12/10/2014

Chuyển đổi các khu vực tự nhiên sang canh tác nông nghiệp

Nông nghiệp là một hoạt động sống quan trọng nhất của con người có ảnh hưởng lớn tới đa dạng sinh học. Vì vậy, các chuyên gia cho rằng bất kỳ kế hoạch nào nhằm bảo vệ đa dạng sinh học cũng phải xem xét các hoạt động nông nghiệp. Có một số dẫn chứng chỉ ra rằng tại sao nông nghiệp lại có những tác động tiêu cực tới đa dạng sinh học, một trong số đó là việc chuyển đổi các khu vực tư nhiên sang các mục đích canh tác nông nghiệp đang diễn ra hiện nay.


Hiện nay, có khoảng 40% tổng diện tích lục địa trên thế giới được sử dụng cho việc trồng trọt và sản xuất nguyên liệu thức ăn cho gia súc. Theo điều tra/nghiên cứu của Viện tài nguyên Thế giới, diện tích đất tự nhiên ở các quốc gia đang phát triển đang chuyển đổi mục đích sử dụng sang canh tác nông nghiệp đáng diễn ra với tốc độ rất nhanh. Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) dự đoán rằng ở Tây Ấ và Châu Phi, diện tích đất nông nghiệp đến năm 2050 sẽ gia tăng gấp đôi và khu vực Châu Á Thái Binh Dương sẽ tăng khoảng 25%. Việc nảy ảnh hưởng nhiều tới tài nguyên rừng. 1/5 diện tích rừng rộng lớn hiện nay có thể sẽ thành đất trồng trọt và đồng cỏ chăn thả gia súc. Hiện tượng xói mòn dẫn tới mất các vùng đất màu mỡ, dặc biệt là khu vực nhiệt đới, ở đó người dân địa phương có xu hướng chuyển đổi rừng nhiệt đới thành đất nong nghiệp. Những việc này gây ra hậu quả nghiêm trọng cho trong đa dạng sinh học bởi vì các loài đông thực vật trong rừng sẽ không có nơi nào để sinh tồn nữa.
Tăng diện tích đất trồng trọt ở một số khu vực tính từ mức hiện tại (màu da cam) và mức tăng tối đa (màu xanh da trời), với giả định môi trường tự nhiên sẽ bị thay đổi (Nguồn: FAO 2002).

Một lý do khác giải thích lý do tại sao hoạt động trong nông nghiệp làm giảm sự đa dạng sinh học đó là người dân luôn tìm mọi cách để tăng năng suất cao nhất có thể. Điều này có nghĩa là các loài động vật và thực vật có khả năng làm giảm năng suất như các loài sâu sẽ bị tiêu diệt. Để có được năng suất cao, không chỉ thuốc trừ sâu mà phân bón hóa học và các thiết bị, máy móc đang được sử dụng ở nhiều nơi. Đầu tư tưởng như mang lại hiệu quả cao đó không chỉ chỉ hủy hoại đời sống của các giống loài mà tự nhiên mà còn gây xói mòn đất và ô nhiễm nghiêm trọng. Tất cả những đó ngày càng ảnh hượng đến sự môi trường sống của nhiều loài hơn và các loài động vât, thực vật hoang dã có ít điều kiện thuận lợi để sinh tồn.

Điều này xem ra trái ngược với nhu cầu lương thực toàn cầu đang gia tăng một cách nhanh chóng. Đến năm 2020, Liên Hợp Quốc ước tính hành tinh của chúng ta sẽ là ngôi nhà chung của 7,7 tỷ người.

Hiện nay vẫn có nhiều người bị chết đói. Có một số tranh luận về việc lương thực sản xuất trên Thế giới là đủ nhưng vấn đề là việc nên phân phối như thế nào. Một số ý kiến khác lại cho rằng sẽ chẳng bao giờ có việc phân phối lương thực một cách công bằng trên toàn cầu.

