Zingiberaceae

Các loài thực vật mới cho khoa học phát hiện ở Việt Nam 2014

Nycticebus pygmaeus

Buôn bán động vật hoang dã ở Việt Nam.

Ex-situ conservation of Xanthocyparis vietnamensis

Bảo tồn chuyển vị loài Bách vàng ở Hà Giang. Photo by Pham Van The.

Hoya longipedunculata

Cẩm cù cuống dài, loài mới 2012 ở Quảng Nam, Việt Nam. Photo by Pham Van The.

Forest fired

Cháy rừng Khộp, nguyên nhân suy thoái Đa dạng sinh học.

Taxus wallichiana var. chinensis

Thông đỏ bắc, loài trong Sách đỏ Việt Nam, phân bố miền Bắc. Photo by Pham Van The.

Ovophis monticola

Rắn lục núi, loài bị đe đoạ cấp R, phân bố Tây Bắc - Việt Nam.

Paphiopedilum canhii

Lan hài cảnh, loài đứng bên bờ vực tuyệt chủng, phân bố Việt Nam, Lào

Showing posts with label Biodiversity. Show all posts
Showing posts with label Biodiversity. Show all posts
18/07/2017

Rừng Việt Nam đang có xu hướng đi lên sau nhiều năm phục hồi



Gần 5 thập niên kể từ khi các cuộc tấn công vào rừng phía nam của Việt Nam lên tới đỉnh điểm vào năm 1967, rừng của Việt Nam đã có những bước đi vững chắc để phục hồi.

02/03/2017

Kinh doanh trong sự Tuyệt chủng: Buôn bán vật nuôi đang giết chết nhiều loài động vật như thế nào



Suy giảm đa dạng sinh học toàn cầu không chỉ là kết quả từ sự phá hủy môi trường sống tự nhiên, hay thậm chí săn bắn các loài động vật làm thức ăn. Một số lượng lớn các loài đang bị đe dọa là do buôn bán vật nuôi – ở cả hai trường hợp dạng sống như vật nuôi cảnh hay để trưng bày, hoặc bị giết chết vì giá trị sử dụng trong các loại thuốc.
01/07/2015

Các dải san hô bị phá huỷ nghiêm trọng do Trung Quốc xây đảo nhân tạo

Các nhà khoa học quốc tế lên tiếng về tình trạng san hô bị phá hủy khi Trung Quốc tiến hành bồi đắp, xây dựng cấp tốc tại những đảo san hô ở khu vực quần đảo Trường Sa.

05/02/2015

Loài nhện mới Belisana denticulate cho khoa học

Phát hiện một loài nhện mới cho khoa học ở Việt Nam

Loài nhện Belisana denticulata Phạm, 2015. C.–Mặt lưng; D. Mặt bụng; E. Mặt bên. (Ảnh: Phạm Đình Sắc 2015)
Một loài nhên mới vừa được Tiến sỹ Phạm Đình Sắc, thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vât phát hiện và công bố trên tạp chí ZooKeys số 480, ngày 2 tháng 2 năm 2015). Loài nhện Belisana denticulate mới được tìm thấy ở tầng tán của thảm thực vật rừng Tam Đảo, và được phân biệt bởi đặc điểm: khoảng cách giữa mấu ngoại biên và mấu bên trên chân kìm cách xa nhau, sự có mặt của mảnh xương cứng hình yên ngựa trên mấu xúc biện, và sự xuất hiện của một khối màng bao phủ trên mấu xúc biện.

22/01/2015

Thế nào là Ngành và Nhà phân loại học?

Phân chia ngành phân loại và các nhà phân loại học

Phân loại học được xác định là một ngành khoa học về phân chia và sắp xếp theo các điều luật và quy định. Thực tế, phân loại học không chỉ được áp dụng đối với ngành Sinh học, và có thể áp dụng cho nhiều đối tượng, lĩnh vực khác. 

