Zingiberaceae

Các loài thực vật mới cho khoa học phát hiện ở Việt Nam 2014

Nycticebus pygmaeus

Buôn bán động vật hoang dã ở Việt Nam.

Ex-situ conservation of Xanthocyparis vietnamensis

Bảo tồn chuyển vị loài Bách vàng ở Hà Giang. Photo by Pham Van The.

Hoya longipedunculata

Cẩm cù cuống dài, loài mới 2012 ở Quảng Nam, Việt Nam. Photo by Pham Van The.

Forest fired

Cháy rừng Khộp, nguyên nhân suy thoái Đa dạng sinh học.

Taxus wallichiana var. chinensis

Thông đỏ bắc, loài trong Sách đỏ Việt Nam, phân bố miền Bắc. Photo by Pham Van The.

Ovophis monticola

Rắn lục núi, loài bị đe đoạ cấp R, phân bố Tây Bắc - Việt Nam.

Paphiopedilum canhii

Lan hài cảnh, loài đứng bên bờ vực tuyệt chủng, phân bố Việt Nam, Lào

12/07/2014

Thằn lằn mới cho khoa học từ Lào: Cyrtodactylus vilaphongi




 

Hình ảnh nhìn chếch loài Thằn lằn vi-la-phông  Cyrtodactylus vilaphongi từ hai mẫu khác nhau. (Dorso-lateral view of (A) the holotype of Cyrtodactylus vilaphongi sp. nov.(IEBR A.2013.103) and (B) the paratype (NUOL R-2013.5) in life from Luang Prabang Province, Laos.) Photos by T. Q. Nguyen.
Mô tả loài động vật mới Thằn lằn vi-la-phông cho thế giới từ Lào
(BiodiVn)-Tạp chí Zootaxa tập 3835 (số 1, trang 080–096, 9 tháng 7 năm 2014) vừa công bố một loài Thằn lằn mới cho khoa học được phát hiện từ Luông Pra-băng, Lào. Loài mới có tên là Thằn lằn vi-la-phông  Cyrtodactylus vilaphongi (Squamata: Gekkonidae) được đặt tên theo tên ông Vilaphong Kanyasone - nhân viên Tài nguyên thiên nhiên và Môi trường tỉnh Luông Pra-băng, Lào. 
Loài mới Thằn lằn vi-la-phông có thể được phân biệt với tất cả đồng loại trên cơ sở của sự kết hợp các đặc điểm sau đây: chiều dài mình tối đa 86,1 mm SVL, vảy môi trên 9 hoặc 10; vảy môi dưới 7-9; vảy lưng 15 hoặc 16 hàng tại phần giữa cơ thể; vảy bụng 34-36 tại phần giữa cơ thể. 
Thằn lằn vi-la-phông  Cyrtodactylus vilaphongi có màu da đen - nâu với các hàng vảy trắng trên cơ thể. Chúng được Nguyễn Quảng Trường (Viện Sinh thái và TNSV), Lê Đức Minh (ĐHQGHN) và các nhà khoa học nước ngoài tìm thấy tại khu vực rừng thứ sinh đá vôi ở độ cao chừng 600 m so với mực nước biển ở Luông Pra-băng, Lào. Chúng hoạt động vào ban đêm ở vỏ các thân cây và vách đá. Hiện tại chưa tìm thấy khu phân bố thứ hai của loài này. 

Sinh cảnh núi đá vôi loài Thằn lằn vi-la-phông  (Cyrtodactylus vilaphongi. General vegetation type of the karst forest (A) and biotope (B) of Cyrtodactylus vilaphongiin Luang Prabang Province, Laos). Photos T. Q. Nguyen.

