12/10/2014

Đa dạng sinh học trên cạn: Bảo vệ các khu tự nhiên

Một trong những biện pháp bảo vệ đa dạng sinh học từng thành công trong quá khứ là bảo vệ các khu tự nhiên vẫn còn lưu giữ được tính sơ khai của chúng, ví như các cánh rừng nhiệt đới hay trảng cỏ savannah ở châu Phi. Đây cũng là ngôi nhà chung của nhiều loài động thực vật, luôn duy trì ở trạng thái cân bằng lý tưởng, và hầu như chịu rất ít tác động của con người. Các khu vực này cung cấp nơi trù ẩn, cho phép các loài di chuyển tự do, và đảm bảo gần như tuyệt đối các quá trình tự nhiên giúp hình thành nên cảnh quan xung quanh. 


Các khu bảo tồn luôn giữ vai trò vô cùng quan trọng, với nhiều khu tồn tại từ hơn 140 năm nay, ví dụ như các cánh rừng quốc gia hay khu bảo tồn thiên nhiên. Nơi đây, sự tác động của con người và các hoạt động kinh tế bị hạn chế và phải tuân theo những điều luật khắt khe. Hầu hết việc chặt phá, săn bắt, sản xuất nông nghiệp, khai thác mỏ và sinh sống của người dân đều bị cấm. Những khu vực như thế này phải được tiếp cận dễ dàng, quản lý tốt và hỗ trợ tài chính tốt. Các khu vực bảo tồn cũng rất quan trọng đối với con người. Các báo cáo Liên Hợp Quốc chỉ ra rằng các khu bảo tồn cung cấp nguồn sống cho gần 1.1 tỷ người trên hành tinh. Nước uống hàng ngày cho hơn 1/3 dân số các thành phố lớn trên đều được cung cấp từ đây, hơn nữa chúng cung cấp rất nhiều loài thực vật hoang dã có ý nghĩa quan trọng trong cải tiến giống cây trồng hiện nay. 

Năm 2010, hơn 150.000 khu vực được bảo vệ che phủ 1/8 (12.7%) tổng diện tích Thế giới. Số lượng và diện tích những khu vực này ngày càng tăng nhưng vẫn không đủ để bảo vệ sự đa dạng sinh học có hiệu quả vì nhiều nơi quá nhỏ hoặc xa xôi khó tiếp cận/cô lập. Hơn một nửa những khu vực này có ý nghĩa quan trọng rất lớn đối với đa dạng sinh học chẳng hạn như những khu vực này là nơi cư trú/ sinh sống của những cá thể cuối cùng thuộc những loài quý hiếm hoặc các loài chim di cư quý. Những loài này tồn tại không có bất cứ biện pháp bảo vệ nào. Hơn nữa, một số nơi quản lý còn yếu. Một trong những mục tiêu đa dang sinh học được đồng tình năm 2010 là phấn đấu đến năm 2020 tăng số lượng và diện tích những khu vực được bảo vệ trên toàn cầu lên ít nhất 17% trong tổng diện tích đất tự nhiên toàn thế giới. Điều này có nghĩa là Chính phủ cần công bố nhiều hơn nữa các khu vực mới cần bảo vệ hoặc mở rộng các khu vực hiện có.
Sự gia tăng của các khu vực/vùng được bảo vệ theo trình tự thời gian và mục tiêu tới năm 2020 (Nguồn: UEP-WCMC 2012)

Việc làm này thực sự không dễ dàng/đơn giản. Việc thiết lập những khu vực bảo cần được bảo vệ mới thường làm nảy sinh/ tạo nên mâu thuẫn giữa những lợi ích trái chiều. Câu hỏi đặt ra là những khu vực này có nên bảo tồn hay để người dân sinh sống và được khai thác tài nguyên? Mục đích của việc bảo vệ tự nhiên sẽ mâu thuẫn với mục đích của con người sống ở các khu vực này. Người nông dân có thể không được canh tác trên mảnh ruộng của họ, công ty và doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc khai thác gỗ, khai thác mỏ hoặc trồng trọt, không làm đường xá cho dù nhu cầu cơ sở hạ tầng rất cần thiết. Những mục đích như vậy đặt lên hàng đầu sẽ rất khó khăn. Không có sự đồng thuận với người dân địa phương, nhu cầu cần thiết của họ không được tính đến và cân bằng với sự cần thiết phải bảo vệ môi trường tự nhiên. Thêm vào đó, cần nhiều ngân sách hơn nữa nhằm kiểm soát và duy trì các khu vực được bảo vệ hoặc đền bù cho người dân những gì họ bị mất.
Nguồn: 

0 nhận xét:

Post a Comment

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!