Phân loại học trong Sinh học là khoa học về sự phân chia và sắp xếp các loài sinh vật (đơn vị phân loại cơ bản nhất) vào các vị trí thích hợp để có thể giải thích được sự đa dạng, mối quan hệ và quá trình hình thành, tiến hóa của chúng. 
12/10/2014

Các khu bảo tồn sinh vật tại các vùng biển lớn

Khu bảo tồn sinh vật biển (MPAs) là khu bảo tồn thiên nhiên ngoài đại dương với mục đích bảo vệ đa dạng sinh học biển và cung cấp nơi sinh sống cho các lòai đang bị đe dọa và quần thể cá với mục đích thương mại. Hiện nay, đã có khoảng 2% các đại dương đang được bảo vệ, trong khi đó có hơn 12% diện tích đất được bảo vệ. Một trong những mục tiêu chính của chương trình Đa dạng sinh học là phát triển các khu vực bảo tồn sinh vật biển bao phủ đến 10% diện tích toàn mặt nước biển. 

Đa dạng sinh học Rạn san hô ở đại dương

Đa dạng sinh học của rạn san hô

Rạn san hô là những cấu trúc đá vôi dưới nước được tạo thành từ những xác của hàng triệu động thực vật nhỏ sống dưới đáy biển. Các rạn san hộ thường được gọi với cái tên “Khu rừng nhiệt đới của biển” và là một trong những hệ sinh thái đa dạng nhất trên trái đất. Trên thực tế, các rạn san hô chỉ chiếm ít hơn 0.1% diện tích bề mặt đại dương trên thế giới, với khoảng một nửa là ở Pháp, nơi cung cấp ¼ tổng số lòai sinh vật biển như cá, chim biển, bọt biển và các lòai sinh vật biển khác. 

Khai thác thủy sản quá mức ở đại dương

Đại dương chiếm 2/3 bề mặt trái đất và có giá trị đa dạng sinh học rất lớn. Trong phần này chúng ta sẽ xem xét ba vấn đề liên quan tới đa dạng sinh học biển: ngừng khai thác thủy sản quá mức, bảo vệ các rặng san hô và thiết lập các khu bảo vệ trong chương trình High Seas.

Chuyển đổi các khu vực tự nhiên sang canh tác nông nghiệp

Nông nghiệp là một hoạt động sống quan trọng nhất của con người có ảnh hưởng lớn tới đa dạng sinh học. Vì vậy, các chuyên gia cho rằng bất kỳ kế hoạch nào nhằm bảo vệ đa dạng sinh học cũng phải xem xét các hoạt động nông nghiệp. Có một số dẫn chứng chỉ ra rằng tại sao nông nghiệp lại có những tác động tiêu cực tới đa dạng sinh học, một trong số đó là việc chuyển đổi các khu vực tư nhiên sang các mục đích canh tác nông nghiệp đang diễn ra hiện nay.

Giảm thiểu việc mất đi các khu ĐDSH tự nhiên

Trong khi cộng đồng quốc tế đồng ý cần phải bảo tồn đa dạng sinh học ở mức độ toàn cầu, bản thân các nước có thể sẽ có những lý do về kinh tế hay xã hội nào đó đằng sau việc họ phải triệt hạ những cánh rừng để tăng diện tích đất trồng trọt, khu chăn thả gia súc hay đơn giản là khai thác gỗ. Việc mở rộng diện tích đất canh tác và tăng thu nhập để có thế đáp ứng nhu cầu ngày một tăng do tăng dân số thực chất cũng là những mục tiêu phát triển quan trọng.

Đa dạng sinh học trên cạn: Bảo vệ các khu tự nhiên

Một trong những biện pháp bảo vệ đa dạng sinh học từng thành công trong quá khứ là bảo vệ các khu tự nhiên vẫn còn lưu giữ được tính sơ khai của chúng, ví như các cánh rừng nhiệt đới hay trảng cỏ savannah ở châu Phi. Đây cũng là ngôi nhà chung của nhiều loài động thực vật, luôn duy trì ở trạng thái cân bằng lý tưởng, và hầu như chịu rất ít tác động của con người. Các khu vực này cung cấp nơi trù ẩn, cho phép các loài di chuyển tự do, và đảm bảo gần như tuyệt đối các quá trình tự nhiên giúp hình thành nên cảnh quan xung quanh. 

