Zingiberaceae

Các loài thực vật mới cho khoa học phát hiện ở Việt Nam 2014

Nycticebus pygmaeus

Buôn bán động vật hoang dã ở Việt Nam.

Ex-situ conservation of Xanthocyparis vietnamensis

Bảo tồn chuyển vị loài Bách vàng ở Hà Giang. Photo by Pham Van The.

Hoya longipedunculata

Cẩm cù cuống dài, loài mới 2012 ở Quảng Nam, Việt Nam. Photo by Pham Van The.

Forest fired

Cháy rừng Khộp, nguyên nhân suy thoái Đa dạng sinh học.

Taxus wallichiana var. chinensis

Thông đỏ bắc, loài trong Sách đỏ Việt Nam, phân bố miền Bắc. Photo by Pham Van The.

Ovophis monticola

Rắn lục núi, loài bị đe đoạ cấp R, phân bố Tây Bắc - Việt Nam.

Paphiopedilum canhii

Lan hài cảnh, loài đứng bên bờ vực tuyệt chủng, phân bố Việt Nam, Lào

30/07/2014

Thêm loài Cẩm cù rừng mới Hoya lyi cho Việt Nam

Cẩm cù ly Hoya lyi nở hoa trong tự nhiên. Ảnh Chu Xuân Cảnh (Click vào ảnh để xem hình gốc)
(BiodiVn) Vào cuối tháng 6, 2014 tôi có nhận được vài bức ảnh của TS. Leonid Averyanov (Viện Thực vật Komarov, Nga), anh Nguyễn Sinh Khang (Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Việt Nam) và anh Chu Xuân Cảnh (một người chơi Lan tài tử ở Hội Lan Tràng An) về môt loài Cẩm cù rừng lạ của Việt Nam. Những bức ảnh này làm tôi khá bất ngờ và nghi ngờ đây là loài Cẩm cù chưa từng được ghi nhận ở tự nhiên Việt Nam, thậm chí có thể là một loài mới cho khoa học. 

29/07/2014

Bốn loài Ruồi đen Simulium mới ở Vĩnh Phúc

Hình ảnh minh hoạ một loài ruồi đen Simulium. Ảnh misc.medscape.com
(BiodiVn) Nhà côn trùng học Phạm Hồng Thái (Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật - VAST) và các nhà khoa học nước ngoài vừa mô tả 4 loài ruồi đen mới, và bổ sung 3 loài mới cho Việt Nam dựa trên các con trưởng thành được nuôi lớn từ ấu trùng và nhộng. Các mẫu vật này được thu trong và vùng lân cận Vườn Quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc, Việt Nam. 

28/07/2014

Thằn lằn mới ở Tây Ninh Cyrtodactylus thuongae

Thằn lằn ngón thương Cyrtodactylus thuongae trong tự nhiên. Ảnh Phùng Mỹ Trung
Các nhà nghiên cứu của Việt Nam và Đức vừa phát hiện thêm loài thằn lằn chân ngón mới thứ ba ở núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh. Mô tả loài mới vừa được công bố trên tạp chí Zootaxa (Tập 3763, số 3, trang 347-363, 11/2/2014). Đây là phát hiện hết sức thú vị chứng minh tiềm năng đa dạng sinh học cao ở Việt Nam nói chung và núi Bà Đen nói riêng. Loài mới Thằn lằn ngón thương Cyrtodactylus thuongae được đặt theo tên của TS. Nguyễn Thị Liên Thương, thành viên nữ duy nhất của trang web vncreatures và là người đã có những đóng góp trong công tác nghiên cứu và khám phá đa dạng sinh học ở Việt Nam.
“Cách đây khoảng 3 năm, tôi tình cờ thu được một mẫu thằn lằn đã chết ở khu vực phía đông của dãy núi Bà Đen. Sau đó, chúng tôi đã tốn khá nhiều công sức để tìm kiếm và thu thập thêm mẫu vật của loài thằn lằn lạ này nhưng không thành công”, anh Phùng Mỹ Trung - quản trị trang Web Sinh vật rừng Việt Nam - cho biết. 
"Vào tháng 10 năm 2012, trong một đợt đi khảo sát thực địa ở phía nam núi Bà Đen, chúng tôi nghỉ chân tại một hang núi ở độ cao khoảng 600 m, tôi thu thêm được một mẫu thằn lằn lạ ở khe nước chảy ngầm nằm sâu trong một hang đá hẹp. Vài tuần sau đó tôi đã liên tục quần thảo nhiều đêm ở khu vực này và chui sâu xuống nhiều hang đá nhưng kết quả chỉ gặp 2 mẫu con cái. Như vậy việc mô tả loài mới chưa thể thực hiện được vì việc so sánh hình thái giữa các loài tắc kè thường phải dựa vào đặc điểm của con đực. Nhưng tôi tin chắc rằng chẳng sớm thì muộn mẫu cá thể đực loài này sẽ thu được để kiểm tra. Cuối cùng vào tháng 6 năm 2013, khi những cơn mưa đầu mùa bắt đầu xuất hiện ở khu vực núi Bà Đen thì cũng là thời điểm tôi đã may mắn bắt gặp 2 cá thể đực. Qua phân tích những khác biệt về hình thái, các nhà khoa học đã chính thức mô tả và công bố loài mới này trên tạp chí khoa học của New Zealand”.
Thằn lằn ngón thương Cyrtodactylus thuongae trong tự nhiên. Ảnh Phùng Mỹ Trung.
Vào năm 2006, các nhà nghiên cứu của Nga và Việt Nam đã công bố 2 loài thằn lằn chân ngón mới ở núi Bà Đen gồm Thằn lằn ngón bà đen Cyrtodactylus badeniiThằn lằn chân ngón mắt đen Cyrtodactylus nigrocularis. Điểm đáng chú ý là cả 3 loài thằn lằn chân ngón cùng được ghi nhận ở dạng sinh cảnh hang hoặc vách đá trong rừng thường xanh. Hiện nay mặc dù có nhiều loài mới đã được phát hiện ở khu vực núi Bà Đen nhưng sinh cảnh và các quần thể động vật hoang dã đang chịu tác động nặng nề từ các hoạt động của con người. Sinh cảnh sống của chúng bị thu hẹp và suy thoái do phá rừng làm nương rẫy và xả rác thải bừa bãi của khách du lịch. Ngoài ra, việc săn bắt các loài Tắc kè bà đen để bán cho các nhà hàng đặc sản ở Tây Ninh và các tỉnh lân cận khiến cho nhiều loài cư ngụ ở khu vực này đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Hy vọng các cấp các ngành cần có biện pháp mạnh tay để bảo tồn nguồn gen các loài mới phát hiện cũng như các loài sinh vật đã sống và tồn tại nơi đây.
Loài Thằn lằn ngón thương Cyrtodactylus thuongae có chiều dài đầu và thân đạt tới 78 mm; trên lưng có các đốm màu nâu sẫm, vùng gáy có các vệt sẫm màu nhưng không nối liền với nhau; lưng có 16-18 hàng nốt sần; có 29-44 hàng vảy bụng; cá thể đực có 0-3 lỗ đùi mỗi bên, cách biệt với 0-1 lỗ trước hậu môn bởi các vảy không có lỗ; vùng trước hậu môn có các vảy lớn. Đây cũng là loài thằn lằn chân ngón thứ 32 được ghi nhận ở Việt Nam. 
Theo http://www.vncreatures.net/

A third new Cyrtodactylus (Squamata: Gekkonidae) from Ba Den Mountain, Tay Ninh Province, southern Vietnam
TRUNG MY PHUNG, MONA VAN SCHINGEN, THOMAS ZIEGLER, Truong Quang Nguyen

AbstractWe describe the third new species of the genus Cyrtodactylus from Ba Den Mountain, Tay Ninh Province, southern Vietnam based on a type series consisting of eleven specimens. Cyrtodactylus thuongae sp. nov. is distinguished from the remaining Indochinese Bent-toed Geckos by a combination of the following morphological characters: size medium, with a maximum SVL of 77.6 mm; dorsal pattern consisting of blotches between limbs and on occiput and a sometimes medially opened nuchal loop; dorsal tubercles in 16–18 irregular rows; ventrals in 29–44 longitudinal rows at midbody; lateral skin folds present, lacking tubercles; femoral pore series separated from precloacal pore series in males, 0–3 on each side; precloacal pores in males absent or only one; enlarged femoral scales and precloacal scales present, separated by a series of 15–16 smaller scales; postcloacal spurs two or three; subcaudal scales slightly enlarged. This is the 32nd describedCyrtodactylus species from Vietnam.

Phiên bản cuối cùng của bài báo có thể tìm thấy tại

Thằn lằn mới ở Bà Nà Hemiphyllodactylus banaensis

Thằn lằn chân nửa lá bà nà Hemiphyllodactylus banaensis sp. nov. Ảnh Ngô Văn Trí.
(BiodiVn) Nhà nghiên cứu động vật ở Viện Sinh học Nhiệt đới là Ngô Văn Trí (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) và cộng sự là Phạm Hồng Thái (phòng Giáo dục Quận Cẩm Lệ, Đà Nẵng) và các nhà nghiên cứu quốc tế khác là L.Lee Grismer (Đại học La Sierra, Hoa Kỳ) và P.L. Wood Jr (đại học Brigham Young, Hoa Kỳ) vừa công bố một loài sinh vật rừng mới cho khoa học được phát hiện tại Khu Bảo Tồn Thiên nhiên Bà Nà – Núi Chúa, Đà Nẵng. Loài mới này được đặt tên theo địa danh nơi phát hiện ra chúng là Thằn lằn chân nửa lá bà nà Hemiphyllodactylus banaensis sp. nov. Ngô, Grismer, Phạm & Wood Jr. 2014  đăng tải trên tạp chí chuyên ngành Zootaxa (tập 3760, số 4, trang 539-552,  ra ngày 4 tháng 2 năm 2014).


