Loài Nhái cây mới phát hiện ở Tây Nguyên

Các nhà khoa học Việt Nam và Nhật Bản vừa công bố một loài nhái cây mới cho thế giới được phát hiện tại Tây Nguyên, Việt Nam.

14/12/2014

Loài động vật có vú mới phát hiện ở Sơn La

Loài động vật có vú mới này được phát hiện mẫu chuẩn tại Sơn La - Việt Nam. Chúng vừa được các nhà khoa học Nga công bố trên tạp chí ZooKeys với tên khoa học là Chiromyscus thomasi. Đây là một loài chuột cây và có phân bố khá rộng từ miền bắc đến miền trung Việt Nam.
17/08/2014

Thuần hoá và chăm sóc Cẩm cù rừng

 
Cẩm cù khô Hoya pachyclada - Loài phân bố chủ yếu ở các khu rừng khô ở Tây Nguyên Việt Nam. Ảnh Phạm Văn Thế
(BiodiVn) - Có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, hầu hết Cẩm cù (hay Hoya - còn gọi là Hoa sao) phát triển tốt trong nhà, trong khu vực được bảo vệ hay một nhà kính. Các cây Cẩm cù leo lên bằng rễ con, thân nhỏ, khi chưa được cắt tỉa chúng tạo thành một tấm thảm dày. Một số loài tạo được những giỏ đẹp. Việc chăm sóc Cẩm cù có thể tuân theo những kinh nghiệm chung như sau:
06/08/2014

Cẩm cù sậm (Hoya fusca) của rừng Tây Nguyên

Cận cảnh những bông hoa Cẩm cù sậm. Ảnh Phạm Đoàn Quốc Vương. (Click vào hình để xem ảnh gốc)
BiodiVn vừa nhận được một số ảnh của loài Cẩm cù sậm hay Cẩm cù tối màu Hoya fusca do anh Phạm Đoàn Quốc Vương ở Đắk Lắk gửi tặng. Theo anh Vương thì loài cẩm cù này được chụp ở Lâm Đồng và đây là loài khá phổ biến ở khu vực đó.

28/06/2014

Năm loài động vật mới Microhyla ở miền Nam

Loài Microhyla hiện được công nhận của Việt Nam (xem lưng bên, không thước, ngoại trừ: M. fuscaand M. nanapollexa được biết đến từ mẫu vật duy nhất không được hiển thị, về M. annamensis xem hình 3.): (A) M. berdmorei, cái trưởng thành từ Lò Gò - Xa Mát, tỉnh Tây Ninh, Việt Nam; (B) M. pulverata, đực trưởng thành từ Buôn Lưới, tỉnh Gia Lai, Việt Nam (topotype); (C) M. butleri, đực trưởng thành từ lâm nghiệp Lộc Bắc, tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam; (D) M. fissipes, đực trưởng thành từ lâm nghiệp Lộc Bắc, tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam; (E) M. heymonsi, đực trưởng thành từ lâm nghiệp Lộc Bắc, tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam; (F) M. pulchra, cái trưởng thành từ Lò Gò - Xa Mát, tỉnh Tây Ninh, Việt Nam; (G) M. picta, đực trưởng thành từ Bình Châu - Vườn Quốc gia Phước Bửu, Bà Rịa - Vũng Tàu, Việt Nam; (H) M. marmorata, đực trưởng thành từ Hương Lập, tỉnh Quảng Trị. Hình ảnh A, C-bởi N.A.Poyarkov, hình ảnh B, H bởi N.L.Orlov.
24/06/2014

Bổ sung 10 loài dương xỉ Polystichum cho Việt Nam

Hình 1. Polystichum auriculum Ching. Tọa độ (23°09'04''N 104°59'53''E, 850 m, 13/12/2013)

Trên thế giới chi Polystichum có khoảng 500 loài, phân bố chủ yếu ở các vùng ôn đới và cận nhiệt đới, phổ biến ở phía Nam và Tây Nam Trung Quốc, Himalaya, Nhật Bản và Việt Nam. Đây là một trong ba chi có số lượng loài nhiều nhất trong họ Dryopteridaceae. Ở Việt nam, chi Polystichum có khoảng 13 loài (P.H.Hộ 1999), 14 loài (DLTVVN 2003), 15 loài (P.K.Lộc 2010).