05/10/2014

Vai trò quan điểm của người dân về ĐDSH

Suy giảm đa dạng sinh học ảnh hưởng nghiêm trọng ở nhiều cấp độ như ảnh hưởng tới một cá nhân, một gia đình, một làng/vùng quê, một đất nước hay một khu vực. Các ảnh hưởng có thể bao gồm tăng giá lương thực thực phẩm, sản lượng trồng trọt thấp, quy mô đánh bắt cá nhỏ hơn, nước uống ít hơn, xảy ra lũ lụt và các thảm họa thiên nhiên khác thường xuyên hơn, đất không thể giữ nước và chất dinh dưỡng hay như phong cảnh không còn thu hút/hấp dẫn khách du lịch nữa. Những ảnh hưởng như vậy là lâu dài và ảnh hưởng tới mọi lĩnh vực của cuộc sống chúng ta. 

Áp lực của đa dạng sinh học

Suy giảm các loài chim, động vật có vú, rạn san hô và động vật lưỡng cư từ năm 1980 đến 2010 (Nguồn: IUCN 2012)

Báo cáo của Liên hợp Quốc năm 2012 nhấn mạnh đến tỷ lệ mất rừng; mối đe dọa tới nguồn cung cấp nước và ô nhiễm các vùng ven biển. Xu hướng chung/tổng thể là suy giảm toàn cầu về đa dạng sinh học là 1/3 lần trong 30 năm qua và xu hướng này còn tiếp tục giảm. Có đến 2/3 các loài có thể biến mất. Theo như Báo cáo Hành tinh Sống 2010 có tới 5 mối đe dọa lớn đối với đa dạng sinh học là do hoạt động của con người.

Tiếp cận và Chia sẻ lợi ích ĐDSH: Nghị định thư Nagoya

 
Chia sẻ công bằng và bình đẳng các lợi ích từ việc sử dụng nguồn tài nguyên gen là một trong 3 mục tiêu chính của Công ước về Đa dạng sinh học. Điều này được coi là một yếu tố quan trọng để thực hiện 2 mục tiêu khác: bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học. 

15/08/2014

Công ước Đa dạng Sinh học (CBD) 1992

Du sam núi đất Keteleeria evelyniana, một loài hạt trần có chiều cao vút ngọn hơn 30 m và đường kính thân lên đến hơn 1,5 m. Ở Việt Nam chúng phân bố ở các khu rừng nguyên sinh núi đất từ Bắc vào Nam. xếp chúng ở tình trạng Sắp nguy cấp VU. Ảnh Phạm Văn Thế.

CÔNG ƯỚC
Lời tựa các bên ký kết
● Ý thức được giá trị thực chất của đa dạng sinh học và giá trị sinh thái, di truyền, xã hội, kinh tế, khoa học, giáo dục, văn hoá, giải trí và thẩm mỹ của đa dạng sinh học và các bộ phận hợp thành của nó.
● Cũng ý thức được tầm quan trọng của đa dạng sinh học đối với tiến hoá và duy trì các hệ thống sinh sống lâu bền của sinh quyển.
● Khẳng định rằng các quốc gia có chủ quyền đối với các tài nguyên sinh học của đất nước họ.
10/08/2014

Bảo tồn chuyển vị (chuyển chỗ, ngoại vi, ex-situ)

Vườn thú Hà Nội hiện đang là một nơi bảo tồn chuyển vị loài Công và rất nhiều loài đọng vật hoang dã khác. Ảnh Phạm Văn Thế
(BiodiVn) Bảo tồn ngoại vi hay bảo tồn chuyển chỗ, bảo tồn chuyển vị, bảo tồn ex-situ là một trong những biện pháp quan trọng và có hiệu quả trong bảo tồn và phát triển ĐDSH. Biện pháp bảo tồn ngoại vi là chuyển dời và bảo tồn các loài hoặc các nguyên liệu sinh học của chúng trong môi trường mới không phải là nơi cư trú tự nhiên vốn có của chúng. Bảo tồn ngoại vi bao gồm bảo quản giống, loài, nuôi cấy mô, thu thập các cây để trồng và các loài động vật để nuôi nhằm duy trì vốn gen quý hiếm cho sự nghiên cứu khoa học, nâng cao dân trí và giáo dục lòng yêu thiên nhiên cho mọi tầng lớp nhân dân.