A new species of Cyrtodactylus (Squamata: Gekkonidae) from the karst forest of northern Laos

NICOLE SCHNEIDER, TRUONG QUANG NGUYEN, MINH DUC LE, LIPHONE NOPHASEUD, MICHAEL BONKOWSKI, THOMAS ZIEGLER

Abstract. We describe a new species of the gekkonid genus Cyrtodactylus on the basis of two specimens collected from limestone forests of Luang Prabang Province, northern Laos. Morphologically, the new species is distinguishable from its congeners by a combination of the following diagnostic characters: maximum SVL 86.1 mm; supralabials 9 or 10; infralabials 7–9; dorsal tubercles in 15 or 16 rows at midbody; ventral scale rows 34–36 at midbody; precloacal groove absent; femoral scales not distinctly enlarged; precloacal pores absent in females (unknown in males); subdigital lamellae under the fourth finger 18 or 19, under the fourth toe 18–20; subcaudals not transversally enlarged; dorsal bands white, 4 or 5 between limb insertions plus another one between hind limbs; tail banded. Based on molecular analyses, the new species is clustered in the same clade with C. wayakonei and two other species from Luang Prabang and Houaphan provinces.


Khu phân loài Thằn lằn vi-la-phông  Cyrtodactylus vilaphongi được chấm đen trên bản đồ. (Type locality (black dot) of Cyrtodactylus vilaphongiin Luang Prabang Province, Laos.)

Cyrtodactylus vilaphongisp. nov. 
Holotype. IEBR A.2013.103, adult female, collected by Truong Quang Nguyen and Vilaphong Kanyasone on 16 August 2013, near Ban Xieng Muak (19o48.772’N, 102o06.181’E, elevation 597 m), Luang Prabang District, Luang Prabang Province, Laos. 
Description of the holotype. Adult female, SVL 86.1 mm, tail regenerated (TL 61.2 mm); rostral square-shaped, wider than high (RW 4.1 mm, RH 2.4 mm), medially with a straight, vertical suture, in contact with nasorostral, nare, and first supralabial on each side; supralabials 9 or 10; supralabials separated from orbit by 3 or 4 rows of scales; nares in contact with rostral, nasorostral, supranasal, two postnasals, and first supralabial; internasals absent; scales on snout distinctly larger than on upper head; loreal region slightly upraised; scales between fifth supralabials across the dorsal head surface in 30 rows; scales between anterior corners of eyes 32; interorbital region with small, round, convex scales, outer ones more oval; scales in postorbital region distinctly smaller (ca. half the size) than snout scales, round and convex, interrupted by a few small tubercles, in 3 or 4 rows laterally; dorsal surface of head without enlarged tubercles; pupil vertical; spinous ciliaria absent; ear opening vertical, oval; mental triangular, slightly narrower than rostral (MW: 3.6 mm), in contact with two postmentals and the first infralabial on each side; infralabials 8 or 9; postmentals surrounded by first infralabial on each side and six granular scales posteriorly, two outer ones enlarged; gular scales granular.
Dorsal scales small; dorsal tubercles in 15 longitudinal rows at midbody, separated from each other by 2 or 3 dorsal scales and surrounded by 9–11 granular scales; tubercles on flanks slightly smaller than dorsal tubercles; ventrolateral folds slightly developed, with tubercles; ventral scales round, imbricated, 2 or 3 times larger than gular and throat scales, twice the size of dorsal scales; ventral scales 34, plus 122 dorsal scales around midbody; scales between mental and cloacal slit 165; dorsal surface of limbs with tubercles, distinctly higher counts on hind limbs; distinctly enlarged femoral scales absent; fingers and toes free of webbing; relative finger lengths I<V<II<IV<III, relative toe lengths I<II<V<IV<III; claw bordered by two scales; subdigital lamellae: finger I 15 (with 3 basally broadened lamellae), finger II 14–16 (4), finger III 18 (5), finger IV 18 or 19 (5), finger V 18 (5), toe I 14 or 15 (3), toe II 17 or 18 (4 or 5), toe III 19 (5), toe IV 18 or 19 (5 or 6), toe V 20 or 21 (5 or 6); precloacal depression absent; precloacal pores absent; enlarged precloacal scales 5, in one row; adjoining scales in precloacal region twice the size of femoral scales or ventrals; postcloacal tubercles 2 on each side, well developed; dorsal tail base with tubercles, regenerated part without tubercles or whorls; subcaudals of original part of tail not transversally enlarged.
Coloration in life: Dorsal head dark brown, marbled in light yellow; each side with a blackish brown stripe stretching from the posterior corner of the eye to the neck, connecting with the neck band on the right side, interrupted on the left side; irregular dark blotches with light margins present between eyes, on occiput and on postorbital region; ciliaria bright yellow; iris yellowish brown, pupil slit edged in orange; neck band blackish brown, widened posteriorly, edged in yellow anteriorly and posteriorly; ground color of dorsum blackish brown with five transverse yellowish white bands between limb insertions; flanks and upper limbs with yellowish white spots, in irregular rows; tail base dark brown with a white band, regenerated part uniformly dark brown; ventral 
surface light beige.
Distribution. Cyrtodactylus vilaphongiis currently known only from the type locality in Luang Prabang Province, Laos (Fig. 5).
Etymology. The new species is named in honour of Mr. Vilaphong Kanyasone, a staff of Provincial Natural Resources and Environmental Office of Luang Prabang Province, Laos, who collected the holotype and provided a great support for our field research in Laos. 
Ecological notes. Cyrtodactylus vilaphongiinhabits disturbed secondary limestone forest near a residential area at elevations between 577 and 597 m a.s.l. Specimens were found at night, on karst cliff and rock boulder ca. 0.5 m above the ground (Fig. 6). Air temperature at the site was 24–30 oC and humidity ranged from 72 to 86%.
References: 2014 Magnolia Press, Zootaxa 3835 (1): 080–096
11/07/2014