Cuối năm 2013, các nhà thực vật thuộc Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam (VNMN) đã phối hợp với các nhà thực vật thuộc Vườn Thực vật Mítsuri, Mỹ đã tiến hành khảo sát, nghiên cứu và thu thập mẫu dương xỉ tại các hang động vùng núi phía Bắc Việt Nam, đã phát hiện bổ sung 10 loài thuộc chi Polystichum cho hệ thực vật Việt Nam. Các loài đó là Polystichum auriculum Ching, Polystichum dangii P.S.Wang in Wang & Wang, Polystichum excellens Ching, Polystichum fimbriatum Christ, Polystichum liboenseP.S.Wang & X.Y.Wang, Polystichum minimum (Y.T.Hsieh) Li Bing Zhang, Polystichum mucronifolium(Blume) C.Presl, Polystichum nepalense (Sprengel) C.Christensen, Polystichum subacutidens Ching ex L.L.Xiang, và Polystichum xichouense (S.K.Wu & Mitsuta) Li Bing Zhang.

Kết quả nghiên cứu này đã được công bố trên tạp chí Phytotaxa số 164(2), 2014.

1. Polystichum auriculum Ching - Hình 1

Loài này phân bố ở các vách đá trong rừng lá rộng thường xanh, độ cao 850–1800 m, ở phía Tây Nam Trung Quốc. Khảo sát của chúng tôi đã phát hiện loài phân bố ở Vị Xuyên (Hà Giang).
 2. Polystichum dangii P.S.Wang in Wang & Wang- Hình 2,3
Loài này phân bố ở xung quanh miệng hang hoặc đường nứt của vách đá trong rừng, độ cao 700-800m. Loài mới chỉ được biết đến phan bố ở phía Nam Trung Quốc. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phát hiện loài này ở xã Quản Bạ (Hà Giang).
Loài này có đặc điểm đặc trưng lá dầy và nguyên (Wang & Wang 2001, Zhang & Barrington 2013).
duong-xi-Polystichum-dangii-1
Hình 2. Polystichum dangii P.S.Wang. Môi trường sống (23°07'57''N 104°55'44''E, 800 m, 10 tháng 12, 2013)
duong-xi-Polystichum-dangii-2
Hình 3. Polystichum dangii P.S.Wang. Mặt trên của phiến lá (23°07'57''N 104°55'44''E, 800 m, 10/12/2013) 
3. Polystichum excellens Ching- Hình 4
Loài phân bố rừng núi đá vôi, hay các hang động đá vôi, độ cao 780-1700m. Trước đây, mới chỉ gặp ở phía Nam Trung Quốc, chúng tôi thu được ở Nguyên Bình (Cao Bằng) và Yên Minh (Hà Giang).
Loài khá phổ biến ở phía Nam Trung Quốc, nhưng rất hiếm ở miền Bắc Việt Nam. Đôi khi loài nhầm lẫn với loài Polystichum subacutidens, nhưng loài Polystichum excellens có lá chét hình liềm hoặc dạng mác trong khi Polystichum subacutidens có lá chét thuôn dài.
duong-xi-Polystichum-excellens
Hình 4. Polystichum excellens Ching. Mặt dưới phiến lá (22°36'05''N 105°55'15''E, 780 m, 8/12/2013).
4. Polystichum fimbriatum Christ
Loài phân bố ở vách đá vôi trong rừng, ở độ cao 700-1100m. Mới chỉ biết phân bố ở phía Nam Trung Quốc. Qua phân tích mẫu vật tại phòng tiêu bản của Vườn Thực vật Mítsuri, Mỹ chúng tôi phát hiện loài này phân bố ở Trà Lĩnh (Cao Bằng). Loài rất hiếm và ít gặp ở Trung Quốc và Việt Nam, có đặc điểm phiến kép lông chim một lần, màu xanh đậm và dạng da.