Bảo tồn nguyên vị (tại chỗ, nội vi, in-situ)

Khu Bảo tồn thiên nhiên Sao La, Thừa Thiên Huế được thành lập với mục đích bảo tồn nguyên vị loài Sao la tại sinh cảnh tự nhiên của chúng. Ảnh WWF
(BiodiVn) Bảo tồn nguyên vị hay bảo tồn tại chỗ, bảo tồn nội vi, bảo tồn in-situ là biện pháp bảo vệ tại chỗ tất cả các HST, các nơi sinh cư và các loài trong môi trường tự nhiên của chúng. Có thể nói đây là biện pháp hữu hiệu nhất bảo tồn tính ĐDSH. 
Thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên
Việc hình thành các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam đã trải qua những giai đoạn khác nhau. Quá trình hình thành các khu rừng đặc dụng có thể tóm tắt như sau:

09/08/2014

Thành tựu, khó khăn và thách thức bảo tồn Đa dạng Sinh học

Loài lan Môi cứng ngắn trục Stereochilus brevirachis rất hiếm phát hiện ở Sơn La, Việt Nam, 2009. Loài này trước đây chỉ được biết đến là những cây trồng ở Trung Quốc. Đây là một phần kết quả điều tra đa dạng sinh học do Trung tâm Bảo tồn Thực vật Việt nam (CPC) tổ chức. Ảnh Leonid Averyanov.
(BiodiVn) Theo thống kê. kẻ từ khi ban hành BAP đến nay có khoảng 100 các dự án với các mức độ khác nhau đã và đang được thực hiện theo các mục tiêu và hành động của BAP. Trong đó, có hơn 50 dự án của BAP đề xuất đã và đang được thực hiện ở các mức độ khác nhau. Hầu hết các dự án này định hướng về xây dựng và quản lý các khu bảo vệ và Nâng cao nhận thức chung. Một số các dự án khác đề xuất trong BAP nhưng vì một số lý do chưa được thực hiện.

Kết quả đạt được sau bảy năm thực hiện BAP

Lan lộc sơn Lockia sonii, loài mới phát hiện 2012 từ Sơn La. Ảnh Phạm Văn Thế
(BiodiVn) Năm 1998, đã có một Hội thảo Đánh giá 3 năm việc thực hiện BAP, giai đoạn 1996-1998. Đến năm 2002, đã có một dự án Đánh giá việc thực hiện kế hoạch hành động ĐDSH từ năm 1995 đến 2002 và đề xuất các hoạt động có liên quan cho giai đoạn 2003-2010 được thực hiện do Đại học quốc gia Hà Nội chủ trì (Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan quản lý). 
Các kết quả đã đạt được trong giai đoạn 1996-1998
Từ những ý tưởng đã được nêu trong BAP, các kết quả thực hiện BAP trong 3 năm, thời gian 1996-1998 được đánh giá trong cuộc Hội thảo xem xét lại kế hoạch Hành động ĐDSH của Việt Nam với mục tiêu Đánh giá tình trạng thực hiện BAP, xác định những thiếu sót chính và nêu bật các vấn đề mới nổi cần chú ý. Nhìn chung, tại Hội thảo này, các ý kiến cho rằng kết quả thực hiện BAP trong thời gian 1996-1998 là rất lớn và được tóm tắt trong bảng dưới.

Kế hoạch Hành động Đa dạng sinh học (BAP)

Tỏi rừng thế an na Tupistra theana, loài mới phát hiện 2012 từ Quảng Bình. Ảnh Phạm Văn Thế
(BiodiVn) - Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam (BAP) được soạn thảo và được Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt ngày 22 tháng 12 năm 1995. BAP được xây dựng trong bối cảnh Chính phủ Việt Nam đã ký Công ước Quốc tế ĐDSH, năm 1993 và được Quốc hội thông qua năm 1994. Kể từ khi ban hành đến nay, BAP là văn bản có tính pháp lý và là kim chỉ nam cho hành động của Việt Nam trong việc bảo vệ ĐDSH ở tất cả các cấp từ Trung ương đến địa phương, các ngành và các đoàn thể. 
Giới thiệu chung về Kế hoạch hành động đa dạng sinh học của Việt Nam
Mục tiêu của BAP. Mục tiêu lâu dài của BAP là Bảo vệ sự ĐDSH phong phú và đặc sắc của Việt Nam trong khuôn khổ phát triển bền vững:
- Bảo vệ các HST đặc thù của Việt Nam, các HST nhạy cảm đang bị đe doạ thu hẹp hay bị huỷ hoại do các hoạt động kinh tế của con người;
- Bảo vệ các thành phần của ĐDSH đang bị đe doạ do khai thác quá mức hay bị lãng quên;