Zingiberaceae

Các loài thực vật mới cho khoa học phát hiện ở Việt Nam 2014

Nycticebus pygmaeus

Buôn bán động vật hoang dã ở Việt Nam.

Ex-situ conservation of Xanthocyparis vietnamensis

Bảo tồn chuyển vị loài Bách vàng ở Hà Giang. Photo by Pham Van The.

Hoya longipedunculata

Cẩm cù cuống dài, loài mới 2012 ở Quảng Nam, Việt Nam. Photo by Pham Van The.

Forest fired

Cháy rừng Khộp, nguyên nhân suy thoái Đa dạng sinh học.

Taxus wallichiana var. chinensis

Thông đỏ bắc, loài trong Sách đỏ Việt Nam, phân bố miền Bắc. Photo by Pham Van The.

Ovophis monticola

Rắn lục núi, loài bị đe đoạ cấp R, phân bố Tây Bắc - Việt Nam.

Paphiopedilum canhii

Lan hài cảnh, loài đứng bên bờ vực tuyệt chủng, phân bố Việt Nam, Lào

21/06/2014

Phát hiện loài Miliusa mới ở Việt Nam

 Loài mới Miliusa astiana, có tên Việt Nam là Cây-Dú-Bò, phát hiện ở Nha Trang. Hình theo Nordic Journal of Botany, 2014.
(biodivn.blogspot.com) Một nhóm nghiên cứu gồm Tanawat Chaowasku and Paul J. A. Keßler ở Hà Lan vừa công bố 3 loài mới thuộc chi Miliusa, họ Na Annonaceae được phát hiện từ Việt Nam và Cam Pu Chia. Công bố này được đăng tải trên tạp chí Nordic Journal of Botany ở bản Early View. Tổng quan về chi Miliusa ở Campuchia và Việt Nam đã được đánh giá lại: ở mỗi quốc gia có 6 loài thuộc chi này trong đó có 3 loài mới cho khoa học được mô tả. Một loài ở Campuchia (Miliusa cambodgensis sp. nov.), và hai loài khác ở Việt Nam (M. astiana and M. ninhbinhensis spp. nov.). Thêm vào đó, danh pháp khoa học và các thông tin liên quan về các loài thuộc chi Miliusa ở 2 quốc gia này cũng được cung cấp, kèm theo đó là khoá định tên khoa học loài của chúng.
Chi Millusa ở Việt Nam hiện có 6 loài M. velutina; M. ninhbinhensis sp. nov.; M. balansae; M. baillonii; M. banghoiensis  và M. astiana sp. nov. Khoá định loại đến loài của chi này được đưa ra ở cuối bài. 
Loài mới Miliusa astiana có tên Việt Nam là Cây-Dú-Bò, được phát hiện ở Khánh hoà, trên đồi có độ cao chừng 100 m so với mực nước biển. Chúng là loài cây bụi, hoặc gỗ nhỏ, cao 2 m, hoa màu vàng, ra hoa vào tháng Tư, quả ăn được.
Loài mới Miliusa ninhbinhensis được phát hiện ở Vườn Quốc Gia Cúc Phương, Ninh Bình. Là loài cây gỗ nhỏ, cao 4 đến 12 m. Hoa màu trắng xỉn, đằng sau hơi xanh.
Ngoài ra nhóm nghiên cứu cũng mô tả một loài mới từ Cam Pu Chia là Miliusa cambodgensis. (biodivn.blogspot.com).

Miliusa cambodgensissp. nov. (Annonaceae) from Cambodia 
and M. astiana, M. ninhbinhensisspp. nov. from Vietnam