Thằn lằn chân nửa lá bà nà Hemiphyllodactylus banaensis sp. nov. Ảnh Phạm Hồng Thái

Loài Thằn lằn chân nửa lá bà nà Hemiphyllodactylus banaensis trước đây từng bị định loại nhầm là Thằn lằn chân nửa lá vân nam H. yunnanensis. Chúng được phân biệt với tất cả các loài khác bởi chiều dài đầu - thân (không tính đuôi) tối đa là 48,2 mm ở con đực, và 51,0 mm ở con cái. Chúng có 7 vảy hàng ngang ở cằm, 4–11 vảy gian mũi giữa, 2 vảy mũi; 9–12 vảy môi trên, 9–11 vảy môi dưới, 18–20 hàng vảy lưng chạy dọc thân ở giữa trong vòng độ rộng của đường kính mắt, 9–12 hàng vảy bụng. Con đực còn có 20–21 vảy mang lỗ trước huyệt và vảy dưới đùi liên tục trong khi con cái có 0–20 vảy mang lỗ trước huyệt và vảy đùi. Ngoài ra chúng mang các đặc điểm quan trọng khác như trên cơ thể có những hoa văn bao gồm các vệt ngang và lưng có hai sọc trắng trên vai kéo dài đến xương cùng. Về mặt giải phẫu chúng mang các đặc điểm khác biệt như ruột tịt và ống dẫn trứng không sắc tố.

Thằn lằn chân nửa lá bà nà Hemiphyllodactylus banaensis được tìm thấy trong rừng thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở khu BTTN Bà Nà - Núi Chúa, Đà Nẵng, Việt Nam. 


A new species of Hemiphyllodactylus Bleeker, 1860 (Squamata: Gekkonidae) from Ba Na–Nui Chua Nature Reserve, Central Vietnam
NGO VAN TRI, L. LEE GRISMER, PHAM HONG THAI, P. L. Wood, Jr.

Abstract. A new species of the gekkonid Hemiphyllodactylus banaensis sp. nov. is described from Ba Na–Nui Chua Nature Reserve in central Vietnam. Previously included within H. yunnanensis, the new species is distinguished from all other congeners by having the unique combination of a maximum SVL of 48.2 mm in males and 51.0 mm in females; seven chin scales extending transversely from the union of the first and second infralabials and posterior margin of mental; enlarged postmental scales; 9–12 supralabials; 9–11 infralabials; 18–20 longitudinally arranged dorsal scales at midbody contained within one eye diameter; 20–21 precloacal and femoral pore-bearing scales contiguous in males and 0–20 contiguous pore-bearing precloacal scales in females; dorsal pattern on body composed of transverse blotches and two whitish stripes across shoulder extending to sacrum; postsacral mark whitish brown and bearing anteriorly projecting arms; and caecum and oviducts unpigmented.
Phiên bản cuối cùng có thể tìm thấy tại  
24/07/2014

Phòng kỷ mới ở Quảng Bình Aristolochia quangbinhensis

Hoa Phòng kỷ quảng bình Aristolochia quangbinhensis trong tự nhiên. Ảnh Nghiêm Đức Trọng.
(BiodiVn) - Vào hồi đầu năm 2014, tạp chí khoa học PhytoKeys (số 33, trang 51-59) đã công bố một loài thực vật thuộc chi Phòng kỷ (Aristolochia) họ Mộc hương (Aristolochiaceae) mới cho khoa học được phát hiện tại Quảng Bình, Việt Nam. Chi Phòng kỷ Aristolochia có khoảng 500 loài, phân bố chủ yếu vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Các loài trong chi này được sử dụng rộng rãi trong nền y học dân tộc của Việt Nam và Trung Quốc, ngoài ra, đây cũng là nhóm thực vật quan trọng trong nghiên cứu đồng tiến hóa của sinh giới.
Loài thực vật mới này được một nhóm các nhà thực vật học gồm Đỗ Văn Trường (Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), Nghiêm Đức Trọng (Đại học Dược Hà Nội) và hai người khác từ Viện Thực vật Dresden – Cộng hòa Liên bang Đức mô tả.
Hoa Phòng kỷ quảng bình Aristolochia quangbinhensis trong tự nhiên nhìn ngang. Ảnh Nghiêm Đức Trọng.
Tên loài: Phòng kỷ quảng bình Aristolochia quangbinhensis T.V.Do; được đặt theo địa danh tỉnh Quảng Bình, nơi phân bố tự nhiên của loài này.
Mô tả: Dây leo thân gỗ lâu năm, rễ nhiều. Thân có lông nhung màu nâu vàng khi non, nhẵn khi già. Cuống lá dài 1.5-2.5 (-3) cm, thẳng, nhiều lông nâu vàng; Phiến lá hình elip thuôn dài đến elip, dài (6 -) 8-13 (-14) cm, rộng 3-5 (-6) cm, mũi nhọn, mặt trên nhẵn, màu xanh đậm, mặt dưới đầy lông nhung nâu vàng, gân chính 3, mạng chân vịt, gân phụ 7-8 cặp, mạng lông chim, gân nổi trên cả hai mặt. Hoa nách lá, cô độc. Cuống dài 1,5-2 cm, rủ xuống, tím, nhiều lông tơ. Cuống, lá bắc và bao hoa đông bao phủ bởi lông đa bào màu vàng-nâu. Bao hoa hình chữ S, dài (3 -) 3,2-3,5 cm, bên ngoài nhiều lông màu vàng nâu tối, gân hoa song song, bên trong nhẵn. Bầu thuôn dài, (0,8) dài 1-1,2 cm, đường kính 0,3-0,4 cm., màu vàng-xanh, noãn nhiều. Ống hình trứng, dài (1,2) 1,5-1,8 cm, đường kính 0,5-0,6 (-0,8) cm, bên ngoài màu trắng, bề mặt bên trong màu tím đên, ống cong mạnh mẽ tại gốc. Vành ba thùy, hình chuông, đường kính 2-2,5 (-3) cm, màu tím-hồng ở cả hai mặt, mặt ngoài nhiều lông xồm xoàm, mặt trong mịn, ba thùy bất xứng; họng tròn, tím-đen; nhị 6 trong 3 cặp; bao phấn thuôn dài, dài (2 -) 2,5-3 mm, màu vàng, mở dọc . Quả chưa thấy.
Loài gần giống: Loài mới có đặc điểm hình thái tương tự với các loài Aristolochia championii Merrill (Nam Trung Quốc), A. vallisicola Yao (bán đảo  Malaysia) và A. versicolor Hwang (Nam Trung Quốc ). Tuy nhiên, loài mới được phân biệt với các loài kể trên bởi những đặc trưng hình thái sau: cuống lá dài 1.5–2.5(–3) cm, phiến lá hình e líp đến e líp thuôn; cuống cụm hoa dài 1.5–2 cm; đài hình chuông, đường kính 2–2.5 (–3) cm, duy nhất màu hồng, phớt tím trên cả 2 mặt, bao hoa không có các chấm màu và gân song song, bao hoa 3 thùy không đều nhau, mép các thùy cuộn tròn. 
Hoa Phòng kỷ quảng bình Aristolochia quangbinhensis trong tự nhiên, nhìn từ phía sau. Ảnh Nghiêm Đức Trọng.
Phân bố: Mới chỉ gặp ở huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình, Việt Nam
Sinh thái: Loài mới được phát hiện dưới tán rừng lá rộng thường xanh trên núi đất thấp, gần với khu vực vùng đệm Vườn Quốc Gia Phong Nha-Kẻ Bàng, Quảng Bình, nơi đây đang chịu những tác động mạnh từ hoạt động đốt, phá rừng mở rộng diện tích đất canh tác, làm suy giảm vùng phân bố và kích thước của quần thể.
Vật hậu học: Mẫu vật có hoa thu được vào tháng 4, tháng 5, nhưng có khả năng chúng bắt đầu có hoa vào tháng 3.
Thân mang hoa và lá Phòng kỷ quảng bình Aristolochia quangbinhensis trong tự nhiên. Ảnh Nghiêm Đức Trọng.
Đề nghị tình trạng bảo tồn: Đoàn nghiên cứu mới chỉ phát hiện được 2 cá thể của loài mới này trong tự nhiên cách nhau 50m. Do đó, khả năng vùng phân bố của loài này là nhỏ hơn 20km2, số lượng cá thể thấp. Vậy theo tiêu chuẩn của IUCN (2013), loài mới được đề nghị ở mức Sắp nguy cấp Vulnerable (VU D2) hoặc Nguy cấp (EN).
BiodiVn xin gửi lời cảm ơn chân thành đến DS. Nghiêm Đức Trọng đã gửi tặng ảnh cho Blog!

PhytoKeys 33: 51–59, doi: 10.3897/phytokeys.33.6094
Aristolochia quangbinhensis (Aristolochiaceae), a new species from Central Vietnam