5. Polystichum liboense P.S.Wang & X.Y.Wang – Hình 5
Loài này phân bố ở rừng núi đá vôi, ở độ cao khoảng 1000m, phân bố ở phía Nam Trung Quốc. Chuyến khảo sát của chúng tôi ghi nhận loài này ở Quản Bạ (Hà Giang).
duong-xi-Polystichum-liboense
Hình 5. Polystichum liboense P.S.Wang & X.Y.Wang. (22°36'05''N 105°55'15''E, 780 m, 8/12/2013) 
6. Polystichum minimum (Y.T.Hsieh) Li Bing Zhang – Hình 6
Loài phân bố ở trong rừng đá vôi, rất hiếm ở các hang động, ở độ cao 500-1500m. Mới chỉ gặp ở phía Nam Trung Quốc. Chúng tôi đã ghi nhận ở Vị Xuyên (Hà Giang). Loài này cho đến gần đây vẫn được gọi là Cyrtogonellum inaequale (Christ) Ching, nhưng hiện nay tên Polystichum minimum mới là danh pháp chính thức (Zhang 2012).
duong-xi-Polystichum-minimum
Hình 6. Polystichum minimum (Y.T. Hsieh) Li Bing Zhang. (22°50'40''N 105°07'47''E, 1100 m, 13/12/2013). 
 7. Polystichum mucronifolium (Blume) C.Presl
Loài phân bố dọc suối trong rừng, độ cao1600-2400m. Phân bố ở Đài Loan, Vân Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Mianma, Srilanka, Nepan, Thái Lan. Qua phân tích mẫu, chúng tôi đã xác định loài có phân bố ở tỉnh Kon Tum và Lâm Đồng.
8. Polystichum nepalense (Sprengel) C.Christensen
Loài phân bố trong rừng, ở độ cao 1500-3000m. Phân bố ở Trung Quốc, Ấn Độ, Nê Pan, Philíppin. Qua phân tích mẫu, chúng tôi xác định loài có phân bố ở Lai Châu.
9. Polystichum subacutidens Ching ex L.L.Xiang – Hình 7
Loài phân bố trong các rừng núi đá vôi, hang động trong rừng, ở độ cao 200-1500m. Mới chỉ biết loài phân bố ở phía Nam Trung Quốc. Khảo sát của chúng tôi đã xác định loài có phân bố ở Nguyên Bình (Cao Bằng), Vị Xuyên (Hà Giang) và mẫu vật của các nhà khoa học trước đây thu được tại Mộc Châu (Sơn La).
Loài Polystichum subacutidens có đặc điểm phiến lá hẹp, dài, lên tới 110 cặp lá chét (Zhang & Barrington 2013)
duong-xi-Polystichum-subacutidens
Hình 7. Polystichum subacutidens Ching ex L.L.Xiang. Mặt trên của phiến lá (22°51'25''N 105°06'01''E, 200 m, 12/12/2013). 
10. Polystichum xichouense (S.K.Wu & Mitsuta) Li Bing Zhang – Hình 8
Loài phân bố ở rừng đá vôi hoặc vách đá trong rừng rậm, độ cao khoảng 1700m. Loài mới chỉ được biết đến phân bố ở phía Nam Trung Quốc. Khảo sát của chúng tôi xác định loài này có phân bố ở Quản Bạ (Hà Giang).
duong-xi-Polystichum-xichouense
Hình 8. Polystichum xichouense (S.K.Wu & Mitsuta) Li Bing Zhang. Mặt trên của phiến lá (23°08'26''N 105°00'44''E, 1200 m, 11/12/2013).
Lữ Thị Ngân
Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam
Theo http://vnmn.ac.vn/
Phiên bản cuối cùng có thể được tìm thấy tại đây: 