Tanawat Chaowasku and Paul J. A. Keßler
Miliusa astiana Chaowasku & Kessler sp. nov. 
Type: Poilane 4694, fl. & fr. (holotype: P (barcode P00160856), isotypes: BO, P), Vietnam, Nha Trang, Hoa Cat, Sep 1922.
Etymology
The epithet is selected to honour Madame Suzanne Jovet-Ast (1914–2006) who actively studied and described many southeast Asian Annonaceae.
Description
Shrubs or trees, ca 2 m tall. Young twigs puberulous. Leaves subsessile, blade (broadly) elliptic, 2.0–6.8 x 1.2–3.1 cm; base subcordate or obtuse, sometimes slightly asymmetrical; apex obtuse to acute; lamina glabrous on both sides; upper surface of midrib slightly sunken, almost glabrous to puberulous, lower surface of midrib slightly raised, almost glabrous to appressed-puberulous; secondary veins 10–11 per side, angle with midrib 41°–57°at the middle part of blade. Flowers usually in 2-flowered inflorescences, terminal developing to internodal; peduncles 0.4–1.5 cm long [ca 0.4 cm long in fruit], glabrous, usually thickened in fruit; inflorescence axes inconspicuous when present; pedi-cels 0.6–1.2 cm long [ca 1.0 cm long in fruit], (almost) glabrous, usually thickened in fruit; bract(s) of peduncles and inflorescence axes (1–)2–7, triangular, placed at top of peduncles (and along the inconspicuous inflorescence axes), sometimes caducous; pedicel bract 1 for each flower, triangular, placed at base to near the midpoint of pedicels, sometimes caducous. Sepals (broadly) triangular, 0.5–0.7  x 0.5–0.9 mm, slightly connate at base; their outside and mar-gin puberulous. Outer petals triangular, 1.0–1.5 x 1.0 mm; their outside and margin puberulous. Inner petals (broadly) ovate-triangular, 3.5–5.4 x 3.0–4.5 mm; their outside and margin puberulous, inside (almost) glabrous, sometimes with a semicircular to triangular discolouration zone observed inside near base when dry; base (not to) slightly saccate. Torus slightly conical. Stamens ca 24, ca 1.0 mm long. Carpels ca 12, ca 1.6 mm long; stigmas  capitate; ovaries puberulous; ovules 2, lateral, uniseriate. Monocarps 2–4, (sub)globose to irregular-shaped, 0.7–0.8 x 0.5–0.7 cm; surface smooth to slightly verruculose, glabrous; apex not apiculate; stipe 3.0–3.5 mm long, glabrous, attached obliquely to the monocarps. Seed(s) 1–2, subglobose, flattened on one side when 2 seeds present in a monocarp, 0.6–0.7  0.4–0.5 cm; surface smooth, light brown when dry; raphe grooved.
Distribution, habitat/ecology and phenology: Occurring in Vietnam (Khanh Hoa Province: Fig. 3); on small hills; on stony soil. Elevation: ca 100 m a.s.l. Flowering and fruiting: April, September.
Similar species: This species is morphologically close to M. banghoiensis Jovet-Ast. The new species principally differs in having (broadly) elliptic leaf shape, obtuse to acute leaf apex, and only 2 ovules per ovary, while M. banghoiensishas obovate leaf shape, usually emarginate leaf apex, and 3–4 ovules per ovary. Further, a groove of seed raphe is (clearly) visible on the monocarps when dry in M. astiana(Fig. 1f ) while it is never observed in M. banghoiensis. Both species belong to the M. velutinagroup sensu Chaowasku and Keßler (2013). Within this group, M. astianamight be sympatric to M. banghoiensisand/or M. velutina. The specimens Poilane 2948, 4694 (type of M. astiana) were formerly the syntypes of M. banghoiensis(Jovet-Ast 1940); the other syntypes of M. banghoiensisare Poilane 63, 8540, 9177, 9299, one of which (Poilane 63) was designated as the lectotype of M. banghoiensisby Bân (2000).
Field notes: Flowers yellow. Fruits edible.
Vernacular name: Cây-Dú-Bò (Annamite).
Additional specimens examined (paratypes): Herb. Pha. m-Hoàng-Hô. 5302 (P), Vietnam, unknown locality; Poilane 2948 (L, P), Vietnam, Nha Trang, Ile Tre, Apr 1922.

Loài mới Miliusa ninhbinhensis được phát hiện từ VQG Cúc Phương. Hình theo Nordic Journal of Botany, 2014.
Miliusa ninhbinhensis Chaowasku & Kessler sp. nov. 
Type: Soejarto et al. 11651, fl. (holotype: L (barcode L0333250)), Vietnam, Ninh Binh, Nho Quan, Cuc Phuong National Park, Sep 2000.
Etymology: Named after the Vietnamese Province (Ninh Binh) in which this species is thus far known to be endemic.
Description
Trees, 4–12 m tall, 10–38 cm in diameter. Young twigs puberulous(-velvety). Leaves subsessile, blade narrowly elliptic-oblong, 3.4–11.0 x 1.1–2.9 cm; base subcordate, usually asymmetrical; apex (caudate-)acuminate; lamina glabrous above, glabrous to puberulous below; upper 
surface of midrib flat to slightly sunken, glabrous, lower sur-face of midrib slightly raised, (appressed-)puberulous; sec-ondary veins 14–23 per side, angle with midrib 38°–62°at the middle part of blade. Flower(s) solitary or in 2-flowered inflorescences, axillary; peduncles inconspicuous when present, bracts ca 2 when peduncles present, triangular to semicircular; pedicels 0.8–2.0 cm long [ca 1.4 cm long in fruit], glabrous, bracts 2–3 for solitary and each flower of 2-flowered inflorescences, triangular, placed at base and along the basal half of pedicels. Sepals triangular, 1.8–2.0 x 1.4–1.8 mm, connate at base, persistent in fruit; outside glabrous but margin puberulous. Outer petals triangular, 1.5–2.1 x 1.0–2.1 mm, persistent in fruit; outside and along margin puberulous. Inner petals (broadly) ovate(-triangular), 3.6–4.4 x 3.6–4.6 mm; outside puberulous and margin long-velvety but glabrous inside; glandular structures present inside near base, thickened, crescent-shaped, slightly finely warty; base not saccate. Torus subglobose. Stamens ca 29, ca 1.1 mm long. Carpels ca 12, ca 1.1 mm long; stig-mas (globose-)capitate; ovaries glabrous; ovule 1, basal. Monocarp(s) 1–8, ellipsoid-cylindrical, ca 1.4 x 0.7 cm; surface slightly verruculose, glabrous; apex not apiculate; stipe ca 7.0 mm long, (almost) glabrous. Seed 1, ellipsoid-cylindrical, ca 1.3  0.6 cm; surface and raphe not observed.
Distribution, habitat/ecology and phenology: Occurring in Vietnam (Ninh Binh Province: Fig. 3); in pri-mary forests on limestone hills with stunted trees 10.0–20.0 m tall. Elevation: 300–690 m a.s.l. Flowering: September–December, fruiting: October–December.
Similar species: Miliusa ninhbinhensisseems to be morphologically close to M. fusca Pierre. However, M. ninhbinhensisdiffers in having (slightly) larger inner petals (3.6–4.4  3.6–4.6 mm 
in M. ninhbinhensisvs 2.5–3.5  3.0–3.5 mm in M. fusca) and longer monocarps (ca 1.4 cm long in M. ninhbinhensis vs 0.8–1.0 cm long in M. fusca). Furthermore, the leaf shape of the former is narrowly elliptic-oblong with a sub-cordate base, whereas it is (broadly) elliptic to slightly (ob)ovate with a cuneate, obtuse to slightly rounded base in the latter. Both species belong to the M. mollisgroup sensu Chaowasku and Keßler (2013). Miliusa ninhbinhensisis allopatric to the other species of this group.
Field notes: Bark black–grey, smooth, slash white to dull brown. Flowers dirty white to dull pale green, black in center (  glandular structures).
Additional specimens examined (paratypes): All from the same vicinity as the type: Cuong et al. 701 (L), Dec 1999; 995 (L), Aug 2000; Mai Van Sinh MVX 07 (L), Oct 1999; Soejarto et al. 10415 (L, P), Nov 1998; 11288 (L), Dec 1999; 11290 (L), Dec 1999.