Truong Van Do, Trong Duc Nghiem, Stefan Wanke and Christoph Neinhuis 

Aristolochia quangbinhensis T. V. Do, sp. nov.
Type. VIETNAM. Quang Binh province: Minh Hoa district, Hoa Luong community, 17°47'5.00"N, 105°52'20.05"E, elev. 380 m, 3 April 2013, T.V. Do 39 (holotype: VNMN; isotype: DR).
Description. Perennial woody lianas. Roots numerous, fasciculate and cylindrical. Stems terete, densely yellow-brown villous when young, older stems with corky bark, glabrous. Petiole 1.5–2.5(–3) cm long, straight, densely covered with yellow-brown trichomes; lamina elliptic to oblong-elliptic, (6–)8–13(–14) cm long, 3–5(–6) cm wide, subcoriaceous, base subcordate to auriculate, with a shallow sinus 3–4 mm deep, (1–)1.5–2 mm wide, apex acute, adaxially glabrous, dark green, abaxially densely yellow-brown villous, basal veins 3, palmate, secondary veins 7–8 pairs, pinnate, venation densely reticulate and prominent on both sides. Flowers terminal, solitary, but accompanied by a lanceolate scale-like bracteole, (2–)3 mm long, (1.5–)2 mm wide, sessile, inserted near base of the peduncle, conspicuous, persistent. Peduncles 1.5–2 cm long, pendulous, purple, densely hirsute. Peduncles, bracts and perianth densely covered by yellow-brown pluricellular hairs. Perianth S-shaped, (3–)3.2–3.5 cm long, outside densely yellow-brown hirsute with obscure, parallel veins, inside smooth. Ovary oblong, (0.8–)1–1.2 cm long, 0.3–0.4 cm diam., yellowish-green, densely hirsute, 6-locular, ovules numerous, usually in one series. Utricle ovoid, (1.2–)1.5–1.8 cm long, 0.5–0.6(–0.8) cm diam., externally white, inner surface basally with a dark-purple patch and distally with a white patch; tube strongly curved at its base, parallel and in close contact with the utricle, narrower than the utricle, cylindrical, 0.9–1.0 cm long, 0.4–0.5 cm diam.; limb three-lobed, bell-shaped, 2–2.5(–3) cm diam., purplish-pink on both sides, without any blotches or veins visible, outer surface densely hirsute, inner surface smooth, the three unequal lobes valvate in preanthetic flowers, the lateral lobes broadly deltoid with acute apex, the lower (median) lobe semicircular, during anthesis bell-shaped and with the margins recurved; throat circular, dark-purple, densely papillose; annulus present, formed by an ellipsoid flange, dark-violet; gynostemium three-lobed, lobes with obtuse apices, smooth, (3–)4–5 mm high, 2–3 mm diam., white; stamens six in one serie of three pairs; anthers oblong, (2–)2.5–3 mm long, yellow, tetralocular, longitudinally dehiscent. Capsules not seen.
Figure 1. Line drawing ofAristolochia quangbinhensis T.V. Do. A Flowering branch B–D Lateral (B) frontal (C) and dorsal (D) views of a flower at anthesis E–F Lateral (E) and frontal (F) views of a preanthetic flower G Gynostemium and ovary H Transverse section of ovary I Multicellular trichomes on the surface of the petiole. Drawing by N.V. Quyet from the holotype. Photo T.V.Do et al. 2014.
Vernacular name. Phòng Kỷ Quảng Bình (in Vietnamese).
Distribution. Aristolochia quangbinhensis is known from a single population found on the north-eastern slope of a mountain range bordering the buffer zone of Phong Nha-Ke Bang National Park in the Hoa Luong community, Minh Hoa district, Quang Binh province (Fig. 3). It might also be present in Laos P.D.R., because of the proximity of the Khammouan province with Central Laos.
Ecology. Aristolochia quangbinhensis occurs in humid mountain sites, in the understory of disturbed lowland evergreen broad-leaved forest and mainly evergreen scrubs. Dominant plants at the type locality are Annonaceae (Desmos spp.), Apocynaceae (Marsdenia spp., Wrightia spp.), Fabaceae (Millettia spp.), Lauraceae (Machilus spp., Litsea spp.), Malvaceae (Sterculia spp.), Pandaceae(Microdesmis spp.), Phyllanthaceae (Antidesma spp., Aporosa spp., Glochidion spp.), and Rubiaceae (Randia spp.).
Phenology. Flowering specimens have been collected in April and May but it is possible that blooming already begins in March.
Etymology. The specific epithet refers to the type locality.
Figure 2. Photographs of Aristolochia quangbinhensis T.V. Do. A Habit B–C Frontal (B) and lateral (C) views of a preanthetic flower D–E Leaf in adaxial (D) and abaxial (E) views F Flowering branch G–I Lateral (G–H) and dorsal (I) views of flowers at anthesis J Transverse section of the ovary K Inner surface of perianth LGynostemium and ovary M Frontal view of an anthetic flower. Photographs taken on the holotype locality in Hoa Luong community, Minh Hoa district, Quang Binh province, Central Vietnam. Photo T.V.Do et al. 2014.
Conservation status. In the past, large areas of primary, broad-leaved, evergreen forest covered the Hoa Luong community. Excessive logging, however, resulted in the loss of large extensions of primary forest. Although logging was prohibited in the 1990s, local farmers continued to impose strong pressure on the remaining forest patches converting it mostly into corn and soybean fields. As a result, the flora of the area should be regarded as threatened by extinction. Within the area, Aristolochia quangbinhensis is known from a single population; in fact, during the present study, only two healthy individuals were located growing about 50 m apart from each other. Therefore, the new species is assigned a preliminary status of vulnerable (VU D2) according to IUCN Red List criteria (IUCN 2013), indicating a population with a very restricted area of occupancy (typically less than 20 km2) or the number of locations (typically five or fewer) being both at hand for Aristolochia quangbinhensis. The lack of data currently does not allow a final risk evaluation, but the species might also be regarded as endangered (EN).

Reference: Do TV, Nghiem TD, Wanke S, Neinhuis C (2014) Aristolochia quangbinhensis(Aristolochiaceae), a new species from Central Vietnam. PhytoKeys 33: 51–59. doi: 
23/07/2014

Loài Gai mới ở Hà Giang Elatostema arcuatobracteatum

Loài mới Cao hùng lá bắc cong Elatostema arcuatobracteatum ngoài tự nhiên. A. Dạng sống. B. Nhánh mang hoa đực. C. Cụm hoa đực. D. Lá kèm. E. Nhánh mang hoa cái. F. Cụm hoa cái. Ảnh Đỗ Văn Trường
Trong khuôn khổ hợp tác giữa Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam với Viện Thực vật Quảng Tây – Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc về nghiên cứu tính đa dạng một số nhóm thực vật ở miền Bắc Việt Nam, các nhà thực vật Việt Nam là Đỗ Văn Trường và Trung Quốc đã phát hiện và mô tả 1 loài thực vật mới cho khoa học, đặt tên là Cao hùng lá bắc cong Elatostema arcuatobracteatum (Urticaceae). Tên của loài này được đặt do đặc điểm lá bắc cong hình cung. Kết quả nghiên cứu này vừa được đăng trên tạp chí chuyên ngành Phytotaxa (Tập 174, số 2, trang 111-115, 9 tháng 7, 2014).
Cao hùng lá bắc cong Elatostema arcuatobracteatum L.F. Fu, V.T. Do & C.X. He, sp. nov. phân biệt với các loài Elatostema từ Việt Nam và Trung Quốc bởi đặc điểm lá bắc của hoa cái hình cung. Tuy nhiên, loài mới có đặc điểm hình thái tương tự với loài Elatostema xanthophyllum W.T. Wang (1982), nhưng được phân biệt bởi đặc điểm hình thái đặc trưng: thân (chia nhánh vs. nhánh đơn), hình dạng và đường kính của lá bắc chính trên hoa cái (hình cung, 8-10 mm vs. hình tam giác, ca. 1 mm), hình dạng và đường kính của lá bắc phụ trên hoa cái (hình trứng, 0.6 mm vs. hình thuôn dài, 0.2 mm), và mặt dưới của các lá bắc (nhiều đốm dạng cystolith vs. gần như nhẵn).
Loài mới được phát hiện dưới tán rừng lá rộng thường xanh trên núi đá vôi thấp, nằm trong khu vực bảo vệ nghiêm ngặt của Khu BTTN Bắc Mê, Hà Giang, tuy nhiên khu vực phân bố đang chịu những tác động mạnh từ hoạt động đốt, phá rừng mở rộng diện tích canh tác, làm suy giảm vùng phân bố và kích thước của quần thể. Chính vì thế, theo tiêu chuẩn của IUCN (2001), loài mới được đề nghị ở mức sắp nguy cấp (VU D2).
Chi Cao hùng Elatostema ở Việt Nam hiện nay có rất ít tài liệu nghiên cứu đặc biệt là ở các khu vực núi đá vôi bắc Việt Nam. Nhóm các nhà thực vật nói trên cũng đã ghi nhận nhiều loài thuộc chi này mới cho hệ thực vật của Việt Nam và sẽ công bố trong thời gian tới.
Theo Botanyvn/Biodivn

Phytotaxa 174 (2): 111–115
Elatostema arcuatobracteatum (Urticaceae), a new species from Vietnam
Long-Fei Fu, Van Truong Do, Fang Wen and He Cheng-xin
Abstract. Elatostema arcuatobracteatum a new species from Ha Giang, Vietnam is described and illustrated and a Global Species Conservation Assessment presented. Elatostema arcuatobracteatum is most similar to E. xanthophyllum.
Introduction. Elatostema Forster & Forster (1775: 53; Urticaceae) consists of several hundred species of herbs, small shrubs and subshrubs (Wang 2012) that grow in deep shade in forests, gorges, stream sides and caves. Elatostema is distributed throughout tropical and subtropical Africa, Asia, Australia and Oceania. 31 species of Elatostema have been recorded in Vietnam (Wang & Chen 1995, Pham 2003, Lin et al. 2003, 2011, Fu et al 2013). However, few studies of Elatostema from Vietnam have been undertaken in recent years (Lin et al. 2011, Fu et al 2013). During extensive fieldwork on karst landscape from Vietnam in recent years, we have found that several species of Elatostema shared between North Vietnam and South China. Ha Giang Province is located in North Vietnam where the mean annual temperature is 23°C and annual rainfall is ca. 2400 mm. An unknown species of Elatostema was collected from this Province during recent fieldwork and confirmed as a new taxon following thorough consultion of the relevant literatures and specimens at IBK, PE and VNMN. This new taxon will be an addition to the ‘Flora of Vietnam’ (in progress).

Elatostema arcuatobracteatum L.F. Fu, V. T. Do & C.X. He, sp. nov. 
References: 
22/07/2014

Cổ sinh vật ở Na Dương (Epiaceratherium naduongense)