Loài bướm đêm Hoàng đế mới lớn nhất ở Việt Nam

Bướm đêm hoàng đế vũ liên Samia vuvanlieni. Ảnh  S. Naumann
Một loài bướm đêm (còn gọi là ngài) có kích thước rất lớn, mới cho khoa học, được phát hiện từ miền Trung Việt Nam.
Loài ngài mới cho khoa học có tên là Bướm đêm hoàng đế vũ liên Samia vuvanlieni thuộc giống Samia, họ Hoàng đế Saturniidae, bộ Cánh vẩy (Lepidoptera). Họ Hoàng đế là một họ Ngài bao gồm các loài có kích thước lớn đến rất lớn, màu sắc đẹp, được quan tâm nghiên cứu, sưu tầm nhiều. Giống Samia gồm các loài có kích thước lớn, màu nâu là màu chủ đạo của giống.
Cá thể đực Bướm đêm hoàng đế vũ liên Samia vuvanlieni. Ảnh  S. Naumann
Loài mới do các nhà khoa học Đức và Hoa Kỳ mô tả là Stefan Naumann, Richard S. Peigler và Swen Läffle. Mô tả được đăng trên Tạp chí “The European Entomologist, Vol. 5, N.4”, năm 2014. Cho đến nay,Samia vuvanlieni là loài lớn nhất của giống Samia, có kích thước sải cánh khoảng 140-170mm. Loài có hình thái gần gũi nhất với loài nhỏ hơn nhiều là Samia watsoni ở Trung Quốc và Samia formosana ở Đài Loan.
Mẫu holotype của loài mới được thu thập ở Đà Lạt và Bidoup-Núi Bà tỉnh Lâm Đồng tháng 5 năm 2013. Mẫu paratype thu thập ở các khu vực thuộc dẫy Trường Sơn, tỉnh Kon Tum, núi Bà Nà (Đà Nẵng) vào các tháng 4 và 5 năm 2013. Các mẫu holotype và paratype của loài được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Anh, Bảo tàng Thiên nhiên Viêt Nam và một số Bảo tàng Lịch sử tự nhiên khác trên thế giới.
Cá thể cái Bướm đêm hoàng đế vũ liên Samia vuvanlieni. Ảnh S. Naumann
Theo các tác giả của loài mới, tên của loài được đặt theo tên của nhà côn trùng học Việt Nam là Vũ Văn Liên, hiện đang công tác tại Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, đã có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu sinh thái côn trùng nhằm thúc đẩy nâng cao nhận thức và bảo tồn côn trùng cánh vẩy và sinh cảnh của chúng ở Việt Nam.
Theo http://vnmn.ac.vn/

15/06/2014

Loài địa y mới Graphis upretii và bẩy loài bổ sung

Loài địa y mới Graphis upretii (holotype). A, B, Habitat; C, Habit; D, Ascomata (the arrow indicates the complete thalline margin); E, Cross-section of ascomata; F, Ascospores (scale bars: A = 15 cm, B, C = 5 cm, D = 1 cm, E = 100 µm, F = 50 µm) (Theo http://synapse.koreamed.org/)

Tóm tắt: loài mới mô tả cho khoa học Địa y Upreti Graphis upretii S. Joshi & Hur sp. nov. được phát hiện từ Đắc Lắc và 7 loài bổ sung cho Việt Nam là: Arthonia radiataBrigantiaea tricolorCoenogonium implexumDirina paradoxaHerpothallon sipmaniiPertusaria pertusa, và Sarcographina cyclospora.