Loài mới cho khoa học từ Lào "Hemiphyllodactylus kiziriani"


Thạch sùng dẹp ki-zi-ri-an: A - hình ảnh nhìn chếch con đực, B - hình ảnh nhìn chếch con cái. Latero-dorsal view of the male holotype of Hemiphyllodactylus kiziriani sp. nov.(IEBR A.2014.3) (A) and the female paratype (NUOL R-2014.2) from Luang Prabang Province, Laos. Photos T.Q. Nguyen.

 New Species from Laos Hemiphyllodactylus kiziriani (Reptilia: Gekkonidae)

(BiodiVn)-Tạp chí Zootaxa tập 3827 (số 1, trang 045–056, 2 tháng 7 năm 2014) vừa công bố một loài Thạch sùng mới cho khoa học được phát hiện từ Luông Pra-băng, Lào. Loài mới được đặt tên theo tên TS. David A. Kizirian, ở Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Hoa Kỳ nhằm vinh danh những đóng góp khoa học của ông ở vùng Đông Dương. Thạch sùng dẹp ki-zi-ri-an Hemiphyllodactylus kiziriani có chiều dài mình con đực là 35.1–40.1 mm, con cái là 36.3–40.8 mm, có màu  da nâu đen lẫn trắng. 


Thạch sùng dẹp ki-zi-ri-an được các nhà khoa học Nguyễn Quảng Trường (Viện Sinh thái và TNSV), Lê Đức Minh (ĐHQGHN) và các nhà khoa học nước ngoài tìm thấy tại khu vực rừng thứ sinh đá vôi ở độ cao chừng 600 m so với mực nước biển. Chúng hoạt động vào ban đêm ở vỏ các thân cây và vách đá. Hiện tại chưa tìm thấy khu phân bố thứ hai của loài này.

Nơi phân bố của Thạch sùng dẹp ki-zi-ri-an ở Luông Pra-băng được chấm đen trên bản đồ. Type locality (black circle) of Hemiphyllodactylus kizirianiin Luang Prabang Province, Laos. Photo T.Q. Nguyen et al. 2014.