Hình ảnh minh hoạ một loài Tê giác cổ đại Epiaceratherium. Ảnh  bioquicknews.
(BiodiVn) Một nhóm các nhà khoa học từ Đức, Pháp, Ốt-xtrây-li-a và Việt Nam đã có thể phục hồi hóa thạch của một loài động vật có vú trước đây chưa biết sống khoảng 37 triệu năm trước. Loài động vật có vú mới được mô tả cho thấy một mối quan hệ đáng ngạc nhiên gần với các loài tiền sử được biết đến từ các vị trí hóa thạch ở châu Âu. Khu vực tìm thấy hoá thạch các loài cổ sinh vật là các mỏ than non khai thác Na Dương, Lộc Bình, Lạng Sơn, Việt Nam. Tại đây, nhóm nghiên cứu của các nhà khoa học cũng đã thực hiện một loạt những khám phá nhiều hơn mong đợi, trong đó có hoá thạch một loài động vật có vú mới khác, ba loài cá sấu, một số loài rùa, một số loài các nước ngọt và rất nhiều loài Trai. 
Đông Nam Á được coi là một khu vực đặc biệt phong phú các loài sinh vật ngay cả trong thời tiền sử - được gọi là một điểm nóng đa dạng sinh học. Nhiều thập kỷ nay, các nhà khoa học đã mặc nhiên công nhận quan hệ gần gũi đã tồn tại vào cuối thế Thuỷ Tân (thế Eocen) (khoảng 38-34.000.000 năm trước) giữa các hệ động vật của khu vực Đông Nam Á và châu Âu. Những phát hiện mới đây của nhóm nghiên cứu dưới sự lãnh đạo của Giáo sư Tiến sĩ Madelaine Böhme là bằng chứng cho thấy một số loài châu Âu có nguồn gốc từ Đông Nam Á. 
Hoá thạch loài Tê giác na dương Epiaceratherium naduongense cổ đại được tìm thấy ở Na Dương, Lộc Bình, Lạng Sơn. Ảnh Madelaine Böhme et al. 2014.
Một trong những động vật có vú mới được mô tả là Tê giác na dương Epiaceratherium naduongense. Giải phẫu của răng hóa thạch cho phép xác định con tê giác này như là một cổ sinh vật ưu thế vào thời điểm đó. Khi ấy, Na Dương là một đầm lầy rừng xung quanh Hồ Rhin Chua (địa danh cổ địa sinh học). Tên của loài tê giác này được đặt theo địa danh nơi phát hiện ra chúng đầu tiên. Ngoài ra nhóm nghiên cứu còn phát hiện hoá thạch một loài động vật vú khác mới cho khoa học là , một chi và loài cá nước ngọt mới Planktophaga minuta và hài cốt hóa thạch của cá sấu lên đến 6 mét. 
Vào thời cuối thế Thuỷ Tân, lục địa châu Âu có hình dạng rất khác so với hiện nay. Italia và Bulgaria là một phần của một chuỗi đảo ở Biển Tethys. Những hòn đảo này kéo dài vài ngàn km và sau này trở thành châu Âu và Ấn Độ. Hóa thạch châu Âu từ thời đó là rất hiếm, vì ít vật liệu được bảo tồn do sự hình thành núi và xói mòn. Tuy nhiên, loài tê giác mới cũng có mối liên hệ họ hàng thân thiết với các loài khác ở Châu Âu. Tê giác na dương Epiaceratherium naduongense có quan hệ gần gũi với loài tê giác Epiaceratherium  bolcense đã được tìm thấy ở Italy (Monteviale). Phát hiện hóa thạch của Epiaceratherium magnum từ Bayern, Đức cho thấy tê giác ở Đông Nam Á đã vươn xa và xâm nhập vào lục địa châu Âu không muộn hơn 33 triệu năm trước đây. 
Mỏ khai thác than lộ thiên Na Dương vẫn còn hoạt động, trong khi các nhà khoa học tiến hành khai quật của họ. Từ năm 2008, nhóm nghiên cứu quốc tế của  Giáo sư Tiến sĩ Madelaine Böhme từ Trung tâm Tiến hoá Loài người và Cổ môi trường Senckenberg (HEP) tại Đại học Tübingen, Đức đã nghiên cứu hệ sinh thái thời tiền sử và các hóa thạch của Na Dương ở Việt Nam. Nghiên cứu này cho thấy rằng các vỉa than nâu có một chứa những hóa thạch quan trọng trên toàn cầu từ kỷ Cổ Cận (Kỷ Paleogen). Ban đầu, các nhà khoa học đã dự kiến ​​sẽ tìm thấy hóa thạch từ kỷ Đại Tân sinh (Kỷ Kainozoi) trẻ hơn (lên đến 23 triệu năm trước) tại khu vực nghiên cứu. Từ những kết quả đó, các nhà khoa học từ Việt Nam, Pháp và Đức đã tìm hiểu và xây dựng lại một cách chi tiết một khu rừng đầm lầy ở 37 triệu năm trước đây, thuộc vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Khu rừng cổ đại này gồm những cây lớn cao đến 35 mét và mật độ 600/1 hécta.

Epiaceratherium naduongense (Rhinocerotidae) - New ancient rhinoceros species discovered in Vietnam

A team of scientists from the University of Tübingen and the Senckenberg Center for Human Evolution and Palaeoenvironment Tübingen was able to recover fossils of two previously unknown mammal species that lived about 37 million years ago. The newly described mammals show a surprisingly close relationship to prehistoric species known from fossil sites in Europe. The location: The open lignite-mining Na Duong in Vietnam. Here, the team of scientists was also able to make a series of further discoveries, including three species of fossilized crocodiles and several new turtles.
Southeast Asia is considered a particularly species-rich region, even in prehistoric times -- a so-called hotspot of biodiversity. For several decades now, scientists have postulated close relationships that existed in the late Eocene (ca. 38-34 million years ago) between the faunas of that region and Europe. The recent findings by the research team under leadership of Prof. Dr. Madelaine Böhme serve as proof that some European species originated in Southeast Asia.
Rhinoceros and Coal beast
One of the newly described mammals is a rhinoceros, Epiaceratherium naduongense. The anatomy of the fossil teeth allows identifying this rhinoceros as a potential forest dweller. The other species is the so-called "Coal Beast," . This pig-like ungulate, closely related to hippos, led a semi-aquatic lifestyle, i.e., it preferred the water close to bank areas. At that time, Na Duong was a forested swampland surrounding Lake Rhin Chua. The mammals' remains bear signs of crocodile attacks. Indeed, the excavation site at Na Duong contains the fossilized remains of crocodiles up to 6 meters in length.
From island to island toward Europe
In the Late Eocene, the European mainland presented a very different aspect than it does today. Italy and Bulgaria were part of an island chain in the Tethys Sea. These islands spanned several thousand kilometers between what later became Europe and India. European fossils from that epoch are very rare, since little material has been preserved due to the folding of mountains and erosion. Yet, the two new species had relatives in this area: A rhinoceros Epiaceratherium bolcense closely resembling the one from Na Duong was found in Italy (Monteviale). Fossil finds of Epiaceratherium magnum from Bavaria indicate that rhinoceroses reached continental Europe no later than 33 million years ago and colonized the landmass. The coal beast did not quite make it to the European mainland -- but it certainly reached the so-called Balkano-Rhodopen Island: a fossilized coal beast very similar to Bakalovia orientalis was unearthed in present-day Bulgaria.
Research among coal dust and excavators
The open mining pit Na Duong is still active. While the scientists conduct their excavations, lignite is being extracted nearby. Since 2008, the international research team around Prof. Dr. Madelaine Böhme from the Senckenberg Center for Human Evolution and Palaeoenvironment (HEP) at the University of Tübingen has studied the prehistoric ecosystem and the fossils of Na Duong in Vietnam. This research revealed that the lignite seams contained a globally important fossil deposit from the Paleogene interval. Originally, scientists had expected to find fossils from the younger Cenozoic (up to 23 million years ago) at the site. This ecosystem, which the scientists from Vietnam, France and Germany explore and reconstruct in ever more detail from one excavation season to the next, is a 37 million year-old swamp forest in a tropical to subtropical climate. Up to 600 trees grew there per hectare, and their crowns reached heights of up to 35 meters.

Refereces: http://www.sciencedaily.com/



 
21/07/2014

Hoá thạch cổ động vật mới ở Na Dương (Bakalovia orientalis)

Hình minh hoạ một loài Thú than cổ đại. Ảnh Wikipedia
(BiodiVn)- Các nhà cổ sinh học vừa phát hiện hoá thạch loài thú mới ở Na Dương thuộc huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam. Loài thú mới có tên "Thú than" phương đông Bakalovia orientalis nov. sp. (Anthracotheriidae) đã từng sống trong các khu rừng đầm lầy tại đây vào khoảng 39 - 35 triệu năm trước, thuộc thế Thuỷ Tân, tuổi cuối Bartonian tới Priabonian. Các khu rừng đầm lầy này sau đó đã biến thành các khu rừng nhiệt đới có thể do sự biến đổi nóng lên của khí hậu hoặc sự rút mực nước. Khu vực Na Dương hiện nay khoảng mấy chục triệu năm trước đã từng là lưu vực sông chảy từ Cao Bằng xuống.
Hoá thạch hàm dưới "Thú than" phương đông Bakalovia orientalis. Ảnh Madelaine Böhme et al. 2014
Cùng với việc phát hiện ra hoá thạch cổ sinh vật mới "Thú than" phương đông Bakalovia orientalis, các nhà khoa học còn phát hiện ra các hoá thạch cổ sinh vật mới khác như , chi và loài mới Planktophaga minuta. Khu vực Na Dương được coi là . Công bố này vừa được đăng tải trên tạp chí Zitteliana Số A53 (trang 120 – 167) hồi đầu năm 2014.
Hoá thạch hàm trên "Thú than" phương đông Bakalovia orientalis. Ảnh Madelaine Böhme et al. 2014
Theo , họ Anthracotheriidae là một họ động vật guốc chẵn đã tuyệt chủng, trông tương tự như hà mã và có quan hệ họ hàng gần với cả hà mã lẫn cá voi. Chi cổ đại với hóa thạch bộ xương được bảo tồn tốt nhất là Elomeryx, lần đầu tiên xuất hiện trong Trung Eocen tại châu Á. Chúng thịnh vượng tại châu Phi và đại lục Á-Âu, với một ít loài sau đó đã du nhập vào Bắc Mỹ trong thế Oligocen và cuối cùng bị tuyệt chủng tại châu Âu và châu Phi trong thế Miocen, có thể là do sự kết hợp của các thay đổi khí hậu với sự cạnh tranh từ hà mã thật sự. Chi trẻ nhất, Merycopotamus, tuyệt chủng tại châu Á vào Hậu Pliocen. Họ này được đặt tên theo chi đầu tiên được phát hiện là chi Anthracotherium, có nghĩa là "thú than", do các hóa thạch đầu tiên của nó được tìm thấy trong các tầng than có niên đại thuộc kỷ Paleogen tại Pháp. 
Trong thực tế, một con "thú than" trung bình trông tương tự như một con hà mã gầy với đầu tương đối nhỏ và hẹp. Chúng có 4 hay 5 ngón tại mỗi chân và bàn chân rộng thích hợp với việc đi lại trên bùn mềm. Chúng có bộ răng đầy đủ, mà ở một số loài đã thích nghi với việc đào bới rễ của thực vật thủy sinh.
Chứng cứ gần đây thu được từ lập chuỗi gen so sánh gợi ý tiếp rằng "thú than", như là họ hàng của hà mã, có thể gần với tổ tiên của cá voi. Tuy nhiên, các "thú than" đã biết sớm nhất xuất hiện trong các hóa thạch thuộc về Trung Eocen, diễn ra đủ lâu sau khi các dạng cá voi cổ đã thích nghi hoàn toàn với kiểu sống dưới nước.
Hoá thạch qoai hàm dưới "Thú than" phương đông Bakalovia orientalis. Ảnh Madelaine Böhme et al. 2014
"Thú than" phương đông Bakalovia orientalis có kích thước ước chừng tương đương như B. palaeopontica, và nhỏ hơn một chút (~ 20%) so với B. astica. Nó khác với các loài khác của Bakaloviain có răng hàm tương đối rộng hơn thấp hơn theo hướng ngang, thuộc về như môi liềm hơn. Hơn nữa, "Thú than" phương đông Bakalovia orientalis khác với B. palaeoponticain có răng thấp hơn, khoẻ hơn (xét về kích thước của các phế nang).