Thách thức khác đó là việc tiêu thụ thị ngày càng tăng ở nhiều quốc gia.Việc nuôi gia súc, gia cầm nhằm cung cấp thịt đòi hỏi nguồn thức ăn chăn nuôi khá lớn. Lượng cây cỏ làm thức ăn trong chăn nuôi từ các nông trường cung cấp trực tiếp nhiều hơn khoảng gần 10 lần. Do vậy, ăn thịt thay vì ăn rau sẽ làm tăng nhu cầu phải trồng thêm nhiều loài cây trồng hơn nữa và những loài cây chúng ta sẽ phải tăng thêm diện tích trồng cây lương thực.

Mù Cang Chải, Yên Bái năm 2011
Vấn đề cần giải quyết là tìm cách sản xuất đủ lương thực trong khi vẫn phải bảo vệ sự đa dạng sinh học bằng cách tốt nhất/ hiệu quả nhất có thể. Một số chiến lược được đưa ra, chẳng hạn như trồng trọt thâm canh với đầu vào càng ít bao nhiêu là cách có thể tránh được giảm cho đầu ra của các sản phẩm nông nghiệp. Hơn thế nữa, năng suất thấp hơn cần nhiều đất trồng hơn, hay nói cách khác khi đó nhu cầu chuyển đổi đất tự nhiên sang đất nông nghiệp tăng lên. Khả năng khác có thể tăng hoạt động nông nghiệp trên đất đang có thực hiện theo 2 chiến lược/cách sau. Cách thứ nhất là áp dụng công nghệ mới để tăng năng suất nhưng đảm bảo đầu tư ít tốn kém như trồng giống cây mới và năng suất cao. Tuy vậy công nghệ mới đòi hỏi người nông dân có kiến thức mới có thể áp dụng được và điều này cũng khá tốn kém. Người nông dân phải đầu tư nhiều nhưng có thể kết quả vẫn chưa được như mong muốn. Cách thứ 2 là áp dụng hình thức canh tác truyền thống nhưng hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học như canh tác luân canh. Những biện pháp này đòi hỏi phải có kiến thức và nhiều nhân công hơn, vì vậy đó cũng là khó khăn đặc biệt đối với những người cuộc sống dựa chủ yếu vào nông nghiệp.

Vấn đề chúng ta phải cân nhắc lựa chọn là có nên tăng sản lượng sản xuất lương thực với mức cao như vậy mà gây nhiều ảnh hưởng tới đa dạng sinh học. Tốt hơn hết, chúng ta nên tìm cách giảm nhu cầu lương thực bằng cách giảm tiêu thụ thịt hay sử dụng nguồn khác hiệu quả hơn, bớt lãng phí thức ăn và phân phối thực phẩm hiệu quả hơn. Vấn đề ở đây là những giải pháp này đòi hỏi những tác động mạnh mẽ về mặt kinh tế - xã hội, những thay đổi thói quen ăn uống. Việc này rất khó đạt được hoặc cần rất nhiều thời gian để thực hiện.
Cán Tỷ - Quản Bạ - Hà Giang năm 2010
Hai cách nêu trên đều đã xem xét mọi khía cạnh. Ngoại trừ vấn đề kỹ thuật, các cách này cũng ẩn chứa nhiều vấn để. Chẳng hạn như chúng ta có nên thỏa hiệp khi đề cập tới sự chuyển đổi của các khu vực tự nhiên sang đất canh tác để có được một cách thức nào đó vừa đảm bảo sản lượng nông nghiệp vừa bảo vệ được sự đa dạng sinh học hay không? Chúng ta có nên đẩy cho người nông dân trách nhiệm giải quyết tình trạng tiến thoái lưỡng nan này hay không hay người tiêu dung cũng có trách nhiệm phải bảo vệ đa dạng sinh học khi vấn đề liên quan đến sản xuất lương thực. Tất cả những nỗ lực này đóng vai trò rất quan trọng trong việc cân nhắc xem cách/ chiến lược chung có tiêu chí thỏa mãn nhu cầu trong tương lai về thực phẩm mà vẫn đảm bảomục đích bảo vệ đa dạng sinh học. 
Nguồn:

0 nhận xét:

Post a Comment

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!