A new species of Hemiphyllodactylus (Reptilia: Gekkonidae) from northern Laos
Truong Quang Nguyen, Andreas Botov, Minh Duc Le, Liphone Nophaseud, George Zug, Michael Bonkowski, Thomas Ziegler
Abstract. A new species of the genus Hemiphyllodactylus is described from Luang Prabang Province, northern Laos. Hemiphyllodactylus kiziriani sp. nov. is distinguished from the remaining congeners by morphology, coloration, and a significant genetic divergence of greater than 20% (ND2 gene). The new species from Laos is characterized by the following features: SVL of adult males 35.1–40.1 mm, of adult females 36.3–40.8 mm; dorsal scale rows 18–27; ventral scale rows 11–15; chin scales bordering mental and first infralabial distinctly enlarged; digital lamellae formulae 3-4-4-4 (forefoot) and 4-4/5-4/5-4 (hindfoot); femoral pores 0–4, total precloacal pores 10–13 in males, 8–10 pitted precloacal scales in females; cloacal spurs present in both sexes; dorsal trunk pattern dark brown with two rows of irregular transverse bands; dark lateral head stripe distinct; upper zone of flank with a dark brown stripe; caecum and gonadal ducts unpigmented.
Hemiphyllodactylus kiziriani sp. nov.
Holotype. IEBR A.2014.3, adult male, collected by Truong Quang Nguyen, Nicole Schneider, and Liphone Nophaseud on 10 August 2013, on limestone wall of a small cave (19o48.708’N, 102o06.188’E, 637 m a.s.l. elevation), near Ban Xieng Muak Village, Luang Prabang District, Luang Prabang Province, Laos.
Description of the holotype. Body dorsolaterally flattened, size small SVL 40.1mm, tail regenerated (TaL 19+11.8 mm), trunk length (TrunkL) 19.7mm, head slightly longer than wide (HeadL 7.4mm, HeadW 6.7mm), eye moderate (EyeD 2.7mm), ear opening oblique (EarD 0.8mm), nare-eye length (NarEye 3.2mm), snout-eye length (SnEye 4.2mm), internarial distance (SnW 1.7mm). Proportions: TrunkL/SVL 49.1%, HeadL/SVL 18.5%, HeadW/SVL 16.7%, HeadW/HeadL 90.5%, SnEye/HeadL 56.8%, NarEye/HeadL 43.2%, EyeD/HeadL 36.5%, SnW/HeadL 23%, EyeD/NarEye 84.4%, SnW/HeadW 25.4%. Scalation. Rostral very large, wider than high (rostral width 1.7mm, rostral height 0.9mm), with a shallow, but distinct suture; supralabials 11/11, enlarged from rostral to below eye, smaller in subocular rictus; nare in contact with rostral, first supralabial, supranasal, and two nasals posteriorly on each side; supranasals separated from each other by three small granular internasals; snout flat, covered by granular scales; pupil vertical; ear opening oblique, oval, approximately 29.6% of the eye diameter, without bordering enlarged scales; mental triangular, wider than long; infralabials 10/10; three enlarged postmentals, outer ones distinctly larger than the middle scale, in contact with mental and first infralabials anteriorly; nine chin scales, all enlarged and of same size; dorsal scale rows 21–23 at midbody (contained within one eye diameter), enlarged tubercles absent, ventral scales larger than dorsal scales in 13 or 14 rows at midbody (contained within one eye diameter); dorsal surface of fore and hindlimbs covered with granular scales; terminal two phalanges free, claws absent on first finger, minute on first toe, present on second to fifth digit of fore and hindfoot; pads of digits II–V each with large triangular lamella, digital formula 3-4-4-4 (forefoot) and 4-4-5-4 (hindfoot); femoral and precloacal pore series continuous, 13 in total, asymmetrically arranged (femoral pores four on the left side, absent on the right side); cloacal spurs one; lamellae five on first fingers, five on first toes; dorsal caudal scales granular; subcaudals flat, slightly larger than dorsal caudal scales.
Coloration in preservative. Ground color of dorsal surface of head and body yellowish grey; two dark brown streaks originating from posterior corner of eye on each side, the upper one extending to the neck but not forming a nuchal loop, the lower one connecting with a dark dorsolateral stripe extending along the flank to tail base; a dark brown band present on neck; neck and dorsum with a row of vertebral light spots; two rows of narrow dark brown bands present along dorsum but not connected with each other; dorsal surface of limbs grey with dark bars; upper and lower lips with dark bars; distinct postsacral mark with middorsal dark brown spot, bordered posteriorly and laterally by an U-shaped arm which can extend to posterior edge of abdomen; dorsal tail base with dark bands, generated part of the tail dark grey; throat, venter, and precloacal region cream, outer area with small dark brown dots; caecum and testis white, unpigmented. For color and pattern in life see Fig. 2.
Etymology.We name the new species in honour of Dr. David A. Kizirian, American Museum of Natural History (New York, USA), in recognition of his contribution to herpetological research in the Indochina region. As common names we suggest Kizirian’s Slender Gecko (English), Kizirians Halbblattfingergecko (German), and Thạch sùng dẹp ki-zi-ri-an (Vietnamese).
Natural history. Hemiphyllodactylus kizirianiinhabits disturbed secondary limestone forests near a residential area at elevations between 590 and 640 m. Specimens were found at night on tree bark and limestone cliffs near cave entrances or on a limestone boulder near a forest path, ca. 0.2–1.2 m above the ground. Two female paratypes (IEBR A.2014.5, NUOL R-2014.2) were gravid with two shelled eggs each. 
Distribution.The species is currently known only from Luang Prabang Province in northern Laos 
References: Zootaxa3827 (1): 045–056 (2 Jul. 2014)
10/07/2014