Loài mới Miliusa cambodgensis phát hiện ở Cam Pu Chia. Hình theo Nordic Journal of Botany, 2014.
Miliusa cambodgensis Chaowasku & Kessler sp. nov. 
Type: Poilane 28731, fl. (holotype: P (barcode P00495852), isotypes: L, P), Cambodia, Kg. Chhnang, Phnom Chom, Jan 1939.
Etymology: Named after Cambodia (Cambodge in French), where this species is endemic.
Description: Understory shrubs, 2–5 m tall, 8–9 cm in diameter. Young twigs curlily velvety. Leaves sessile, blade (narrowly) elliptic(-oblong), 3.6–10.0 x 1.7–3.8 cm; base cordate, always asymmetrical, often slightly clasping the twigs; apex (broadly) acute to (caudate-)acuminate; lamina glabrous on both sides; upper surface of midrib flat to slightly sunken, puberulous, denser on the basal half near twigs, lower surface of midrib raised, (puberulous-)velvety, denser on the basal half near twigs; secondary veins 18–20 per side, angle with midrib 60°–68°at the middle part of blade. FIower solitary, axillary; pedicels 0.7–2.0 cm long, puberulous-velvety near base, bracts 2–3, triangular, placed at base and along the basal half of pedicels. Sepals triangular, 1.0–1.5 x 1.0–1.5 mm, connate at base; margin puberulous-velvety, outside (almost) glabrous, inside glabrous. Outer petals triangular, 1.8–2.0  1.5–1.9 mm; both sides glabrous but margin puberulous. Inner petals  (broadly) ovate, 5.0–5.8 x 5.0–6.0 mm; both sides glabrous but margin curlily puberulous-velvety; both sides of margin somewhat recurved upward at anthesis; glandular structures present inside at base, thickened, x semicircular, slightly finely warty; base not saccate. Torus subglobose. Stamens ca 32, ca 1.0 mm long. Carpels ca 16, ca 1.1 mm long; stigmas globose to capitate; ovaries glabrous; ovule 1, (sub) basal. Monocarps unknown.
Distribution, habitat/ecology and phenology: Occurring in Cambodia (Kampong Chhnang Province: Fig. 3); in old forests with many tall trees; on granitic soil. Elevation: ca 1200 m a.s.l. Flowering: January.
Similar species: Miliusa cambodgensissuperficially resembles M. mollis, but primarily differs in having a more asymmetrical leaf base, larger inner petals (5.0–5.8  5.0–6.0 mm in M. cambodgensis vs 3.0–3.3  3.2–3.5 mm in M. mollis), more numerous stamens (ca 32 in M. cambodgensisvs 12–18 in M. mollis), and carpels per flower (ca 16 in M. cambodgensisvs 4–8 in M. mollis). Besides, the lower leaf surface of M. cambodgensis is glabrous, while it is densely hairy in M. mollis. The new species belongs to the M. mollisgroup sensu Chaowasku and Keßler (2013). It is allopatric to the other species of this group.
Field notes: Young leaves bright greenish–yellowish. Flowers cream or yellow.   (biodivn.blogspot.com)
Khoá định loại loài thuộc chi Miliusa ở Việt Nam:
Phiên bản cuối cùng của bài báo có thể tìm thấy trên:  


20/06/2014

Nguyên nhân gây suy thoái Đa dạng Sinh học Việt Nam

Mái nhà lợp hoàn toàn bằng gỗ Pơ mu ở Mường La - Sơn La
Nhìn chung, sự mất mát và sự suy giảm đa dạng sinh vật ở Việt Nam có thể phân biệt bởi 4 nhóm nguyên nhân cơ bản sau: 
- Sự suy giảm và sự mất đi nơi sinh cư. Sự suy giảm và sự mất đi nơi sinh cư có thể do các hoạt động của con người như sự chặt phá rừng (kể cả rừng ngập mặn), đốt rừng làm rẫy, chuyển đổi đất sử dụng, khai thác huỷ diệt thuỷ sản..., các yếu tố tự nhiên như động đất, cháy rừng tự nhiên, bão, lốc, dịch bệnh, sâu bệnh. 