Graphis upretii S. Joshi & Hur sp. nov. 
Similar to G. longispora, but differing in having a complete thalline margin, smaller ascospores, and a thallus that produces norstictic and stictic acids.
Type: Vietnam, Dak Lak Province, Buon Ma Thuot City, Mt. Doi Sao, 12°40'31.8" N, 108°05'24.4" E, alt. c. 539 m, on tree bark, Oh & Thanh VN130043 (holotype KoLRI).
Description: Thallus corticolous, epiperidermal, crustose, continuous, spread in patches up to 15 cm, loosely corticate, rough, rather delicate, crystalline, whitish grey, greenish grey or greyish white, ± dull, 100~200-µm thick in cross-section. Cortex poorly developed, 10~20-µm thick. Photobiont layer densely interspersed with calcium oxalate crystals, 70~90-µm thick. Crystalline layer more distinct below algal cells, 40~70-µm thick. Medulla endoperidermal, indistinct to absent; prothallus whitish.
Ascomata lirelliform, erumpent to prominent. Lirellae completely covered by thalline margin (10~12-µm thick apically), elongate and irregularly branched (negrosina morph), up to 3 cm long, with ends mostly acute to sub-acute. Labia entire, black, appearing greyish in the cross-section because of the thin cortex cover being absent from algal cells. Disc slit-like, epruinose, concealed. Thalline margin complete, sometimes flaking off and exposing black labia, laterally 80~95-µm thick. Proper exciple entire, laterally carbonized, convergent, apically 10 µm to laterally 60~90-µm thick. Epihymenium greyish, crystalline, 15~20-µm high. Hymenium hyaline, clear, 100~130-µm high, I-. Paraphyses simple, rather lax, apically granulate, ± conglutinate, 1~2-µm thick. Hypothecium hyaline, indistinct to 20-µm high, I-. Ascus clavate, 2~6-spored, 120~150 × 15~20 µm, I-. Ascospores hyaline, fusiform, clavate to ellipsoidal with rounded to sub-acute ends, transversely 15~19 septate, about 50~95 × 10~15 µm, locules lenticular, halo not seen, I+ violet to blue.
Additional specimen examined: Vietnam, Dak Lak Province, Buon Ma Thuot City, Mt. Doi Sao, 12°40'31.8" N, 108°05'24.4" E, alt. 539 m, on tree bark, 19 Feb 2013, Oh & Thanh, VN130042 (KoLRI).
New records of lichens in Vietnam
Ghi nhận 7 loài địa y mới cho Việt Nam. A, Arthonia radiata; B, Brigantiaea tricolor; C, Coenogonium implexum; D, Dirina paradoxa; E,Herpothallon sipmanii; F, Pertusaria pertusa; G, Sarcographina cyclospora (the arrow indicates the stromatoid ascomata) (scale bars: A~F = 1 mm, G = 5 mm).(Theo http://synapse.koreamed.org/)
Arthonia radiata (Pers.) Ach. K. Vetensk-Acad. Nya Handl. 29: 131 (1808)
Description: The corticolous species is characterized by a lichenized, 55 to 75-µm thick, pale grey to olive, immersed thallus delimited in patches; linear to aggregated, irregular to substellate ascomata of 1~1.5-mm diameter; flat to slightly convex, black, epruinose disc; brown or olive-brown, hyaline, clear and gelatinous I+ blue hymenium, up to 40-µm high; 8-spored, broadly clavate asci, 35~40 × 14~16 µm; hyaline to grey-brown, oblong-ovoid to oblong, transversely 3-septate, gelatinous, I- ascospores, 14~16 × 4~5 µm, and the absence of lichen substances.Arthonia radiata is widely distributed across Europe, North America, Asia, Africa, and New Zealand.
Specimen examined: Vietnam, Dak Lak Province, Buon Ma Thuot City, Museum, 12°40'32.2" N, 108°02'28.9" E, alt. 516 m, on tree trunk, 19 Feb 2013, Oh & Thanh, VN130048 (KoLRI).
Brigantiaea tricolor (Mont.) Trevis. Spighe Paglie: 9 (1853).