Các loài chim mới ghi nhận cho Phú Quốc

 Hình 1 - Hù phương đông Strix seloputo (Ảnh: Trần Văn Bằng/SIE)
Ba loài chim mới ghi nhận cho đảo Phú Quốc Hù phương đông Strix seloputo, Cú muỗi mào Eurostopodus macrotis và ó cá Pandion haliaetus
Đảo Phú Quốc, đảo lớn nhất của Việt Nam, được biết đến như một khu du lịch biển nổi tiếng không chỉ của Việt Nam mà cả thế giới. Tuy nhiên, bên cạnh biển, Phú Quốc còn gìn giữ thảm thực vật rừng tự nhiên với giá trị bảo tồn cao và Vườn quốc gia Phú Quốc với 31.244 ha đóng vai trò quan trọng trong gìn giữ giá trị đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan, môi trường, và nguồn nước của đảo Phú Quốc. Tại đây, các nhà khoa học đã xác định được 208 loài động vật với 28 loài thú, 119 loài chim, 47 loài bò sát và 14 loài lưỡng cư; và 1.164 loài thực vật với 12 loài quý hiếm và 54 loài đặc hữu (Theo Phân viện điêu tra quy hoạch rừng Nam Bộ).

Khu hệ chim của Phú Quốc (bao gồm cả Vườn quốc gia và toàn bộ huyện Đảo) đã được khảo sát và có những sản phẩm hay giúp người dân hiểu rõ hơn về Phú Quốc. Năm 2006, Lê Mạnh Hùng và Wildlife at Risk xuất bản sách “Các loài chim ở Phú Quốc – Birds of Phu Quoc Island” với hình ảnh minh họa của 111 loài chim trong tổng số 132 loài chim đã được ghi nhận ở Phú Quốc.

Hình 2 - Cú muỗi mào Eurostopodus macrotis (Ảnh: Trần Văn Bằng/SIE)
Trong khuôn khổ hoạt động nghiên cứu của mình, Viện sinh thái học Miền Nam đã có một chuyến sơ thám ngắn nhằm tìm hiểu về voọc bạc Đông Dương Trachypithecus germaini ở Phú Quốc. Trong chuyến sơ thám này, các nhà khoa học của Viện đã ghi nhận thêm được 3 loài chim mới cho Phú Quốc, nâng tổng số loài chim cho Phú Quốc lên 135 loài. Các loài ghi nhận mới bao gồm:
Hù phương đông Strix seloputo: trên thế giới, Hù phương đông có vùng phân bố từ Myanmar đến Philippin và một số đảo của Indonesia như Java, Sumatra. Ở Việt Nam, hù phương đông được biết đến chỉ sống khu vực Miền Nam Việt Nam.
Cú muỗi mào Eurostopodus macrotis: Loài này có vùng phân bố rộng ở Châu Á bao gồm khu vực Đông nam Á, Ấn Độ, Trung Quốc, Tây Tạng, Bangladesh. Ở Việt Nam, khu vực có loài cú muỗi mào được biết đến nay còn rất ít, có thể kể một số khu vực VQG Cát Tiên, Hà Nội, Tây Ninh.
Hình 3 - Ó cá Pandion haliaetus (Ảnh: Trần Văn Bằng)
Ó cá Pandion haliaetus: Ó cá là loài chim ăn thịt có kích thước lớn và vùng phân bố rộng ở Việt Nam cũng như thế giới.
Theo http://sie.vast.vn/