Suy thoái Đa dạng Sinh học ở Việt Nam

Diện tích rừng có chất lượng suy giảm
Rừng là HST có độ ĐDSH cao nhất, là nơi nuôi dưỡng và sinh cư của hầu hết các loài động thực vật hoang dại. Năm 1943, diện tích rừng của Việt Nam là 14,3 triệu ha với tỷ lệ che phủ là 43%. Điều đáng chú ý là rừng trong thời kỳ này là rừng tự nhiên, chất lượng tốt. Đến những năm 1990-1995, diện tích rừng suy giảm rất mạnh, chỉ còn trên 9 triệu ha, tỷ lệ che phủ chỉ còn 27-28%. Điều đặc biệt quan trọng là tính trạng mất rừng phòng hộ đầu nguồn, ven biển đã gây những tác động nguy hiểm như xói lở, trượt đất, lũ quét, hoang mạc hóa (ven biển). Độ che phủ của rừng trên các vùng lưu vực sông chính giảm:

Loài tôm gõ mõ mới ở Nha Trang Athanas manticolus

(biodivn.blogspot.com) Vào tháng Chín năm 2013, một mẫu vật duy nhất của Athanas được thu thập trên một vùng cát bán thuỷ triều liền kề với một rạn san hô gần bờ, san hô ra bãi biển Hòn Chồng, phía bắc thành phố Nha Trang, Việt Nam. Đây là mẫu vật con cái, sau đó được chụp ảnh khi còn sống, và ngâm etanol 70% làm mẫu vật. Kiểm tra hình thái của mẫu vật cho biết đây là một loài mới hoàn toàn chưa được mô tả. Do đó nhóm nghiên cứu mô tả loài mới cho khoa học với tên Athanas manticolus (Crustacea, Decapoda)Các mẫu chuẩn đầu tiên được gửi vào các bộ sưu tập của Bảo tàng Đại học Oxford Lịch sử Tự nhiên, Oxford, Vương quốc Anh (OUMNH.ZC). Tất cả các bản vẽ đã được thực hiện dưới kính hiển vi phẫu được trang bị một máy ảnh Lucida. Chiều dài mai (cl, trong mm) được đo dọc theo đường giữa lưng từ đầu của mai đến cuối. Công bố này được đăng tải trên tạp chí Zootaxa (3784 (5): 550–558) vào hồi tháng 4, 2014.

Athanas manticolus sp. nov., a new stomatopod-associated alpheid shrimp from Vietnam (Crustacea, Decapoda)
ZDENEK ĎURIŠ, ARTHUR ANKER
Abstract
A new species of the alpheid shrimp genus Athanas Leach, 1814 is described based on a single specimen, an ovigerous female from Nha Trang Bay, Vietnam. Athanas manticolus sp. nov. differs from all other species of Athanas by the presence of a small post-rostral tubercle, combined with a minutely toothed rostrum, reduced extra-corneal teeth, and the absence of infra-corneal and supra-corneal teeth. In addition, the new species is characterised by its unique colour pattern, particularly by the red chromatophores disposed in randomly oriented, short, narrow streaks. As its name suggests, A. manticolus sp. nov. is commensally associated with the burrows of the nannosquillid mantis shrimp Bigelowina phalangium (Fabricius, 1798).
Introduction
Most species of the alpheid shrimp genus Athanas Leach, 1814, recently re-diagnosed by Anker and Jeng (2007), are free-living under rocks or in coral rubble crevices. However, the genus also includes a number of symbiotic taxa associated with various marine invertebrates, e.g., stomatopods, mud shrimps, hermit crabs, fan clams, feather stars, brittle stars, and sea urchins (Crosnier & Forest 1966; Banner & Banner 1973; Froglia & Atkinson 1998; Anker et al.2001; Hayashi 2002; Marin et al.2005; Anker & Marin 2007).
In September 2013, a single specimen of Athanaswas collected on a subtidal sandy bottom adjacent to a near-shore coral reef off Hon Chong Beach, north of the city of Nha Trang, Vietnam. The specimen, an ovigerous female, was collected from a burrow with the aid of a suction (“yabby”) pump, together with its presumed stomatopod host (see below). Both the alpheid shrimp and the stomatopod were relaxed with clove oil and photographed alive before preservation in 70% ethanol. The morphological examination of the alpheid specimen revealed a unique combination of characters, suggesting that it belonged to a hitherto undescribed species of Athanas. This species is here described as new. The holotype is deposited in the collections of the Oxford University Museum of Natural History, Oxford, the United Kingdom (OUMNH.ZC), together with the stomatopod host. All drawings were made under a dissecting microscope equipped with a camera lucida. Carapace length (cl, in mm) was measured along the mid-dorsal line from the tip of the rostrum to the posterior margin of the carapace.
Athanas manticolus sp. nov.
Athanas manticolus sp. nov.appears to be most closely related to Athanas davieiAnker, 2011, presently known only from the northern Great Barrier Reef. The two species have many similarities, especially in the general shape of the frontal margin of the carapace, as well as in the shape and proportions of the chelipeds and walking legs (cf. Anker 2011). However, A. davieihas neither rostral teeth nor post-rostral tubercle (characteristic of A. manticolus sp. nov.), but on the other hand has spiniform setae on the propodus of the third and fourth pereiopods (absent in A. manticolus sp. nov.).
Athanas manticolus sp. nov. shares some characters, e.g., the absence of infra-corneal teeth, with Athanas iranicusAnker, Naderloo & Marin, 2010 from Iran; Athanas ahyongiAnker & Komai, 2010 from Madagascar and Japan; and Athanas shawnsmithiAnker, 2011 from the northern Great Barrier Reef. However, these three species differ from A. manticolus sp. nov.by the absence of rostral dentition and post-rostral tubercle, as well as by the differently shaped chelipeds (especially A. iranicusand A. shawnsmithi); A. iranicus also differs by the much longer second article of the antennular peduncle (cf. Anker & Komai 2010; Anker et al.2010; Anker 2011). None of the remaining species of Athanasis morphologically close to A. manticolus sp. nov.(cf. De Man 1911; Holthuis 1951; Chace 1955; Banner & Banner 1960, 1973, 1978; Chace 1988; Bruce 1990; Anker 2003; Anker & Jeng 2007; Anker & Ahyong 2007; Anker & Marin 2007).
The colour pattern of Athanas manticolus sp. nov.is unique within the Alpheidae (A. Anker, pers. obs.) in the arrangement of the red chromatophores on the carapace and abdomen, resembling unorganised reddish “hairs” (Fig. 6A–C). In most other species of Athanaswith an overall similar colour pattern (reddish body with a whitish or yellowish mediodorsal band), the chromatophores are grouped in smaller or larger dots, as inAthanas amazone Holthuis, 1951, A. japonicus (cf. Anker & Jeng 2007), A. shawnsmithi, A. daviei(cf. Anker 2011), or form a broad longitudinal band, as in A. ahyongi(cf. Anker & Komai 2010).
Athanas manticolus sp. nov.is the third species of Athanasreported to be associated with stomatopods, the other two being Athanas squillophilusHayashi, 2002 from Japan andA. amazonefrom the Mediterranean Sea, both morphologically very different from the new species (cf. Holthuis 1951; Froglia & Atkinson 1998; Hayashi 2002). 
In addition, another species of Athanas, presumably closely related to A. ahyongiAnker & Komai, 2010, is known to be associated with larger lysiosquillid stomatopods in the Philippines and Indonesia, based on underwater photographs (Kuiter & Debelius 2009: p. 159; A. Anker, pers. obs.). The burrowing host of the Madagascar specimens of A. ahyongi remains unknown, but based on the substrate and shape of the burrow entrance it may be either a stomatopod or a callianassid ghost shrimp (A. Anker, pers. obs.). Thus, associations between shrimps of the genus Athanasand burrowing stomatopods (Squillidae, Lysiosquillidae, Nannosquillidae) appear to be relatively common and likely more stomatopod-associated species will be found in the future.(biodivn.blogspot.com).
Phiên bản cuối cùng của bài báo có thể được tim thấy ở: 