Bakalovia orientalis nov. sp. from Na Duong, Lang Son, Vietnam
Holotype: SAU 3: partially preserved skeleton (skull, both mandibles, some postcranials) of a fe-male adult individual. SAU 3-21: extremely deformed skull preserving right P3-M3, and left P4-M3, and part of the muzzle (nasal and premaxilla) bearing alveoli of upper incisors, canines, and anterior premolars (Figs 10, 11); SAU 3-20a: right mandible preserving p4-m3 and alveoli of p1 to p3; SAU 3-20b: left man-dible ramus preserving p4-m3 (and alveoli for double rooted p2-p3) (Figs 12, 13). Na Duong coalmine, Na Duong Formation (Loc Binh district, Lang Son Province, northern Vietnam). The temporary repository of the original material is the University of Tübingen (Germany).
Bakalovia orientalisis of approximately the same size as B. palaeopontica, and slightly smaller (~20%) than B. astica. It differs from other species of Bakaloviain having relatively wider lower molars in transverse direction, more crescentic labial cuspids, and a higher and more developed transver-sal hypocristid that forms a continous crest with the preentocristid. Furthermore, Bakalovia orientalisdif-fers from B. palaeoponticain having a stronger lower canine (judging from the size of the alveoli), and a diastema between the canine and p1. 
Derivatio nominis: Referring to the eastward enlar-ged distribution area of the genus Bakalovia, which was so far reported solely from the type locality, Tcherno More, in Bulgaria.
Type locality and horizon: Base of the main lignite seam of Na Duong coalmine (layer 80), late Middle to Late Eocene Na Duong Formation (Lang Son Provin-ce, northern Vietnam).
Stratigraphical range and geographic distribution: Only known from the type locality.
Reference:
See more at

Na Dương: Cánh cửa hiếm bước vào Thế Eocen

Một số hoá thạch cổ thực vật tìm thấy ở Na Dương, Lạng Sơn. Ảnh Madelaine Böhme et al. 2014
(BiodiVn)- Na Dương thuộc huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam hiện đang được các nhà cổ sinh học trong nước và quốc tế quan tâm nghiên cứu do nơi đây chứa đựng tiềm năng đa dạng cổ sinh học cao. Kết quả bước đầu của sự nghiên cứu đó vừa được công bố trên tạp chí Zitteliana Số A53 (trang 120 – 167) hồi đầu năm 2014.
Ngày nay, các hệ sinh thái lục địa Đông Nam Á đại diện cho một điểm nóng đa dạng sinh học toàn cầu. Nhìn theo góc độ sâu của thời gian, tuy nhiên, rất ít thông tin về sự hình thành của điểm nóng này. Đặc biệt, nguồn gốc tiến hóa và địa sinh học của nhiều sinh vật trên mặt đất là chưa biết, và thông tin cổ hệ sinh thái, đặc biệt là cho kỷ Cổ Cận (kỷ Paleogen), là không có. Lưu vực sông Dương Na ở miền Bắc Việt Nam đã mang lại một sự đa dạng đáng chú ý của động vật có xương sống, không xương sống và hóa thạch thực vật của kỷ Cổ Cận. Và do đó nó là một trong số ít địa phương ở Đông Nam Á cho phép để điều tra đa tập trung trong giai đoạn này. Chúng tôi trình bày địa tầng, cổ sinh vật, và cổ sinh thái thu được từ kết quả ở địa tầng dày 220m thuộc Na Dương, phân tích magnetostratigraphy, biochronology, động vật có xương sống, không xương sống, phân loại thực vật và dấu ấn sinh học. Chỉ có trên 40m của phần này hiển thị các từ hóa ban đầu, giới hạn bất kỳ magnetostratigraphic hơn nữa trong terpretation. Các mối quan hệ phát sinh của hai loài thú mới được mô tả, nov. sp. (Anthracotheriidae) và  nov. sp. (Rhinocerotidae), đề nghị thuộc thế Thuỷ Tân, tuổi cuối Bartonian tới Priabonian (39-35 triệu năm trước). Đa dạng sinh học cao được ghi nhận là các loài trai Unionidae (năm loài), cá nước ngọt (chín đơn vị phân loại, bao gồm cả chi và loài mới Planktophaga minuta nov.. Et sp.), Rùa (5-6 đơn vị phân loại), và cá sấu (ba đơn vị phân loại), và nhiều hơn nữa thuộc Unionidea Đông Nam Á và khu hệ cá được chứng minh. Lá hóa thạch, gỗ và nhựa và thảm thực vật địa đới; các cây họ Dầu đã được xác định từ nhựa dịch rỉ quang phổ. Gốc cây tại chỗ cho phép để tính mật độ cây (600 mẫu vật/ha) và chiều cao tán tối đa (35 m); cả hai giá trị tương tự như của rừng đầm lầy than bùn ở Đông Nam Á gần đây. Môi trường thay đổi đột ngột từ một khu rừng đầm lầy đến một khu rừng nhiệt đới làm ấm hồ nhiệt đới, và nguyên nhân khác do dao động độ sâu của nước. Liên kết chặt chẽ giữa địa sinh học khu hệ động vật có vú thế Thuỷ Tân ở Na Dương và châu Âu nhấn mạnh tầm quan trọng của Đông Nam Á là một khu vực nguồn cho xuyên lục động vật có vú phát tán dọc theo rìa phía bắc Tethys.
Khu vực nghiên cứu cổ sinh vật Na Dương, Lạng Sơn. Ảnh Madelaine Böhme et al. 2014
Zitteliana A 53, 120 – 167
Na Duong (northern Vietnam) – an exceptional window into Eocene ecosystems from Southeast Asia
Madelaine Böhme, Manuela Aiglstorfer, Pierre-Olivier Antoine, Erwin Appel, Philipe Havlik, Grégoire Métais, Laq The Phuc, Simon Schneider, Fabian Setzer, Ralf Tappert, Dang Ngoc Tran, Dieter Uhl & Jérôme Prieto
Abstract. Today, the continental ecosystems of Southeast Asia represent a global biodiversity hotspot. From a deep-time perspective, however, very little is known about the formation of this hotspot. In particular, the evolutionary and biogeographic roots of numerous terrestrial biota are unknown, and ecosystemic information, especially for the Paleogene, is unavailable. The Na Duong Basin in northern Vietnam has yielded a remarkable diversity of Paleogene vertebrate, invertebrate, and plant fossils, and is thus one of the few localities in South-east Asia allowing for multi-focused investigation of this period. We present stratigraphic, paleontologic, and paleoecologic results from the 220 m thick Na Duong section derived from magnetostratigraphy, biochronology, vertebrate, invertebrate, and plant taxonomy, and biomarker analysis. Only the upper 40 m of the section show the original magnetization, prohibiting any further magnetostratigraphic in-terpretation. The affinities of two newly described mammal species, Bakalovia orientalis nov. sp. Anthracotheriidae) and Epiaceratherium naduongense nov. sp. (Rhinocerotidae), suggest an Eocene, late Bartonian to Priabonian age (39–35 Ma). High biodiversity is recorded for unionid mussels (five species), freshwater fishes (nine taxa, including Planktophaga minuta nov. gen. et sp.), turtles (five to six taxa), and crocodiles (three taxa), and long-term stability of Southeast Asian unionid and fish faunas is demonstrated. Fossil leaves, wood and resin document azonal and zonal vegetation; dipterocarp trees were identified from resin exudate spectroscopy. In-situ tree-stump horizons allow for calculation of tree density (600 specimens/ha) and maximum canopy height (35m); both values resemble those of recent South-east Asian peat swamp forests. Environment changed abruptly from a swamp forest to a tropical to warm sub-tropical lake of fluctuating water depth. The strong biogeographic link between the Eocene mammal faunas from Na Duong and Europe highlights the importance of Southeast Asia as a source region for trans-continental mammal dispersal along the northern Tethys margin.
Key words:Eocene, Southeast Asia, mammals, transcontinental migration, ecosystems, crocodiles, fishes, mollusks, Dipterocar-paceae, biogeography
Một số hoá thạch cổ động vật tìm thấy ở Na Dương, Lạng Sơn. Ảnh Madelaine Böhme et al. 2014

See more at: 
20/07/2014

Sự phân bố và hình thái tổ loài Ong vò vẽ Polistes

Ong vò vẽ Polistes mandarinus và tổ của chúng ngoài tự nhiên
(BiodiVn)- Các loài Ong vò vẽ Polistes (Polistella) bao gôm cả hình thái tổ đã được các nhà khoa học Việt Nam là Nguyễn Thị Phương Liên (Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật) và Nhật Bản là Jun-ichi Kojima thống kê và mô tả tại một số tỉnh vùng Đông Bắc Việt Nam. Công bố này được đăng tải trên tạp chí ZooKeys (số 368, trang 45–63) vào đầu năm 2014.
Dựa trên các đặc điểm địa lý và khí hậu, "Đông Bắc Việt Nam" được sử dụng trong bài này cho khu vực bao gồm các tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang và Quảng Ninh (Hình 1). Các mẫu kiểm tra trong nghiên cứu này, ngoại trừ các mẫu không đề cập, được gửi vào Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật tại Hà Nội; chúng chủ yếu được thu thập bởi chính tác giả trong một chuyến đi nghiên cứu về Cao Bằng, Bắc Kạn, Bắc Giang thực hiện trong năm 2012.
Trong khi các loài động vật Polistella ở Tây Bắc Việt Nam đã ít nhiều được nghiên cứu (Nguyễn và cộng sự năm 2011.), mà ở phía Đông Bắc Việt Nam thì lại ít được biết đến. Nghiên cứu này đã được công nhận bảy loài Polistes (Polistella) bao gồm một loài mới được mô tả ở vùng Đông Bắc Việt Nam. Sự phân bố của chúng từ trước tới nay đã được xem xét. Tổ của ba loài (Polistes delhiensis Das & Gupta, Polistes mandarinus de Saussure và .) cũng được mô tả.
 So với các loài động vật Polistella trong khu vực miền núi phía Bắc (chủ yếu là Tây Bắc) Việt Nam, nơi mà 14 loài Polistella đã được công nhận, thì động vật Polistella ở Đông Bắc Việt Nam lại với chỉ bảy loài. Điều này cho thấy nơi đây nghèo về sự đa dạng các loài của chúng. Mặc dù môi trường, đặc biệt là điều kiện khí hậu, ở phía Đông Bắc Việt Nam dự kiến ​​sẽ có mức độ đa dạng cao hơn và do đó nuôi dưỡng động vật phong phú hơn về số lượng của các loài hơn so với khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam. 