(
08/07/2014

Phát hiện chi và loài mới Bọ Que Thừa Thiên Huế

 
Một cặp Bọ que gai Brockphasma spinifemoralis. A couple of Brockphasma spinifemoralis. Photo by Rob Krijns
(BiodiVn) Các nhà côn trùng học thuộc Hồng Kông, Trung Quốc và Bỉ vừa phát hiện một chi (genus) và loài (species) mới cho khoa học được phát hiện từ Vườn Quốc Gia Bạch Mã, Thừa Thiên Huế, Việt Nam. Chi mới Brockphasma và loài mới Bọ que gai Brockphasma spinifemoralis (Bộ Phasmida: họ Necrosciinae) được thu mẫu từ năm 2011, được mô tả và công bố trên tạp chí Zootaxa (Tập 3826, số 1, trang 282–290) vào ngày 27 tháng 6 vừa qua.


Con đực Bọ que gai Brockphasma spinifemoralis (A male of Brockphasma spinifemoralis). Photo by Rob Krijns

Trên toàn bộ cơ thể của loài Bọ que gai này  phủ gai lởm chởm (kể cả chân), giống như gai hoa hồng, với kích thước gai ở các bộ phận là khác nhau. Hình dạng cơ thể con đực và con cái tương đối giống nhau, chỉ khác về kích thước và màu sắc. Con đực có màu chủ đạo là màu xám xen lẫn màu nâu và đen. Con cái có màu chủ đạo là xanh lục đậm xen lẫn màu đen. Con cái có kích thước cơ thể khoảng chừng 5 cm, con đực có kích thước nhỏ hơn.

Con cái Bọ que gai Brockphasma spinifemoralis (A Female of Brockphasma spinifemoralis). Photo by Rob Krijns
Đây là một công bố khoa học rất thú vị, qua đó thấy được sự đa dạng sinh học của Việt Nam và còn rất nhiều loài sinh vật rừng vẫn đang chờ được khám phá.

Brockphasma spinifemoralisgen. etspec. nov.: a new phasmid genus and new species of Neohiraseini (Phasmida: Necrosciinae) from Vietnam
GEORGE WAI-CHUN HO (1), XING-YUE LIU (2), JOACHIM BRESSEEL & JEROME CONSTANT (3).
1-Hong Kong Entomological Society. P. O. Box No.73749, Kowloon Central Post Office, Hong Kong. E-mail: georgehwc@hotmail.com.
2-China Agricultural University. Department of Entomology, College of Agriculture and Biotechnology, China Agricultural University, Yuanmingyuan West Road 2, Beijing 100193, P. R. China. E-mail: liuxingyue@cau.edu.cn.
3-Royal Belgian Institute of Natural Sciences, Department of Entomology, Vautier street 29, B-1000 Brussels, Belgium. E-mail: joachimbresseel@gmail.com & jerome.constant@naturalsciences.be
Abstract
A new genus of stick insects, BrockphasmaHo gen. nov., with the type-species, Brockphasma spinifemoralis Ho, Liu, Bresseel & Constant spec. nov., is described and illustrated from Vietnam. Both sexes, the egg and the first instar nymph are described and figured. Data on the habitat and natural foodplants are provided. BrockphasmaHo gen. nov.is differ-entiated from other genera in Neohiraseini by spinose occiput, anterior region of mesonotum with a spinose hump and spinose anterodorsal and posterodorsal carinae of femora. A key to the genera of Neohiraseini from Vietnam is given.

References: Zootaxa3826 (1): 282–290
www.mapress.com/zootaxa/
http://dx.doi.org/10.11646/zootaxa.3826.1.9

