Zingiberaceae

Các loài thực vật mới cho khoa học phát hiện ở Việt Nam 2014

Nycticebus pygmaeus

Buôn bán động vật hoang dã ở Việt Nam.

Ex-situ conservation of Xanthocyparis vietnamensis

Bảo tồn chuyển vị loài Bách vàng ở Hà Giang. Photo by Pham Van The.

Hoya longipedunculata

Cẩm cù cuống dài, loài mới 2012 ở Quảng Nam, Việt Nam. Photo by Pham Van The.

Forest fired

Cháy rừng Khộp, nguyên nhân suy thoái Đa dạng sinh học.

Taxus wallichiana var. chinensis

Thông đỏ bắc, loài trong Sách đỏ Việt Nam, phân bố miền Bắc. Photo by Pham Van The.

Ovophis monticola

Rắn lục núi, loài bị đe đoạ cấp R, phân bố Tây Bắc - Việt Nam.

Paphiopedilum canhii

Lan hài cảnh, loài đứng bên bờ vực tuyệt chủng, phân bố Việt Nam, Lào

31/05/2014

Phương pháp và tiêu chí đánh giá đa dạng di truyền

Giải trình tự ADN và ARN là phương pháp phổ biến nhất để nghiên cứu ĐDDT

Các phương pháp
- Điện di protein: Được sử dụng rộng rãi từ những năm 60, kỹ thuật này phân tích các protein khác nhau - sự biểu hiện tương ứng của các alen khác nhau trong một cá thể;

- Bản đồ giới hạn: Một tiến bộ gần đây dựa trên hoạt động của những enzym rất đặc hiệu của vi khuẩn. Các enzym này giúp ngăn chặn các sai hỏng của ADN gây ra bởi virut bằng cách cắt bỏ các sai hỏng này ở những điểm đặc hiệu. Việc phân tích các điểm cắt này (các điểm giới hạn) cho phép phân tích một cách chính xác trình tự các gen;
- Giải trình tự ADN và ARN: Một hướng nghiên cứu khác cho phép phân tích tất cả các ADN . Các axit ribonucleic (ARN) thành phần của các riboxom thường được sử dụng. Ri boxom là các bào quan có chức năng tổng hợp protein. ARNr 16S ( 16S là tên tiểu đơn vị của phân tử ARN riboxom) là cấu trúc được quan tâm đặc biệt.

Đánh giá Đa dạng Di truyền

Đa dạng di truyền ở người

Việc đánh giá Đa dạng Di truyền là rất hữu ích cho việc nghiên cứu hai nhóm vấn đề. Một là việc thử nghiệm các lý thuyết về bản chất của các tác động lên các biến thể của gen, nguyên liệu trong tiến hoá. Có rất nhiều lý thuyết toán học và xác suất thống kê được sử dụng trong nghiên cứu di truyền quần thể, đã được đặt nền móng từ năm 1930. Hiện tại, với sự tiến bộ của kỹ thuật ADN, chúng ta đã có đủ các công cụ đủ mạnh để kiểm định một cách nghiêm ngặt các lý thuyết này và sự phức tạp của chúng. Một vấn đề khác là  các phương pháp đánh giá Đa dạng Di truyền (ĐDDT)  như một công cụ để tìm hiểu về mối quan hệ giữa các sinh vật, sự đa dạng cũng như khác nhau giữa chúng. Vấn đề đặt ra là cần thiết phải có sự kết nối giữa hai vấn đề trên.

Bản chất và nguồn gốc của đa dạng di truyền

Mối quan hệ di truyền của một số loài chó 
Đa dạng di truyền (ĐDDT) được hiểu là những biến dị trong cấu trúc di truyền của các cá thể bên trong hoặc giữa các loài; những biến dị di truyền bên trong hoặc giữa các quần thể.

Định nghĩa về đa dạng sinh học

Đa dạng sinh học là bao gồm tất cả các loài sống trên trái đất
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về đa dạng sinh học. Định nghĩa do Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế - WWF) (1989) quan niệm: “Đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những Hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường”. Do vậy, ĐDSH bao gồm 3 cấp độ: đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng HST. Đa dạng loài bao gồm toàn bộ các loài sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động, thực vật và các loài nấm. Ở mức độ vi mô hơn, đa dạng sinh học bao gồm cả sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các quần thể sống cách ly về địa lý cũng như sự khác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể. đa dạng sinh học còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống, các HST nơi mà các loài cũng như các quần xã sinh vật tồn tại và cả sự khác biệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau.