ZooKeys 368: 45–63, doi: 10.3897/zookeys.368.6426
Distribution and nests of paper wasps of Polistes (Polistella) in northeastern Vietnam, with description of a new species (Hymenoptera, Vespidae, Polistinae)
Lien Thi Phuong Nguyen,  Insect Ecology Department, Institute of Ecology and Biological Resources, Vietnam Academy of Science and Technology, 18 Hoang Quoc Viet Road, Nghia Do, Cau Giay, Hanoi, Vietnam (phuonglientit@gmail.com); Jun-ichi Kojima, Natural History Laboratory, Faculty of Science, Ibaraki University, Mito, 310−8512 Japan.
Received 12 October 2013 | Accepted 16 December 2013 | Published 8 January 2014

Abstract. Seven species of the subgenus Polistella Ashmead of the genus Polistes Latreille including described here, are recognized to occur in northeastern Vietnam, the easternmost part of the eastern slope of the Himalayas. A key to these species is provided. Their distributional records are remarked. Nests of P. delhiensis Das & Gupta, P. mandarinus de Saussure and are also described.

Keywords. Hymenoptera, Vespidae, Polistinae, Polistes, Polistella, new species, nest, northeastern Vietnam
Introduction

Of the four subgenera in the cosmopolitan paper wasp genus Polistes, Polistella, with some 85 extant species, is the largest in terms of the number of species among the three subgenera endemic to Old World (Gyrostoma Kirby & Spence, Polistella Ashmead, and Polistes Latreille). The subgenus Polistella is known to show a high species diversity in the northern part of Indochina, the area on the eastern slope of the Himalayas. This is especially the case, together with strong endemism, for the Polistella species that are characterized by a basally strongly swollen second metasomal sternum. These species may form a monophyletic group and show the distribution pattern of so−called “Himalayan Corridor origin”, namely they occur in the zone from the southern slopes of the Himalayas, through the eastern slope of the Himalayas and eastern coastal areas of continental Asia and Taiwan, to Ussuri and eastern Siberia in Russia and Hokkaido in Japan (Nguyen et al. 2011). Locating in the easternmost part of the eastern slope of the Himalayas, the Polistella fauna in the northern parts of Vietnam would be a key to understanding the process of forming the current distribution pattern of these Polistella wasps.
While the Polistella fauna of northwestern Vietnam has been more or less well studied (Nguyen et al. 2011), that in northeastern Vietnam has been little known. The present study has recognized seven species of Polistes (Polistella) including a new species described herein to occur in northeastern Vietnam. Their distribution records are remarked. Nests of three species (Polistes delhiensis Das & Gupta, Polistes mandarinus de Saussure and are also described.

Materials and methods

Based on the geographical and climatic features, “northeastern Vietnam” is used in the present paper for the area consisting of the following provinces: Ha Giang, Cao Bang, Tuyen Quang, Bac Kan, Thai Nguyen, Lang Son, Bac Giang and Quang Ninh (Fig. 1). The specimens examined in the present study are unless otherwise mentioned deposited in the Institute of Ecology and Biological Resources in Hanoi; they were mainly collected by ourselves during a research trip to Cao Bang, Bac Kan and Bac Giang made in 2012.


Figure 1. Map of Vietnam showing the provinces in the northeastern part (green) and those in which the specimens examined were collected (light violet).
The adult morphological and color characters except for male terminal sterna and genitalia were observed on pinned−and−dried specimens under a stereomicroscope. Apical parts of male metasomata were dissected for the terminal sterna and genitalia. They were put in lactic acid for several hours, washed in distilled water, and observed in glycerin under a stereomicroscope. The terminology of male genitalia follows Kojima (1999). Drawings were made with the aid of a drawing tube. Photos were taken with Panasonic Lumix DMC−FX 100 and Leica EZ4HD 3.0 MegaPixel Digital Stereo Microscope, using LAS exclusive microscopy software (LAS EZ 2.0.0).
In the descriptions of morphology, the following abbreviations are used: POD, distance between the inner margins of the posterior ocelli; OOD, distance between the outer margin of the posterior ocellus and the inner margin of the eye at vertex; Od, transverse diameter of the posterior ocellus.
The parts measured for the morphometric are defined as follows: body length, the lengths of head, mesosoma and first two metasomal segments combined; clypeus width, the distance between the uppermost points where clypeus touches the eyes; clypeus height, the distance from the bottom of the dorsal emergination to the apex; distance between inner eye margins at vertex and at clypeus, respectively the distance between the inner eye margins at the level of anterior ocellus in frontal view of head and at the level where inner eye margins approached each other most closely; interantennal and antennocular distances, the distance between the inner margins of antennal sockets and between the outer margin of antennal socket and inner eye margin at the level of middle of antennal socket, respectively; antennal socket width, the transverse diameter; eye and gena width, the maximum width for each in strictly lateral view of the head; metasomal tergum I length, the distance in lateral view from the posterior end of the basal slit for the reception of the propodeal suspensory ligament to the posterodorsal end of the tergum; metasomal tergum II, length, the distance in lateral view from the bottom of the basal depression or “neck” to the posterodorsal end of the tergum; metasomal tergum I and II width, the maximum width for each in dorsal view.