Ba loài Nhện mới cho khoa học từ Tam Đảo, Cúc Phương

Ảnh minh hoạ. A spider species in the forest of of Lo Go - Xa Mat.
(BiodiVn) Họ Nhện Mysmenidae lần đầu tiên được ghi nhận tại Việt Nam cùng với 3 loài mới cho khoa học đã được mô tả bởi các nhà Côn trùng học Trung Quốc. Bài mô tả các loài này vừa được công bố trên tạp chí Zootaxa (Tập 3826, số 1, trang 169–194) vào cuối tháng 6 vừa qua.
Vào các năm 2007 và 2008, Yu Cheng Lin (ĐH Tứ Xuyên) và Shu Quang Li ( Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc) đã thu thập được các mẫu vật Nhện lạ thuộc họ Mysmenidae có kích thước rất nhỏ, nhỏ hơn 3 mm từ Việt Nam. Sau khi nghiên cứu dưới kính hiển vi soi nổi họ đã xác định chúng là các loài mới lần đầu tiên được mô tả cho khoa học.
Loài Nhện mới Calodipoena tamdaoensis n. sp. được phát hiện tại Vườn Quốc gia Tam Đảo, còn hai loài Nhện mới khác là Gaoligonga taeniata n. sp. và Mysmena maculosa n. sp được phát hiện từ Vườn Quốc gia Cúc Phương, Việt Nam. 
Theo các nhà Côn trùng học thì Việt Nam hiện nay là điểm nóng của Đa dạng Sinh học Nhện, trong đó có rất nhiều loài mới thuộc các họ Amaurobiidae, Zodariidae, Sparassidae, Linyphiidae, Thomisidae, Hahniidae và Oonopidae được phát hiện trong các năm gần đây.

Mysmenidae (Arachnida, Araneae), a spider family newly recorded from Vietnam
YUCHENG LIN, Key Laboratory of Bio-resources and Eco-environment (Ministry of Education), College of Life Sciences, Sichuan University, Chengdu, Sichuan 610064, China; & SHUQIANG LI, Institute of Zoology, Chinese Academy of Sciences, Beijing 100101, E-mail: lisq@ioz.ac.cn
Abstract
The spider family Mysmenidae is reported from Vietnam for the first time. Both sexes of three new species are described: Calodipoena tamdaoensis n. sp. from Tam Dao National Park, Gaoligonga taeniata n. sp. and Mysmena maculosa n. sp. from Cuc Phuong National Park. Morphological descriptions, diagnoses and comparative illustrations are provided.

References: Zootaxa 3826 (1): 169–194

...
07/07/2014

Làng quê náo động vì Ươi (Scaphium macropodium)

Cảnh những cây Ươi cổ thụ bị chặt để lấy quả. Ảnh Gia Tân
Theo thống kê, chỉ trong vòng khoảng 1 tháng qua, khoảng 1.000 cây Ươi (Lười Ươi) có tuổi đời từ trên 30 năm tuổi thuộc khu vực rừng phòng hộ ở huyện Sơn Hà (Quảng Ngãi) bị đốn hạ.
Rừng xanh chảy máu
Với diện tích rừng già, nguyên sinh chiếm đến 7.000/14.570ha nằm chủ yếu trong khu vực phòng hộ đầu nguồn công trình thủy lợi Thạch Nham; xã Sơn Kỳ, huyện Sơn Hà hiện là địa phương còn cây ươi rừng nhiều nhất nhì của tỉnh Quảng Ngãi. Vì vậy vào mùa ươi năm nay, Sơn Kỳ trở thành "điểm nóng" nhất của việc khai thác ươi rừng theo kiểu tận diệt của người dân nơi đây.

Chương trình "Quản lý tổng hợp vùng bờ" ở Xuân Thủy

Một góc Vườn quốc gia Xuân Thủy - Nam Định. Ảnh: MH
(TN&MT) - Chương trình Quản lý tổng hợp vùng bờ đang được triển khai tại nhiều địa phương có biển trong cả nước đã cho thấy hiệu quả thiết thực của nó trong việc bảo vệ nguồn lợi ven bờ khai thác tài nguyên bền vững, đặc biệt là khu vực Vườn quốc gia Xuân Thủy, Nam Định.
Cộng đồng biết tự bảo vệ
06/07/2014

Hai loài cây mới ở Hà Giang Begonia longa, B. guixiensis

Thu hải đường thân dài Begonia longa. Ảnh Ching-I Peng et al, 2014.
(biodivn.blogspot.com) Các nhà khoa học Đài Loan, Trung Quốc và Việt Nam vừa phát hiện và mô tả hai loài Thu hải đường Begonia thuộc section Coelocentrum mới tại vùng biên giới và giáp ranh biên giới Việt Nam. Hai loài mới cho khoa học là Thu hải đường thân dài Begonia longa C.-I Peng & W.C. Leong phát hiện tại Hà Giang - Việt Nam và Thu hải đường quảng tây Begonia guixiensis Yan Liu, S.M. Ku & C.-I Peng phát hiện tại vùng phía Nam Quảng Tây - Trung Quốc.
Thu hải đường thân dài Begonia longa. Ảnh Ching-I Peng et al, 2014.