19/06/2014

Loài cá không mắt Schistura mobbsi ở hang Phượng Hoàng

Cá mù ẩn mốp si Schistura mobbsi không có mắt, không có sắc tố và hàng vẩy hạn chế. Ảnh http://blog.nature.org/
(biodivn.blogspot.com) Vào cuối năm 2012, tạp chí Ichthyological Exploration of Freshwaters (Vol. 23, No. 3, pp. 237-244, 4 figs., 1 tab., November 2012) đã công bố một loài cá kỳ lạ mới ở Việt Nam của hai tác giả Maurice Kottelat và Craig Leisher. Loài cá mới kỳ lạ này không hề có mắt, không có sắc tố trên da và ít vảy được đặt tên Schistura mobbsi, được phát hiện trong một hang động kỳ bí mang tên Phượng Hoàng ở tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam. Sự kỳ lạ về loài cá và những thông tin của chúng hầu như không được biết đến ở Việt Nam. Do vậy, tuy bài báo công bố cách đây vài năm nhưng biodivn.blogspot xin phép được đăng lại để mọi người hiểu rõ hơn về loài cá bí ẩn này.
Hang động vẫn là một trong các hệ sinh thái chưa được khám phá nhất; các nhà khoa học vẫn đang khám phá ra loài mới. Ảnh http://blog.nature.org/
Hơn 10 năm trước đây, sâu bên trong một hang động hẻo lánh ở miền Bắc Việt Nam, Craig Leisher nhằm đèn pha của mình xuống mặt nước. Nhiều loại cá lạ mắt nhỏ lóe lên bởi bởi đèn. Ông chuẩn bị sẵn sàng vợt của mình và nhanh chóng cố gắng để múc lên nhưng nhưng thất bại. Ông đã cố gắng một lần nữa, Leisher cuối cùng bắt được bốn loài cá. Phân tích sâu hơn cho thấy hai loài đã được khoa học biết đến, một là một loài mới và một loài bí ẩn.
Loài cá mới, Cá mù ẩn mốp si Schistura mobbsi, không có mắt, không có sắc tố, lỗ mũi lớn và vảy hạn chế (giảm cách cá chuyển động). Nó là một loại Cá chuột (Loach) - một chi ở sông, bao gồm cả sông ngầm và trên mặt đất.
Tại sao mất 10 năm thì Schistura mobbsi mới được mô tả và xuất hiện công khai trong các tài liệu khoa học?
Vị trí của Phượng Hoàng Cave, nơi Leisher và Mobbs đã khám phá của họ. Ảnh http://blog.nature.org/
Xuất phát từ một câu trong sách Hướng dẫn du lịch.
Năm 2002, Leisher đang sống ở Việt Nam và tìm kiếm địa điểm mới để lặn trong thời gian rảnh rỗi của mình. Bây giờ là một nhà khoa học xã hội đối với công việc bảo tồn, Leisher có mang một chút của người đàn ông cổ điển - một thợ lặn nghiệp dư, người gần đây đã dành một năm sống nhờ lưới với gia đình của mình.
"Một phiên bản hướng dẫn cũ của Lonely Planet về Việt Nam đề cập đến một hang động với một dòng sông đã làm cho ý tưởng về một điểm dừng tốt trên con đường phía bắc từ Hà Nội, "Leisher nói. Tò mò, người bạn và đồng nghiệp của thợ lặn Leisher, Jerry Mobbs, đặt ra để tìm các hang động một ngày cuối tuần. "Đi sâu vào một hang động mà chưa bao giờ được khám phá có lẽ là cảm giác kinh hãi lớn nhất trong thám hiểm hang động," giải thích Leisher. "Nhưng tất cả chúng ta thực sự muốn là một nơi để đi lặn." Sau khám phá ban đầu, thì nó là một vũng nước, Mobbs thấy rằng ông có thể lội lên sông, nó rất nông, không thể lặn được, đó là một sự thất vọng. Nhưng ông nghĩ nó có tiềm năng hấp dẫn mà ông chưa khám phá ra, vì vậy Mobbs thực hiện một kế hoạch để trở lại một lần nữa - lần này với Leisher.
Một loài Mù trong một nơi Mù 
Hang động là môi trường duy nhất - luôn luôn tối, với độ ẩm cao và hỗn hợp cụ thể của khí và chất dinh dưỡng. Chúng có thể có vẻ gần như không có sự sống, nhưng mỗi hang động là một đĩa petri rất có thể có khả năng thích nghi tiến hóa độc đáo. Và kỳ dị này cung cấp các tài liệu hấp dẫn đối với khoa học: Nghiên cứu gần đây về các loài cá hang động đã mang lại những hiểu biết mới về "nhịp sinh học", "giấc ngủ" và thậm chí cả "bằng chứng của siêu lục địa Gondwana" .
