05/10/2014

Tiếp cận và Chia sẻ lợi ích ĐDSH: Nghị định thư Nagoya

 
Chia sẻ công bằng và bình đẳng các lợi ích từ việc sử dụng nguồn tài nguyên gen là một trong 3 mục tiêu chính của Công ước về Đa dạng sinh học. Điều này được coi là một yếu tố quan trọng để thực hiện 2 mục tiêu khác: bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học. 




Thuật ngữ “Tài nguyên gen” được giải thích là những đơn vị gen di truyền chứa trong các sinh vật sống. Điều này xác định các thuộc tính của sinh vật tương ứng và truyền lại cho thế hệ tiếp theo. 

Nguồn tài nguyên gen cũng như những kiến thức truyền thống về sinh vật, đặc điểm của chúng và các sử dụng hợp lý có thể có nhiều công dụng mang lại lợi ích cho việc nghiên cứu và phát triển kinh tế thương mại, ví dụ: máy móc mới, thực phẩm tốt hơn, enzyme công nghiệp, mỹ phẩm ...

Cũng giống như các nguồn tài nguyên khác, nguồn tài nguyên gen và những kiến thức truyền thống lâu đời giúp kết nối toàn bộ dân bản địa và địa phương đang phân bố không đồng đều trên toàn thế giới. 

Nguồn tài nguyên gen sẽ làm phong phú thêm sự đa dạng sinh học, chủ yếu ở vùng nhiệt đới hay ở các nước đang phát triển. Các bên tham gia có thể khai thác nguồn gen bởi lợi thế công nghệ hiện đại của mình, và phần lớn đều là các nước công nghiệp. Nhìn từ quan điểm của các nước đang phát triển, điều này dẫn tới “Vi phạm quyền sở hữu sinh học”, một thuật ngữ áp dụng trong những trường hợp trong đó các quốc gia sẽ thu thập nguồn tài nguyên gen ở một quốc gia khác mà không xin phép và không phải chia sẻ lợi ích từ hoạt động kinh doanh thương mại từ nguồn tài nguyên này với các quốc gia cung cấp.

Nghị định thư Nagoya

Sau nhiều năm đàm phán, một thỏa thuận “Tiếp cận nguồn tài nguyên gen đồng thời chia sẻ công bằng và bình đẳng lợi ích phát sinh từ việc sử dụng nguồn tài nguyên” (Nghị định thư Nagoya, được đặt tên sau khi nghị định thư được viết tại thành phố Nagoya của Nhật ) đã đạt được tại COP10 trong tháng 10 năm 2010. Thỏa thuận đề cập đến “Các nhà cung cấp” như là các quốc gia có thể cấp quyền tiếp cận nguồn tài nguyên gen của họ để đổi lấy thỏa thuận chia sẻ lợi ích từ việc sử dụng chúng (xem hình 1.1). Nghị định thư cũng nói rằng trong trường hợp người dân bản địa hay người dân địa phương cung cấp khả năng hiểu biết của họ cho việc phát hiện một nguồn gen hữu ích nào đó, họ cũng sẽ được hưởng lợi. “Người sử dụng” là những người muốn sử dụng nguồn gen hay những kiến thức truyền thống. Họ phải có nghĩa vụ xin phép từ quốc gia nơi họ muốn được thu thập nguồn tài nguyên gen. Họ cũng phải đồng ý với nhà cung cấp về cách thức chia sẻ quyền lợi một cách rõ ràng.
Hình 1-1 Mô hình tiếp cận và chia sẻ lợi ích. Mũi tên màu hồng cho thấy một số lợi ích của các sản phẩm mới bắt nguồn từ đa dạng sinh học sẽ quay trở lại với các quốc gia sở hữu nguồn đa dạng sinh học ban đầu. (Nguồn: CBD 2012 hiệu chỉnh)

Lợi ích của các bên thu được từ phương pháp trên có thể bằng tiền hoặc sự hợp tác cũng như những kinh nghiệm bí quyết, có thể kể ra là công tác nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Lợi ích có thể giúp phát triển những nỗ lực bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học. Nghi định tư Nagoya sẽ giúp thiết lập các quy tắc so sánh trên toàn thế giới.