Taxonomy and distribution

Polistes (Polistella) dawnae Dover & Rao, 1922
Polistes dawnae Dover & Rao, 1922: 248, female, Dawna Hills, Burma [Myanmar], [holotype in the Zoological Survey of India, Calcutta].
Material examined. Northeastern provinces: Bac Kan: 2 females, Kim Hy NP, Na Ri, 22°14'N, 106°05'E, alt. ca 300 m, 3.VIII.2012, L.T.P. Nguyen et al. Other province: Son La: 1 female, Nong Truong, Moc Chau, 20°50'N, 104°40.283'E, alt. ca 950 m, 2.VII.2013, D.D. Nguyen.
Remarks on distribution. Polistes dawnae, one of the two species characterized by a basally strongly swollen second metasomal sternum and recorded in northeastern Vietnam (the other is Polistes mandarinus), was originally described from Dawna Hills [16°50'N, 98°15'E], northern Myanmar, and has been recently recorded in northeastern part of Laos (Gusenleitner 2013) and northern Vietnam, such as in the provinces of Lai Chau, Dien Bien, Hoa Binh (Nguyen et al. 2011), Bac Kan and Son La (present study). This species may be restricted in its distribution to the areas on the eastern slope of the Himalaya.
Polistes (Polistella) mandarinus de Saussure, 1853
Polistes mandarinus de Saussure 1853 in de Saussure 1853−1858: 58, female, “Le norde de la Chine” [lectotype in The Natural History Museum, London].
Material examined. Northeastern provinces: Cao Bang: 12 males, 4 females, Phi Oac Nature Reserve, Thanh Cong, Nguyen Binh, 22°32.5'N, 105°53'E, alt. ca 1000 m, L.T.P. Nguyen et al. [11 males, 3 females, Nest#VN−NE2012−P−07, 8.VIII.2012; 1 male & 1 female, 9.VIII.2012]; 2 females, Phi Oac Nature Reserve, 22°35.567'N, 105°51.417'E, alt. ca 1035 m, 7−10.V.2013, T.V. Hoang. Bac Kan: 7 females, Kim Hy NP, Na Ri, alt. ca 600−700 m, 22°19'N, 105°54'E, Nest#VN−NE2012−P−03, 4.VIII.2012, L.T.P. Nguyen et al. Other province: Hai Phong: 1 female, Cat Ba NP, Cat Hai,20°47'N, 106°59'E, 26.VII.2013, L.T.P. Nguyen & D.D. Nguyen.
Remarks on distribution records. The distribution records of Polistes mandarinus reported may need confirmation as several species were erroneously identified as “Polistes mandarinus” (see Kojima 1997). In Vietnam, this species has been known from the provinces of Quang Tri (Nguyen and Ta 2008), Phu Tho, Vinh Phuc, Thua Thien Hue (Nguyen et al. 2011), Cao Bang, Bac Kan, Hai Phong (present study); this species may occur in the areas north of the Hai Van Pass, but its occurrence in nothwestern Vietnam needs further researches. The species has also been recorded from eastern China and Tibet (Hou et al. 2012) and Korea (Carpenter 1996), however its occurrence in Korea may need confirmation (J.K. Kim & J. Kojima, unpublished data).
Polistes (Polistella) delhiensis Das & Gupta, 1989
Polistes delhiensis Das & Gupta, 1989: 63, female, Delhi [India], [holotype in Zoological Survey of India, Calcutta].
Material examined. Northeastern provinces: Ha Giang: 1 female, Cao Bo, Vi Xuyen, 22°44'N, 104°54'E, alt. ca 532 m, 21−24.IV.2000, L.T.P. Nguyen; Bac Kan: Kim Hy NP, Na Ri, 22°14'N, 106°05'E, alt. ca 600−700 m, 4.VIII.2012, L.T.P. Nguyen et al. [1 female, 3 females of Nest# VN−NE2012−P−04]; 2 females, Kim Hy NP, Vu Muon, Bach Thong, alt. ca 550 m, 22°12.5'N, 105°58'E, 5.VIII.2012, L.T.P. Nguyen et al. Other provinces: Phu Tho: 2 females, Xuan Son NP, 21°10'N, 104°58'E, alt. ca 400 m, 11−12.VI.2004, L.T.P. Nguyen; Hoa Binh: Pa Co, Mai Chau, 20°44'N, 104°55'E [1 female, alt. ca 1000 m, 27.VI.2001; 2 females, alt. ca 1000 m, 22−23.IV.2002, T.V. Hoang; 1 female, alt. ca 1350 m, 28.VIII.2006, L.T.P. Nguyen, F. Saito & J. Kojima]; Vinh Phuc: 1 female, Tam Dao NP, 21°32'N, 105°37'E, alt. ca 800 m, 2.VII.2003, L.T.P. Nguyen.
Remarks on distribution. This species could be placed in the “Stenopolistes” group and has been recorded from Delhi in India and North Vietnam [Son La (Nguyen and Pham 2011), Ha Giang, Bac Kan, Phu Tho, Hoa Binh, Vinh Phuc (present study)]. The other two species of the “Stenopolistes” group occurring in Vietnam, Polistes nigritarsis Cameron and Polistes khasianus Cameron, similarly have such the disjunct distribution records, which are probably due to lack of intensive field works in the areas in the southern slope and western part of the eastern slope of the Himalaya.
Polistes (Polistella) japonicus de Saussure, 1858
Polistes japonicus de Saussure, 1858: 260, female, “le Japon” [lectotype in the Museum d’Histoire Naturelle, Géneve].
Material examined. Northeastern provinces: Bac Kan: 4 females, Kim Hy NP, Na Ri, 21°15'N, 106°06'E, alt. ca 270 m, 3−4.VIII.2012, J. Kojima, H. Nugroho et al.; Bac Giang: 2 females, Thanh Son, Son Dong, 21°13'N, 106°45'E, alt. ca 300 m, 1.VII.2010, P.H. Pham; Tay Yen Tu NP, Son Dong,21°21'N, 106°11'E, P.H. Pham [2 females, alt. ca 200−300 m, 3.VII.2010; 1 female, alt. 150 m, 2.VII.2010]; 1 female, Khe Ro, Son Dong, 17.V.2013, D.D. Tran. Other provinces: Son La: 1 female, 20°50'37"N, 104°40'17"E, alt. ca 950m, Nong Truong, Moc Chau, 2.VII.2013, D.D. Nguyen; Lang Son: 1 female, Bac Son, 21°54'N, 106°19'E, 1.VII.2003, L.X. Truong. Other provinces: Phu Tho: 1 male, 6 females, Xuan Son NP, 21°10'N, 104°58'E, alt. ca 200−600 m, 13−16.VI.2004, L.T.P.Nguyen; 1 female, Xuan Dai, Tan Son, 20.V.2011, P.H. Pham; Ninh Binh: 1 male, 3 females, Cuc Phuong NP, 20°19'N, 105°37'E, 7−9.V.2002, T. V. Hoang; Thanh Hoa: 1 male, 2 females, Lung Cao, Ba Thuoc, 20°28'N, 105°10'E, alt. ca 500 m, 12.VI.2003; 1 female, Hon Can, Van Xuan, Thuong Xuan, 23−24.VIII.2012, L.T.P. Nguyen & T.V. Hoang; Nghe An: Mon Son, Con Cuong 18°56'N, 104°56'E [2 males, 2 females, 22−24.VII.2004, L.T.P. Nguyen; 1 female, 9.VIII.2002; 3 females, 11.VIII.2002; 2 females, 13.IX.2005]; 1 female, Pu Mat NP,19°6'N, 104°44'E, 26.VII.2004, L.T.P. Nguyen; 1 female, Chau Cuong, Quy Hop, 19°21'N, 105°6'E, 14−19.VII.2004, H.X. Le; 1 female, Chau Thanh, Quy Hop, 19°23'N, 105°2'E, 16.VII.2004, H.X. Le; 1 female, Co Phat, Con Cuong, 18°53'N, 104°52'E, ca 200 m, 22.VII.2006, ISD−c; 1 female, Tuong Duong, Con Cuong, 19°20'N, 104°34'E, 12.VII.2006; Ha Tinh: 4 males, 1female, Son Tay, Huong Son, 18°27'N, 105°20'E, 19−27.V.2004, L.T.P. Nguyen; 1 female, Rao An, Huong Son, 18°34'N, 105°10'E, 20.IV.1998, L.D. Khuat.
Remarks on distribution. In Vietnam, this species has been recorded in the provinces of Ha Giang, Lai Chau, Hoa Binh, Ha Noi, Thua Thien Hue (Nguyen and Khuat 2003), Phu Tho, Hai Phong (Nguyen et al. 2005), Quang Binh, Quang Tri, Thua Thien Hue, Quang Nam (Nguyen and Ta 2008), Son La (Nguyen and Pham 2011), Bac Kan, Lang Son, Bac Giang, Ninh Binh, Thanh Hoa, Nghe An, Ha Tinh (present study), showing that the species is widely distributed in Vietnam except for southern provinces. This species could occur widely in eastern parts of subtropical and temperate Asia, from Vietnam, through eastern parts of continental China, to Korea and Honshu Island of Japan; its closely related species, Polistes formosanus Sonan may co-occur with this species in Taiwan and only Polistes formosanus is known to occur in the Nansei Islands (Saito et al. 2007).
Polistes (Polistella) sagittarius de Saussure, 1853
Polistes sagittarius de Saussure, 1853: 56, female, “Les Indes−Orientales, la Chine” [syntypes in the Museum d’Histoire Naturelle, Genève, and The Natural History Museum, London].
Material examined. Northeastern provinces Ha Giang: 1 male, Tung Ba, Vi Xuyen, 24.VI.2013, T.V. Nguyen; Bac Kan: 2 females, Kim Hy NP, Na Ri, alt. ca 600−700 m, 22°19'N, 105°54'E, 4.VIII.2012, L.T.P. Nguyen et al.; Bac Giang: 1 female, Thanh Son, Son Dong, 21°13'N, 106°45'E, 7.VII.2010, D.D. Tran. Other provinces: Hai Phong: 1 female, Cat Ba NP, Cat Hai, 20°43'N, 107°04'E, alt. ca. 30 m, 26.VII.2013, L.T.P. Nguyen & D.D. Nguyen;Other provinces: Lao Cai: 1 female, Ta Chai, Bac Ha, 22°31'N, 104°17'E, 26.VI.2008, L.T.P. Nguyen & P.H. Pham; Nghe An: 1 female, Mon Son, Con Cuong, 18°56'N, 104°56'E, 27.VII.2004, L.T.P. Nguyen; 1 female, Khe Bo, Con Cuong,19°03'N, 104°43'E, alt. ca 120 m, 25−28.IV.1998, J.M. Carpenter; Gia Lai: 3 females, Ia Pal, Chu Se, 13°39'N, 108°08'E, alt. ca 370 m, 20−21.VII.2012, L.T.P. Nguyen; Dak Lak: 1 female, Buon Ho, 121°59'N, 108°14'E, alt. ca 770 m, 23.VII.2012, L.T.P. Nguyen; Binh Duong: 2 females, Binh Hoa, Thuan An, 10°54'N, 106°43'E, 20.VII.2002, L.D. Khuat.
Remarks on distribution. This species is widely distributed in southern Asia with subtropical and tropical climates, from northwestern India in the west, through continental southeast Asia, to Palawan in the Phillippines, Sulawesi and Flores in the Lesser Sunda Islands in the east. Recorded widely in the provinces of Ha Giang, Lai Chau, Vinh Phuc, Ha Tay (Nguyen and Khuat 2003), Son La, Hoa Binh (Nguyen and Pham 2011), Lao Cai, Bac Kan, Bac Giang, Hai Phong, Nghe An, Gia Lai, Dak Lak, Binh Duong (present study), this species may occur throughout Vietnam.
Polistes (Polistella) strigosus Bequaert, 1940
Polistes strigosus Bequaert, 1940: 269, female, male “Wong-Sa-Shui, South Kwangsi, China” [holotype female in the Museum of Comparative Zoology, Cambridge, USA].
Material examined. Northeastern provinces: Ha Giang: 1male, 6 females, Cao Bo, Vi Xuyen, 22°44'N, 104°54'E, 21.X.2006, L.D. Khuat; Cao Bang: 1 female, Phi Oac NR, Thanh Cong, Nguyen Binh, 22°35'34"N, 105°51'25"E, alt. ca 1035 m, 7−10.V.2013, T.V. Hoang; Lang Son: 1 female, Nong truong Thai Binh, Dinh Lap, 16.V.2013, D.D. Tran; Bac Giang: Son Dong, P.H. Pham [1 male, 2 females, Thanh Lam, 21°20'N, 106°19'E, alt. ca 120 m, 4.VII.2010; 1 female, Tay Yen Tu NP, 21°24'N, 106°56'E, alt. ca 150m, 2.VII.2010]. Other provinces: Vinh Phuc: 1 female, Tam Dao NP,21°27'N, 105°39'E, alt. ca 1200 m, 2.VII.2003, L.T.P. Nguyen; Ha Noi: 1 female, Khat Thuong, Ba Vi, 21°5'N, 105°22'E, alt. ca >100 m, 16.VIII.2006, ISD−c; 1 female, Yen Bai, Van Hoa, Ba Vi,21°1'N, 105°27'E, 15.VIII.2006, ISD−c; Nghe An: 3 females, Chau Cuong, Quy Hop, 19°21'N, 105°6'E, 14−19.VII.2004, H.X. Le; 1 female, Pha Lay, Mon Son, Con Cuong, 18°56'N, 104°56'E, 9.VIII.2002, ISD−c; Ha Tinh: 1 male, 1 female, Son Tay, Huong Son, 18°27'N, 105°21'E, 19−27.V.2004, L.T.P. Nguyen; Ta Rut, Dakrong, Quang Tri 16°25'N, 106°59'E [4 females, 17.VII.2004; 9 females, alt. ca 400−500 m, 17.VII.2004], ISD−c.
Remarks on distribution. The following three subspecies are currently recognized in Polistes strigosus: the nominotypoical subspecies known to occur in Laos, China and Taiwan; minimus Bequaert, 1940 distributed in Nepal, Malaysia (Sabah) and the Philippines; and atratus Das and Gupta, 1984 in India. The color form from Vietnam agrees with non of the above-mentioned subspecies. It has the head reddish brown, mesosoma dark yellowish brown with metanotum and propodeum dark yellow, metasomal terga I−III dark yellow, and the other metasomal terga brownish black (in some specimens, all metasomal terga dark yellow). This species is widely recorded from the provinces of Hai Phong (Nguyen et al. 2005), Quang Binh, Quang Tri, Thua Thien Hue (Nguyen and Ta 2008), Hoa Binh (Nguyen and Pham 2011), Ha Giang, Cao Bang, Lang Son, Vinh Phuc, Bac Giang, Ha Noi, Nghe An, Ha Tinh (present study), and may occurs in eastern parts of Vietnam north of the Hai Van Pass.