Trong chuyến đi đầu tiên của mình vào trong hang động, Leisher nhận thấy một số loại cá trên sông. Trên một chuyến đi tiếp theo ông đã mang vợt bắt bướm của mình - và phát hiện ra  khó  như thế nào để bắt một con cá mù.
"Hầu hết các loài cá hang động tôi đã thu thập được chúng khá chuyên nghiệp để tránh các loại lưới," John Sparks nói , trợ lý phụ trách trong các bộ phận của ngư học tại Bảo tàng Lịch sử tự nhiên ở thành phố New York. "Mặc dù chúng bị mù, chúng vẫn có khả năng tránh kẻ thù tiềm năng thông qua hệ thống laterosensory - cảm biến trên mõm và đầu."
Leisher cuối cùng đã ra khỏi hang với một Cá mù ẩn mốp si Schistura mobbsi . Mẫu dài 31 mm và rất mềm, làm cho khó khăn để đo lường và kiểm tra. Chỉ nhìn lướt qua, các nhà nghiên cứu kết luận chúng là loài cá hiếm và hoặc "một vật thể sống đặc biệt nào đó chưa được khám phá trong hang động" .
Một thập kỷ sau
Các khoa học về hang động sinh học chín muồi đã cho phép ẩn dụ: lờ mờ ánh sáng, mò mẫm trong bóng tối, - đó là phong cách sinh học gia. Thăm dò hang động tốn thời gian, và thu thập mẫu vật đầy đủ để xác định là điều thử thách lớn 
"Có thể phải mất một thời gian dài để làm nghiên cứu phân loại để xác định một loài mới hay không, đặc biệt là trong một khu vực ít được nghiên cứu, giải thích:" Leisher.
Nhưng 10 năm giữa việc phát hiện và và công bố Cá mù ẩn mốp si Schistura mobbsi có vẻ khá dài, phải không? Thực tế rằng, một thập kỷ sau không phải là quá tồi: Nghiên cứu gần đây đã tìm thấy trung bình để mô tả và công bố một loài mới, tính từ khi thu thập mẫu vật cho đến khi đầy đủ tư liệu là 21 năm. Các tác giả của các nghiên cứu đó ghi nhận nhiều lý do cho việc này.
"Vẫn còn một con cá bí ẩn nữa từ hang động đó, và có lẽ trong 10 năm nữa, chúng ta sẽ biết được nơi phù hợp của nó trong phân loại học" Leisher đùa.
Trong khi đó, ông nghi ngờ chẳng có ai đã khám phá hang động đó trong hơn 10 năm qua (hang Phượng Hoàng). Ông đã viết địa chỉ email của mình trên giấy không thấm nước và ghi chú lại vào đầu và cuối của hang động. Cho đến nay, ông đã không nhận được bất kỳ email nào. (biodivn.blogspot.com).
Tham khảo: 

Loài Cọ núi lào mới Trachycarpus ravenii từ bắc Lào

Cọ núi lào Trachycarpus ravenii. Ảnh Leonid Aver.
(biodivn.blogspot.com) Tạp chí Nordic Journal of Botany vừa công bố một loài cọ núi mới được phát hiện tại khu vực núi đá vôi miền Bắc nước Lào. Công bố này hiện vẫn đang ở phiên bản Xem trước (Early View), nghĩa là chưa có số tập, số trang nhưng về mặt nội dung thì có thể xem là phiên bản cuối cùng. Loài mới có tên Cọ núi lào Trachycarpus ravenii nhằm vinh danh GS. Peter Raven - Cựu Giám đốc Vườn Thực vật Mít su ri, Hoa Kỳ - với những đóng góp tài trợ kinh phí và tổ chức điều phát phát hiện rất nhiều loài mới từ vùng Đông Dương. Chi cọ núi Trachycarpus trên thế giới có khoảng 10 loài. Cọ núi lào Trachycarpus ravenii  có chiều cao chừng 6 m, mọc rải rác. Chúng có hình dạng khá đẹp, có giá trị về mặt tài nguyên cây cảnh cao. Phân bố của chúng là khu vực rừng thứ sinh, trảng cỏ, cây bụi với diện tích phân bố rất hạn chế, khoảng dưới 100km2. Với vùng xuất hiện ít như vậy nên Cọ núi lào Trachycarpus ravenii  được đề nghị xếp ở trình trạng bảo tồn Rất nguy cấp (Critically Endangered-CR), theo thứ hạng và hạng mục của Danh lục đỏ thế giới IUCN.