Con đường tới Rio - Lịch sử khái niệm Đa dạng Sinh học

Nguồn gốc đa dạng của sự sống trên trái đất không những là đề tài trung tâm của các ngành khoa học tự nhiên mà còn liên quan đến nhiều lĩnh vực khoa học khác. Các quan niệm về sự phân chia sự sống đã có từ thời cổ xưa và vẫn còn tiếp tục bàn luận cho tới ngày nay. Hoa Kỳ
Thuật ngữ Đa dạng Sinh học xuất hiện lần đầu tiên trong hai bài viết của Lovejoy (1980), Norse và McManus (1980). Lovejoy, làm việc cho Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế tại Washington (Hoa Kỳ) đã nhấn mạnh trong Báo cáo năm 1980 cho Tổng thống Hoa Kỳ về các vấn đề môi trường toàn cầu, năng lượng, dân số và kinh tế... Trong báo cáo cũng đã nhấn mạnh sự cấp thiết phải có các nỗ lực quốc tế để bảo vệ môi trường trên phạm vi toàn cầu, đánh giá diện tích rừng còn lại trên trái đất, những kiến nghị sử dụng và hậu quả của việc khai thác rừng quá mức hiện nay (làm thay đổi khí hậu toàn cầu và suy thoái Đa dạng Sinh học) v.v... Lovejoy cho rằng Đa dạng Sinh học hay đa dạng của sự sống được xác định trước hết bằng tổng số các loài sinh vật đang tồn tại hiện nay.

Sự ra đời của thuật ngữ và khái niệm Đa dạng Sinh học

Thuật ngữ ĐDSH (biological diversity/biodiversity) xuất hiện từ những năm 1980, nhằm nhấn mạnh sự cần thiết trong các hoạt động nghiên cứu và bảo tồn tính đa dạng và phong phú của sự sống trên trái đất. Thuật ngữ này hiện nay đang được sử dụng một cách rộng rãi nhất trên phạm vi toàn cầu trong nhiều lĩnh vực khoa học và văn hóa đời sống. ĐDSH có nghĩa rất rộng và có những nội dung còn đang được thảo luận. Trước hết, đó là sự đa dạng và phong phú của sự sống trên trái đất. Các loài cây, hoa trái, các loài côn trùng, vi khuẩn, rừng và các rạn san hô v.v... đều nằm trong khái niệm ĐDSH. Thứ đến, ĐDSH lại là một lĩnh vực nghiên cứu trong đó bao gồm cả sự mô tả, đánh giá và giải thích nguồn gốc cũng như sự hình thành nó. Sự suy thoái ĐDSH: sự tuyệt chủng của các loài , sự mất đi của các hệ sinh thái (HST) đang là các vấn đề nóng bỏng hiện nay và là trọng tâm của chính sách bảo tồn ở các nước. 
Xem thêm 
29/05/2014

Lan hài mới phát hiện từ Lào Paphiopedilum rungsuriyanum

Hình thái hoa Paphiopedilum rungsuriyanum. Nguồn Orchideen Journal
 Paphiopedilum rungsuriyanum được Olaf Gruss và cộng sự mô tả vào tháng 5-2014 dựa trên các mẫu cây trồng ở Thái Lan. Những cây trồng này được Niwat Rungroang - một nhà làm vườn Thái Lan - mua được tại một chợ của Thái Lan. Những cây này được lấy từ miền Bắc Lào và được công bố trên Orchideen Journal - Đức. Đây là loài lan hài rất đẹp và có kích thước nhỏ tương đương với loài Paphiopedium canhii - loài mới được phát hiện ở Bắc Việt Nam năm 2010 và cũng được tìm thấy tại Bắc Lào.

Bảo tồn và Quản lý Đa dạng Sinh học

 Bảo tồn Đa dạng Sinh học
                  
  •  Các khu bảo vệ thiên nhiên
               
               
               
              
              
              

Khái niệm chung và Giá trị của Đa dạng sinh học

  •  
Đa dạng di truyền
  •  
  •  
  •  
Đa dạng loài và Hệ thống học
28/05/2014

Nghiên cứu, Đào tạo và Giáo dục Đa dạng sinh học

Nghiên cứu Đa dạng Sinh học
  •  
  •  
  •  
 Đào tạo Đa dạng Sinh học
  •  
  •  
  •  
  •  
26/05/2014

Loài Cẩm cù mới phát hiện từ miền Trung Hoya hanhiae

Dạng hoa màu hồng của Cẩm cù hạnh Hoya hanhiaeHình chụp bởi Nguyễn Thuý Hạnh
Các nhà thực vật Việt Nam và Nga vừa phát hiện và mô tả một loài thực vật mới cho khoa học thuộc phân họ Thiên lý (Asclepiadoideae), họ Trúc Đào (Apocynaceae) với tên gọi Cẩm cù hạnh – Hoya hanhiae. Công bố này đã nâng tổng số các loài Cẩm cù của Việt Nam mọc tự nhiên lên 25 loài.