Một ví dụ về chia sẻ lợi ích

Các bộ tộc Kani sống trong rừng phòng hộ ở Kerala, Ấn Độ. Một nhóm các nhà nghiên cứu tới từ Viện nghiên cứu rừng thực vật nhiệt đới (TBGRI) đã có một chuyến thực địa vào khu rừng này, người dẫn đường là những người đàn ông bộ tộc Kani. Trong quá trình gian khổ để vào sâu trong rừng, đa số các nhà khoa học nhận thấy rằng những người đàn ông Kani liên tục ăn những lọai quả rất tươi và nhiều năng lượng. Các bộ lạc Kani không muốn tiết lộ nguồn gốc của loại quả trên, họ nói rằng đó là một bí mật của bộ lạc và không được phép tiết lộ cho bên ngoài. Sau nhiều lần thuyết phục, các nhà khoa học cũng được bộ lạc cho biết về loại thực vật trên và họ bắt đầu thu thập để nghiên cứu thành phần của chúng. Các nhà khoa học phát hiện, đây là một loại thực vật hiếm, chỉ xuất hiện tại các khu rừng núi này. Loài này đã được ghi nhận trước đây nhưng việc sử dụng và biết đến tính chất đặc biệt của nó thì không ai biết đến. Các nhà khoa học của TBGRI phát hiện rằng loại quả này có chứa một loại chất chống mệt mỏi và đã sử dụng chúng để phát triển loại thước có cái tên “Jeevani”, rất tốt cho sức khỏe và giúp giảm bớt căng thẳng.

Hình 1-2 Loài cây được bộ lạc Kani sử dụng (trên), chế xuất thành thuốc thương phẩm Jeevani (dưới). Nguồn (Wikipedia và http://sanjeevaniherbals.com/)

Mục tiêu và hạn chế của Nghị định thư Nagoya

Nghị định thư Nagoya sẽ lần đầu tiên có hiệu lực khi 50 quốc gia cũng nhau phê chuẩn trở thành thành viên, sự kiện này được dự kiến sẽ diễn ra trong một tương lai không xa. Bởi thế, chính phủ các nước cần phải quyết định và chuẩn bị cách thức để có thể làm tốt nhất nghĩa vụ của mình theo Nghị định thư.

Trong khi Nghị định thư Nagoya đưa ra các quy tắc của việc Tiếp cận và Chia sẻ lợi ích, thì các thỏa thuận vẫn có thể đạt được với hàng triệu mẫu loài khác nhau (và các nguồn tài nguyên gen từ chúng) đã được thu thập ở các nước đang phát triển trước khi có Nghị định thư và được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu hoặc các công ty tới từ các nước phát triển. Một số người nói rằng, các mẫu gen đã được thu thập một cách hợp pháp trong quá khứ. Việc áp dụng Nghị định thư Nagoya cũng giống như việc thay đổi giới hạn tốc độ đối với xe ôto trên đường cao tốc, trước đó thì người lái xe có thể lái xe rất nhanh trước khi có quy định hạn chế tốc độ. Một số người khác thì nói, các mẫu được thu thập từ các quốc gia trước đây vẫn được coi là thuộc quyền sở hữu của quốc gia đó và bởi vậy sẽ được nhận lợi ích từ việc sử dụng chúng.

Một vấn đề khác liên quan đến một thực tế rằng, Nghị định thư Nagoya không điều chỉnh các nguồn tài nguyên gen trong các sinh vật biển ở khu vực Biển chung (ví du như cá, tảo, nấm ...) Các nguồn tài nguyên này hiện không có thuộc sở hữu của bất kỳ ai hoặc quốc gia nào(các nhà cung cấp) và có thể sử dụng cho tất cả mọi người. Ngày nay, các nguồn tài nguyên gen sinh vật biển chỉ được sử dụng bởi một số lượng hạn chế các nhà nghiên cứu và số ít các công ty tới từ các nước phát triển.

“Tự do khu vực biển chung” là một thỏa thuận ngầm đã được xây dựng từ rất lâu, và nhiều người tin rằng nó có giá trị tích cực phải được tiếp tục duy trì. Một số người khác lại thấy, các nguồn gen di truyền ở khu vực Biển chung thuộc về toàn nhân loại và phải được chia sẻ lợi tích kinh tế từ việc sử dụng chúng để góp phần vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại các nước đang phát triển.
Tham khảo: 

0 nhận xét:

Post a Comment

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!