Description: The species is characterized by a whitish grey to grey green, effuse, indistinctly sorediate thallus; sessile, round ascomata constricted at the base, 1~1.5 mm; disc brownish, plane, covered by ± yellow pruina, with prominent, shiny, reddish brown margin reacting K+ blue-violet; biatorine exciple; hyaline, clear to slightly inspersed hymenium, 120~130 µm; 1-spored asci, 90~100 × 30~45 µm; hyaline, ellipsoidal to oblong, muriform ascospores, 65~80 × 25~30 µm, and a thallus containing atranorin and zeorin as the major lichen compounds. B. leucoxantha R. Sant. & Hafellner differs from B. tricolor in having an orange ascomatal margin reacting K+ purple, and a disc containing yellow-orange pruina. B. tricolor is widely distributed in Africa, Australia, eastern and southern Asia, the Hawaiian Islands New Caledonia, and Papua New Guinea.
Specimens examined: Vietnam, Kon Tum Province, Kon Plong District, Mt. Kon Plong, PAK-SY waterfall, 14°35'46.1" N, 108°15'24.3" E, alt. 1,033 m, on dead tree branch, 21 Feb 2013, Oh & Thanh, VN130127 (KoLRI); Dak Lak Province: Yok Don National Park, 12°51'20.0" N, 107°45'58.1" E, alt. c. 760 m, on tree trunk, 22 Apr 2012, Hur & Oh, VN120228 (KoLRI).
Coenogonium implexum Nyl. Ann. Sci. Nat., Bot., Ser. 4. 16: 92 (1862).
Description: The species is characterized by filamentous (very densely woven filaments of Trentepohliacells, 30~35 × 14~16 µm), pannose, ecorticate, yellow-green thallus, up to 50 mm; sessile and round ascomata, 0.18~0.2 × 0.5~1 mm; flat, yellow-orange; smooth cream-colored disc with a thin margin; hyaline, paraplectenchymatous proper exciple of radiating isodiametric hyphal cell rows, 40~70 µm; hyaline, clear hymenium reacting I+ blue to sordid green to reddish brown, 60~80 µm; 8-spored asci, 50~60 × 6~7 µm; hyaline, ellipsoid, 1-septate ascospores, 6~8 × 2~3 µm, and a lack of lichen compounds in the thallus. C. implexum is also distributed across the Neotropics, as well as in the eastern Palaeotropics.
Specimen examined: Vietnam, Vinh Phuc Province, Tam Dao National Park, 21°27'21.7" N, 105°39'0.8" E, alt. c. 1,092m, on tree trunk, 25 Apr 2012, Hur & Oh, VN120324 (KoLRI).
Dirina paradoxa (Fée) Tehler Lichenologist 18: 296 (1986).
Description: The species is characterized by a whitish grey, greenish grey to greyish white, pruinose, rimose cracked, verrucose c. 100-µm thick thallus flaking off the substratum and exposing loose white medulla; solitary to aggregate, pluricarpocentral, discothecia, numerous, sessile, circular to distinctly undulate ascomata constricted at base, 0.5~2.5 mm; dark brown, thinly white prinose disc; entire to undulating thalline margin, 0.1~0.9 mm, thin to indistinct proper exciple; hyaline and inspersed hymenium, 80~100 µm; 8-spored, clavate asci, 75~90 µm; hyaline, fusiform (one end thick than other), transversely 3-septate ascospores, 20~23 × 4~6 µm, and the presence of erythrin, lecanoric acid, and a yellowish brown unknown substance in the thallus. The species has previously been reported in the coastal regions of the Caribbean, in the Bahamas, Netherland Antilles, Venezuela, and Trinidad [].
Specimen examined: Vietnam, Dak Lak Province, Buon Ma Thuot City, Museum, 12°40'32.2" N, 108°02'28.9" E, alt. 516m, on tree trunk, 19 Feb 2013, Oh & Thanh, VN130046 (KoLRI).
Herpothallon sipmanii Aptroot, Lücking & Rivas Plata Bibl. Lichenol. 99: 64 (2009).