Trachycarpus ravenii sp. nov. (Arecaceae, Corypheae) from central Laos
Leonid V. Averyanov, Khang Sinh Nguyen, Tien Hiep Nguyen, The Van Pham and Shengvilai Lorphengsy
L. V. Averyanov (av_leonid@mail.ru), Komarov Botanical Inst., Russian Acad. of Science, Prof. Papov Srt. 2, RU-197376 St Petersburg, Russia. – K. S. Nguyen, Inst. of Ecology and Biological Resources, 18 Hoang Quoc Viet, Cau Giay, Ha Noi, Vietnam. – H. T. Nguyen, Center for Plant Conservation, no. 25/32, Lane 191, Lac Long Quân Rd, Nghia Dô, Cau Giay District, Ha Noi, Vietnam. – T. V. Pham, Inst. of Ecology and Biological Resources, 18 Hoang Quoc Viet, Cau Giay, Ha Noi, Vietnam. – S. Lorphengsy, National Science Council Dept, National Herbarium of Laos.
A new species Trachycarpus raveniidiscovered in Kasi district, Vientiane province of central Laos is described and illustrated. Morphologically, it is closest to T. oreophilusandT. princeps, but differs by having a shorter stem of mature plants; glabrous, dull green petiole; almost circular leaf blade, waxy bluish–white abaxially; narrow leaf segments with narrow free lobes densely adpressed to each other, as well as in oblique-round apices of median leaf segments.
Trachycarpus H. Wendl.
10 species. Nepal, Bhutan, northern India, southwestern China, Myanmar, northwestern Thailand, central Laos, northern Vietnam.
Trachycarpus ravenii Aver. & K. S. Nguyen sp. nov. (Fig. 1–2)
Etymology. This superb, kinglike tree is named after Prof. Peter H. Raven in recognition of the truly outstanding and essential role that this noble person has played in the organization and support of field botanical explorations and new species discoveries within unexplored areas of Indochina.
Cọ núi lào Trachycarpus ravenii. Ảnh Leonid Aver.
Description. Erect unbranched dioecious fan palm. Stem solitary, straight or slightly ascending, to 6 m tall and 15 cm in diameter, with few insignificant remnants of leaf sheaths near apex or entirely naked, ringed. Leaves (15)18–25(30), palmate, forming a compact, dense hemispherical to almost spherical crown; old, dry, marcescent leaves hang downward, form a dense, broad skirt embracing an almost naked trunk.  Leaf petiole slender, (40)45–55(60) cm long, triangular in cross section, 3.0–1.5 cm in diameter, glabrous, dull green, straight to slightly curved, at base strongly recurved, with few stiff, rigid, almost straight bristles; leaf sheaths rather short, fibrous; old sheaths forming a mass of interwo-ven fibers, fibers at apex of sheath on younger leaves form-ing a short ocrea; petiole margins with very small blunt teeth to almost unarmed. Leaf blade semicircular to almost circular in outline, 0.7–1.0 m long and wide, dark green adaxially, waxy bluish–white abaxially, divided to about half of their length into 50–60 stiff segments; hastula triangular-ovate, obtuse, 2.2–3.0 cm long and wide, with entire, light yellowish–brown, coriaceous margin. Leaf segments arranged in one plane, producing a nearly flat leaf profile, conduplicate, 1.5–2.0 cm wide, their lobes densely adpressed to each other toward the apex; apex of lobes bi-lobulate, lobules acute to strongly oblique round-ish, often with small reflexed seta placed between lobules; secondary veinlets parallel, transverse veinlets almost invisible. Inflorescences (1)2–5(6), interfoliar. Male inflo-rescences with short peduncle, erect, 0.3–0.5 m long, oval in cross section, 8–12 cm wide, enveloped at base by 3–4(5) bracts, branched to 3–4 orders; rachillae 1–3 cm; inflorescence bracts base tubular, ovate, leathery, coriaceous, yellowish to chestnut-brown (when old), shortly hairy, concave, 20–30 cm long, (6)8–12 cm wide; flowers densely arranged, subsessile, white, not widely opening, globose, 2–3 mm in diameter, sepals ovate-triangular, 1.5–2.0 mm long, shortly connate at base; petals oblong-orbicular, twice as long as sepals; stamens 6, exceeding the petals; anthers bean-shaped, 1.2–1.4 mm long; pistillodes insignificant, less than half the length of stamens. Female inflorescences erect or spreading, robust, 0.8–1.2 m long, 15–20 cm wide, branched to 3 orders; rachillae 1–8 cm long; inflorescence rachis oval in section, with (4)6–8 broad sterile bracts; inflorescence bracts chestnut-brown, concave, coriaceous, 10–20(25) cm long, 5–8(10) cm wide; flowers solitary, subtended by minute triangular bracteoles. Old fruits brown to dull black, grooved, 1-seeded, almost globu-lar, 7–8(10) mm in diameter.
Ecology. Primary and secondary forests, secondary scrub and grass-lands on rocky highly eroded solid, crystalline limestone at elevations 1600–1800 m a.s.l., commonly on very steep cliffy rocky north-faced outcrops near mountain tops. Flowering in March to June and fruiting in September to October?
Sinh cảnh sống của Cọ núi lào Trachycarpus ravenii. Ảnh Leonid Aver.
Distribution. Central Laos, Vientiane province, Kasi district, Thong Mout and Namken villages. Local endemic.
Similar species. Discovered plant clearly differs from all previously known Trachycarpusspecies. Morphologically, it is more or less close to three species occurring in Indochina: T. geminisectus,T. oreophilusand T. princeps. Trachycarpus raveniidistinctly differs from T. geminisectusin having tall, naked (not densely furry) stems, a large number of leaves with a small insignificant leaf sheath and ocrea, large hastula and narrow leaf segments. The new species differs from T. oreophilusand T. princepsin having a much shorter stem on mature plants; a glabrous, dull green petiole; an almost circular leaf blade with waxy bluish–white abaxially; narrow leaf lobes with narrow free lobules densely adpressed to each other, as well as oblique-round apices of median leaf segments. A comparison of selected morphological and taxonomic features of Trachycarpus species native to Indochina is shown in Table 1.
Conservation status. A number of earlier studies confirmed that all Trachycarpus species apart from T. fortuneiare more or less seriously threatened and very close to full extinction in the wild  (Gibbons and Spanner 1998, Kholia 2009, Kholia and Rajbhawan 2010). All of these species were recorded as local endemics whose limited distribution may be caused by the widespread and nearly complete destruction of primary plant communities in their native ranges. Degradation of primary native habitats continues across the distribution of the genus and is the main factor of Trachycarpus species threathened status and extinction. This is true for the survival status of T. raveniias well. The estimated total known area of its distribution is less than 100 kmwith no more than 100 observed mature individuals tentatively qualifying this palm as ‘Critically Endangered’ (CR) according IUCN criteria B1, C2 ai, aii and D (IUCN 2012). Conservation of all populations of this relictual species represents the highest priority of nature protection activity in central Indochina. As a first step, T. raveniimay be effectively protected in-situ in suitable habitats within the highest limestone formations in Indochina–Phachao Mountain. Establishing a protected area at Phachao Mountain will also protect large stands of intact, upper elevation limestone forests containing a rich diversity of native endemic species. Trachycarpus raveniiis an attractive tree providing a unique characteristic to the upland limestone landscape of central Laos. (biodivn.blogspot.com).