Loài Thu hải đường thân dài Begonia longa có thân rễ dài đến 50 cm, lá có cuống dài đến 25 cm, phiến lá hình khiên dài đến 15 cm, mọc tại khu vực núi đá vôi rừng cây lá rộng tại huyện Quản Bạ của Hà Giang. Chúng ra hoa vào tháng 4 đến tháng 8, hoa có màu tổng thể là màu trắng, nhị vàng. Loài này được thu mẫu từ năm 2004, tuy nhiên mãi đến nay (7-2014) thì mới được mô tả và công bố.
Thu hải đường quảng tây Begonia guixiensis. Ảnh Ching-I Peng et al, 2014.
Loài Thu hải đường quảng tây Begonia guixiensis phát hiện tại vùng phía Nam Quảng Tây, giáp với Việt Nam. Chúng có thân rễ dài 30 cm, lá có cuống dài đến 14 cm, phiến lá hình elip dài đến 16 cm. Ra hoa vào tháng 7 đến tháng 10, hoa cũng có màu tổng thể là trắng, nhị vàng. Chúng phân bố tại vùng núi đá vôi khô và ẩm. (biodivn.blogspot.com) 
Thu hải đường quảng tây Begonia guixiensis. Ảnh Ching-I Peng et al, 2014.

Two new species of Begonia sect. Coelocentrum , B. guix iensis and B. longa, from Sino-Vietnam ese lim estone karsts
Botanical Studies 2014, 55:52 doi:10.1186/s40529-014-0052-8
Ching-I Peng (bopen g@gate.si n i ca.edu .tw); Sh i n -Mi n g Ku (smku 67815@yah oo.com.tw); H su n -An Yan g (sh i n 34tfg@gmai l .com); Wai -Ch ao Leon g (wai ch aol eon g@gmai l .com); Yan Li u (gx i bl y@163.com); Ti en H i ep N gu yen (h i eu .n gu yen @cpcv n .org); Yosh i ko Kon o (ykon o5196@goo.j p); Ku o-Fan g Ch u n g (ku ofan gch u n g@n tu .edu .tw)
Abstract
Background
In our recent molecular phylogenetic study of Asian Begonia, two undescribed species, B. guixiensis sp. ined. (S. Guangxi, China) and B. longa sp. ined. (Vietnam), were sampled and placed within the strongly supported clade composed of Begonia sect. Coelocentrum and other co-distributed rhizomatous species in the Sino-Vietnamese limestone karsts. While Begonia sect. Coelocentrum has been recircumscribed based on the phylogenetic relationships, B. guixiensis sp. ined. and B. longa sp. ined. remain illegitimate names. In continuation of our studies in Asian Begonia, these two new species are described and illustrated.
Results
Begonia guixiensis resembles B. cylindrica in the peltate, subcoriaceous leaves, differing by the shape of ovary/fruit and the type of placentation. In aspect, B. longa bears a superficial resemblance to B. brevipedunculata in leaf shape in particular, differing by many other features such as the long internodes, shorter petioles and smaller leaves, longer peduncles and 3-locular ovary. The chromosome number of both new species is determined as 2n = 30.
Conclusion
A careful study of the literature, herbarium specimens and living plants, both in the wild and in cultivation in the experimental greenhouse, support the recognition of the two new species, which are described and illustrated herein.
Bản đồ phân bố hai loài Thu hải đường thân dài Begonia longa và Thu hải đường quảng tây Begonia guixiensis ở Việt Nam và Trung Quốc. Ảnh Ching-I Peng et al, 2014.

Phiên bản cuối cùng có thể tìm thấy tại:  và