Nests

Polistes (Polistella) mandarinus de Saussure, 1853
Hou et al. (2012) described the nest of this species based on the nests observed in Tibet, with light ferruginous brown (juggling from the figures). A nest (#VN−NE2012−P−02) (Fig. 18) that we collected, together with 3 females and 11 males, at Phi Oac NR, Cao Bang Province has similar features of that described by Hou et al. (2012) although it differs in coloration. Our nest has 19 cells and had produced more than ten adult wasps. Its structural and color characters are as follows: Comb “paper”−like in texture, made mainly of long fine plant fibers and wasp adult oral secretion, more or less uniformly dark greysish−brown in cell walls, suboval (about 30 mm × 20 mm) in view from side of cell opening, expanded excentrically from the single terminal petiole, with surface corresponding to cell bottom weakly convex; Petiole single, terminal, attached to the border between bottoms of the first two cells, 2.5 mm long and 1.2 mm × 1.5 mm thick at the mid−length, with thin central core of plant fibers, enlarged strictly with adult oral secretion, blakish brown and lustrous, secretion coat widely expanded on comb back around the petiole and on substrate in thin film holding the fern vain; Cells generally arranged in regular rows, pentagonal at open end when surrounded by other cells, with free margins rounded, each cell weakly expanded towards open end, 5.3 mm × 5.6 mm (range 5.0 mm × 5.4 mm – 5.8 mm × 5.9 mm; n=17) wide at open end, 3.4 mm (range 3.1−3.8 mm; n=11) wide at bottom and 19 mm (range 15−22.5 mm; n=13) deep in cells containing pupae or having produced adult, cell wall about 1.12 mm thick; Cocoon cap white, produced beyond rim of cell by 0.5−4.5 mm, slightly domed.


Nest of Polistes delhiensis.
A pre−emergence stage (before any adult wasps’ emergence) nest (#VN−NE2012−P−02) (Fig. 19) was collected, together with 4 adult females, at Kim Hy NP, Bac Kan Province. The nest was attached to a rattan shoot, at about 2.5 m above the ground, and has 26 cells, with the fifth (=last) instar larvae as the oldest immature (for immature composition, see Fig. 19). The fifth instar larvae were artificially fed with fresh hornet (Vespa) eggs, and one of them successfully spun the cocoon. The structural and color characters are as follows: Comb “paper”−like in texture, made mainly of long fine plant fibers, usually with 2−3 mm wide horizontal stripes of different colors (pale gray to gray and pale brownish−gray) in cell walls, subcircular (about 30 mm × 25 mm) in view from side of cell opening, expanded concentrically from the single petiole, with surface corresponding to cell bottom weakly convex; Petiole single, central, attached to the border between bottoms of the first two cells, 3.8 mm long and 1.2 mm × 1.2 mm thick at the mid−length, with thin central core of plant fibers, enlarged strictly with oral secretion of adults, brown and lustrous, secretion coat widely expanded on comb back around the petiole and on substrate in about 8 mm × 9 mm subcircular thin film; Cells generally arranged in regular rows, pentagonal at open end when surrounded by other cells, with free margins rounded, each cell weakly expanded towards open end, 6.3 mm × 6.7 mm (range 6.0 mm × 6.1 mm – 7.1 mm × 7.2 mm; n=5) wide at open end, 5.1 mm (range 4.9−5.4 mm; n=5) wide at bottom and 18.5 mm (range 17−19.5 mm; n=5) deep in cells containing mature larvae, cell wall about 0.09 mm thick;Cocoon cap white, slightly domed.

Polistes (Polistella) delhiensis Das & Gupta, 1989

A pre−emargence stage (before any adult wasps’ emergence) nest (# VN−NE2012−P−04) (Fig. 20) examined was collected, together with 3 females, at Kim Hy NP, Bac Kan province. The nest was attached to a broad leaf, at about 1 m above the ground, and has 19 cells, which contained the pupae as the oldest immatures. The structural and morphological characters are as follows: Comb “paper”−like in texture, made mainly of long fine plant fibers mixed with adult oral secretion, pale brown to brown in cell walls, subcircular (about 19 mm × 17 mm) in view from side of cell opening, expanded concentrically from the single petiole, with surface corresponding to cell bottom slightly convex; Petiole single, central, attached to the border between bottoms of the first two cells, 2.5 mm long and 0.5 mm × 0.7 mm thick at the mid−length, with thin central core of plant fibers, enlarged strictly with adult oral secretion, dark brown and lustrous, secretion coat widely expanded on comb back around the petiole and on substrate in about 2.5 mm × 5 mm thin film; Cells generally arranged in regular rows, pentagonal at open end when surrounded by other cells, with free margins rounded, each cell weakly expanded towards open end, 4.4 mm × 4.5 mm (range 4.3 mm × 4.4 mm – 4.5 mm × 4.5 mm; n=4) wide at open end, 3.2 mm (range 3.0−3.3 mm; n=4) wide at bottom and 14 mm (range 13.5−14.5 mm; n=4) deep in cocooned, cell wall about 0.06 mm thick; Cocoon cap pale greenish−yellow, prominently produced beyond rim of cell by 5−6 mm, slightly domed.

Key to species of Polistes (Polistella) of northeastern Vietnam

The characters given in the key are applicable to both sexes unless when specified.
1
Metasomal sternum II basally strongly swollen, in lateral view bulging anteriorly (Fig. 21)
2
Metasomal sternum II gradually swollen posteriorly, in lateral view with ventral margin weakly and smoothly curved (Fig. 8)
3
2
Clypeus in lateral view only weakly convex anteriorly (Fig. 22). Disc of scutellum nearly flat, in lateral view smoothly passing from dorsal margin of mesoscutum (Fig. 24). Male clypeus as wide as high
Polistes dawnae Dover & Rao
Clypeus in lateral view distincly convex (Fig. 23). Disc of scutellum convex (Fig. 25). Male clypeus about 1.1 times as wide as high
Polistes mandarinus de Saussure
3
Medium-sized wasps; fore wing length 10.5−14.5 mm. Jugal lobe of fore wing much reduced. Marginal cell of fore wing with dark spot at apex
Polistes delhiensis Das & Goupta
Large-sized wasps; fore wing length 15.5−18 mm. Jugal lobe of fore wing large, rounded. Marginal cell of fore wing without dark spot
4
4
Pronotum with strong striation (Figs 26, 27) Female metasomal sterna without longitudinal ridges
5
Pronotum with weak striation weak or absent. Female metasomal sternum IV medially with paired longitudinal ridges (Fig. 9)
6
5
Pronotal striation somewhat irregular (Fig. 26), spaces between striae densely and distincly punctured. Dorsal surface of pronotum smoothly curved down to the lateral surface. Male metasomal sternum VII without tubercle. Clypeus, mesoscutum, metasomal segments III−VI entirely black
Polistes sagittarius de Saussure
Pronotal striation regular and very strong (Fig. 27). Border between dorsal and lateral surfaces of pronotum distinctly angled. Male metasomal sternum VII with weak tubercle (Fig. 28). Clypeus, mesoscutum, metasomal segments II−VI etirtely brown
Polistes strigosus Bequaert
6
Pronotum with dense, coarse punctures, their edges forming reticulation (Fig. 6). Disc of scutellum convex. Metasomal sternum II in lateral view convex ventrally in anterior half. Anterior margin of male clypeus nearly straight (Fig. 10). Metasomal terga brown, with some black marks. Wings hyaline
.
Pronotum with sparse, small punctures. Disc of scutellum hardly convex. Metasomal sternum II in lateral view weakly convex ventrally in the anterior two thirds. Anterior margin of male clypeus rounded. Metasomal terga yellow with dark brown and/or black bands. Wings infuscate
Polistes japonicus de Saussure
 Figures 21–28. Polistes species characters. 21, 23, 25 Polistes mandarinus: 21Metasomal segment I and II, lateral view 23 Head, lateral view 25Mesosoma, lateral view 22, 24 Polistes dawnae: 22 Head, lateral view 24 Mesosoma, lateral view 26P. sagittarius, pronotum, lateral view 27–28 Polistes strigosus: 27Pronotum, lateral view 28Metasomal sternum VII, ventral view. Scale 1 mm.

Conclusion

Compared with the Polistella fauna in mountainous areas of northern (mainly northwestern) Vietnam, where 14 Polistella species have been recognized (Nguyen et al. 2011), Polistella fauna in northeastern Vietnam, with only seven species, is poorer even though the environmental, especially climatic conditions, in northeastern Vietnam are expected to be more diverse and hence to harbor richer fauna in terms of number of species than in mountainous areas of northern Vietnam. On the other hand, however, in contrast to the fact that all the 14 Polistella species occurring in mountainous areas in northern Vietnam may belong to a possible monophyletic species group that is characterized by a basally strongly swollen second metasomal sternum and shows ditribution pattern of so−called “Himalayan Corridor origin”, seven species recognized in northeastern Vietnam are comprised of at least three species groups, thus they are more diverse phylogenetically than those of mountainous areas of norther Vietnam. Namely, other than Polistes dawnae and Polistes mandarinus in the species group characterized by a basally strongly swollen second metasomal sternum, Polistes delhiensis belongs to so-called “Stenopolistes” group, the species belonging to which are distributed in tropical and subtropical continental Asia, so-called Sunda Land (Malay Peninsular, Sumatra and Borneo) and also in Papuan Region, including Pacific Islands. The last group, including the four species recognized in northeastern Vietnam, Polistes japonicus, Polistes sagittarius, Polistes strigosus and is the Polistes sagittarius group of Carpenter (1996), which is rather ill-defined and known to be widely distributed in Oriental Region and East Asia.

Citation: Nguyen LTP, Kojima J (2014) Distribution and nests of paper wasps of Polistes(Polistella) in northeastern Vietnam, with description of a new species (Hymenoptera, Vespidae, Polistinae). ZooKeys 368: 45–63. doi: 10.3897/zookeys.368.6426