Phiên bản cuối cùng có thể tìm thấy tại: Nordic Journal of Botany
 

Chuồn chuồn âu cơ mới ở Lạng Sơn Atrocalopteryx auco

Chuồn chuồn âu cơ Atrocalopteryx auco. Ảnh Đỗ Mạnh Cương http://www.vietnaminsect.com/
Loài chuồn chuồn mới có tên Chuồn chuồn âu cơ Atrocalopteryx auco vừa được công bố trên tạp chí Zootaxa, tháng 5, 2014 là một loài mới cho khoa học. Loài này được thu mẫu lần đầu tiên vào năm 2008 tại thôn Tân Lai, xã Hữu Liên, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Đây là loài chuồn chuồn nhỏ, sống ở ven suối rừng thứ sinh. (biodivn.blogspot.com)

Đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái của Việt Nam

(biodivn.blogspot.com)

1. Đa dạng sinh học trong hệ sinh thái rừng

Khu hệ thực vật: Tổng kết các công bố về hệ thực vật Việt Nam, Nguyễn Nghĩa Thìn (1999)  đã ghi nhận có 13.766 loài thực vật, trong đó, có 2.393 loài thực vật bậc thấp và 11.373 loài thực vật bậc cao (bảng 6.2). Theo đánh giá, 10 % số loài thực vật dã phát hiện được cho là đặc hữu.

Đa dạng Hệ sinh thái biển và Phân vùng địa sinh học

(biodivn.blogspot.com) 

HST biển

Trong vùng biển và hải dương, có thể phân biệt được 3 vùng: vùng triều (littoral zone) là khu vực chịu ảnh hưởng của thủy triều được giới hạn giữa triều cao và triều thấp; vùng ven bờ/vùng lộng (neritic zone) là khu vực biển trên thềm lục địa với độ sâu tới 200m và nơi xa nhất là vùng hải dương (oceanic zone).  Các thuật ngữ trên áp dụng cho vùng nước và hệ sinh vật trong nước. Vùng đáy với hệ sinh vật đáy lại được phân chia như sau: Vùng triều ở ven bờ, vùng dưới triều nằm trên thềm lục địa, vùng sâu (bathyal zone) nằm trên sườn dốc lục địa (continental slope), vùng biển thẳm (abyssal zone) nằm trên nền hải dương (abyssal plain) và vùng đáy thẳm (hadal zone) nằm trên rãnh hải dương (oceanic trench).

Đa dạng Hệ sinh thái đất ngập nước của Việt Nam

(biodivn.blogspot.com) Theo công ước Ramsar, ĐNN được định nghĩa là: “Các vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, có nước chảy hay nước tù, là nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, kể cả các vùng biển với độ sâu không quá 6 mét khi triều thấp.”.
Đất ngập nước được chia thành các hệ chính:
-           Biển: các vùng đất ĐNN ven biển, gồm các đầm phá ven biển, các bờ đá và các rạn san hô;
-           Cửa sông: bao gồm vùng châu thổ, các bãi triều lầy, các đầm nước;
-           Ven hồ: các vùng ĐNN có liên quan đến các hồ;
-           Đầm lầy: các đầm, đầm lầy và đầm lầy than bùn.