Description: The species is characterized by a distinctly byssoid, pale mineral grey to green or whitish green thallus, ± firmly appressed to the substrate; compact brown hypothallus; a prothallus made up of radiating whitish hyphae; numerous, pale to off-white, flattened to slightly convex, disc-shaped (schizidia) outgrowths (pseudisidia) of round to wavy margin, up to 1 mm in diameter, and the presence of protocetraric and hypoprotocetraric acids. The species is distributed in Papua, New Guinea, the Philippines, and Thailand. For more details, see Aptroot et al.
Specimen examined: Vietnam, Kon Tum Province, Sa Thay district, 14°41'48.9" N, 107°52'15.3" E, alt. 768 m, on tree trunk, 22 Feb 2013, Oh & Thanh, VN130040 (KoLRI).
Pertusaria pertusa (Weigel) Tuck. Enum. N. Am. Lich.: 56 (1845).
Description: The species is characterized by a pale grey to greenish grey, ± shiny, smooth, wrinkled or warted thallus delimited by a brown line; semi-globose, crowded fertile warts constricted at the base, 1~2-mm in diameter; immersed, perithecioid apothecia, 1~5 per wart; punctiform, brownish disc; hyaline and clear hymenium, 300~400 µm; 2~4-spored asci; hyaline and simple ascospores, 100~140 × 35~40 µm, and a thallus containing norstictic and stictic acids. The species has been reported in Europe, Macaronesia, Africa, and Asia.
Specimen examined: Vietnam, Dak Lak Province, Yok Don National Park, 12°51'20" N, 107°45'58.1" E, alt. 760 m, on tree trunk, 22 Apr 2012, Hur & Oh, VN120223 (KoLRI).
Sarcographina cyclospora Müll. ArgFlora Jena 70: 425 (2887).
Description: The species is characterized by pale fawn, thin, smooth, glossy thallus; lirellate ascomata immersed in white, round to irregular stromata of 2~5 mm in diameter; thin, black, ± open lirellae in irregular stellate clusters; black disc covered by white pruina; non-carbonized, pale yellow to brownish proper exciple; hyaline and clear hymenium, 80~100 µm; 8-spored asci; pale brown to dark-brown, narrowly ellipsoidal, 2 × 2-locular, I- ascospores, 9~12 × 5~7 µm, and the presence of psoromic acid chemosyndrome. This is the second record of the species and has been previously reported only in Australia. The collection of S. cyclosporafrom Vietnam increases the possible distribution of this species in other neighboring countries of tropics.
Specimens examined: Vietnam, Dak Lak Province, Buon Ma Thuot City, Chu Yang Sin National Park (waterfall), 12°29'00.1" N, 108°20'25.6" E, alt. 450 m, on dry rock (sandstone), 19 Feb 2013, Oh & Thanh, VN130022 (KoLRI); Chu Yang Sin National Park, 12°27'57.0" N, 108°20'34.9" E, alt. c. 780 m, on tree trunk, 21 Apr 2012, Hur & Oh, VN 120171 (KoLRI); Vinh Phuc Province, Tay Thien Mt., 21°27'53.3" N, 105°35'06.6" E, alt. c. 77 m, on tree trunk, 26 Apr 2012, Hur & Oh, VN120377, VN120381 (KoLRI).
Theo: 

Xem thêm:
03/04/2014

Loài Ếch cây gai Gracixalus lamarius mới ở Kon Tum

Hình ảnh con đực loài Ếch cây gai Gracixalus lamarius với nhiều màu sắc khác nhau và lưng rất nhiều gai. Dorsolateral view of male of Gracixalus lumarius sp. nov. in life showing variation in skin texture. Photos Zootaxa 2014.
Nhóm các nhà khoa học Úc, Việt Nam trong các đợt khảo sát vào tháng 7/2009 và 4/2010 ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Ngọc Linh tỉnh Kon Tum, Việt Nam. đã phát hiện và mô tả loài Ếch cây mới thuộc giống Gracixalus. Loài mới được công bố trên tạp chí chuyên ngành Zootaxa 3785 (1): 025–037 (2 tháng 4, 2014).