07/09/2014

Họ Lan ở Việt Nam - Qua ví dụ ở Lâm Đồng

Ảnh Lan hài cảnh trong tự nhiên. Ảnh Phạm Văn Thế
Đặt vấn đề
Điều tra phát hiện tính đa dạng của sinh vật, nghiên cứu và xây dựng chiến lược sử dụng bền vững chúng là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của các nhà sinh học và những nguời làm công tác bảo tồn thiên nhiên [14]. Hầu hết các loài sinh vật, nhất là thực vật đã được phát hiện và ghi nhận ở nước ta từ trước năm 1945 trong môi trường sống của chúng là rừng nguyên sinh. Đó là nơi sinh sống của hầu hết các loài sinh vật có nguồn gốc tại chỗ và có giá trị nhiều mặt cùng khoảng 10-12% các loài đặc hữu. Tuy nhiên, diện tích loại rừng này đang bị suy giảm ngày càng nhanh chóng (hình 1).
Mặc dù tuyệt đại đa số diện tích rừng nguyên sinh đã bị phá hoại, nay chỉ còn không quá 5%, nhưng vẫn còn lại hàng trăm điểm nhỏ rải rác, nơi vẫn còn lưu giữ được hệ thực vật nguyên sinh ít nhiều còn nguyên vẹn trong các hệ sinh thái chưa bị tác động sâu sắc. Ví dụ, kết quả phát hiện các loài thực vật mới cho khoa học ở khu vực Tây Bắc trong 10 năm qua gồm 4 chi mới và 47 loài mới, chiếm 100% số chi và 26% số loài của Việt Nam [13] đã chứng minh điều đó. 
Lan là họ có số lượng loài lớn nhất và thành phần đa dạng nhất trong hệ thực vật bậc cao có mạch, chiếm khoảng 10%, tức ít nhất 1.100 loài. Số lượng các taxon Lan phát hiện được trong khoảng 25 năm gần đây đã tăng lên hơn 30% nhờ sự đóng góp liên tục và có hiệu quả cao của tác giả đầu tiên của công trình này (hình 2, [1]). Riêng ông, có khi cùng đồng nghiệp đã mô tả 5 chi mới và hơn 100 loài Lan mới cho khoa học, cũng như bổ sung cho hệ Lan Việt Nam nhiều loài mới khác. Trong đó, nổi bật nhất là chi Lan việt Vietorchis với 2 loài, một số loài Lan hài Paphiopedilum như Lan hài việt P. vietnamense, Lan hài cảnh P. canhii, Lan hài helen P. helenae
Ngoài Lâm Đồng với các khu rừng nguyên sinh được bảo tồn rộng lớn, gần đây, ở các khu vực lân cận thuộc các tỉnh Đắk Lắk, Ninh Thuận, Khánh Hòa còn phát hiện được hơn 10 loài thực vật mới cho khoa học ngoài Lan như Trà Camellia và một số chi gần gũi, Thiên nam tinh ArisaemaTiết mi Thismia, Billolivia..., hứa hẹn nhiều khám phá mới cho khoa học. 

Mẫu vật và phương pháp nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu trước hết là điều tra phát hiện và nghiên cứu tại thực địa. Trong 25 năm qua (1985-2013), từ hàng chục nguồn tài trợ khác nhau, Chương trình bảo tồn thực vật Việt Nam - một Chương trình hợp tác giữa Viện Sinh thái và Tài nguyên thực vật (Việt Nam) với Vườn thực vật Mitsuri (Hoa Kỳ) cùng một số chương trình khác đã tổ chức gần 50 đợt khảo sát thực địa tại khoảng 100 điểm còn rừng, thu được hơn 30 ngàn số hiệu mẫu. 
Để phát hiện và nghiên cứu thực vật, việc thu thập mẫu vật là bước khởi đầu quan trọng nhất, nếu mẫu vật thu thập không đạt yêu cầu thì việc nghiên cứu và xác định tên cây không tin cậy. 
Cách hỏi tên cây qua ảnh chỉ có thể cho định hướng ban đầu. Để có mẫu, chủ yếu phải tìm kiếm thu mẫu và thông tin qua những người sưu tầm, buôn bán, các vườn lan tư nhân, hội Lan...
Tập hợp và xây dựng những nhóm tâm huyết gồm những người thu mẫu tin cậy, gửi cho các chuyên gia giỏi chủ yếu quốc tế và công bố nhanh nhất. Mẫu thu cần có đủ lý lịch, trước hết nơi mọc, có ở Việt Nam hay không (ví dụ cuộc truy tìm nguồn gốc Lan vân đà lam Vanda caerulea (hình 3), Lan hài cảnh Paphiopedilum canhii (hình 4-8 [2, 7]), mô tả chi tiết nơi mọc kèm theo tọa độ địa lý, điều kiện nơi sống, hiện trạng bảo tồn, các đặc điểm hình thái cần để mô tả loài mới.
Thu thập cây sống để trồng trong Nhà kính, chờ hoa, quả, các đặc điểm sinh học, sinh thái (ví dụ Lan vani khánh hòa Vanilla atropogon-hình 9 [14]). 
Khi có đủ dẫn liệu nghi là taxon mới cho khoa học thì phải thu đủ mẫu lưu trữ làm mẫu vật chuẩn (ví dụ Lan phi tâm Hymenorchis phitamii, Lan giáng hương phong Aerides phongii-hình 10 [ ]), mô tả ngay, viết bài để công bố càng sớm càng tốt, giữ quyền ưu tiên (ví dụ Dendrobium tuananhii Aver. mất quyền ưu tiên so với Dendrobium trantuanii Perner & X.N. Dang vì công bố sau mấy tháng). Đặc biệt đối với Lan có nhiều cách công bố nhanh để giữ quyền ưu tiên (ví dụ suýt nữa mất quyền ưu tiên đối với Lan hài cảnh Paphiopedilum canhii [2], Giáng hương phong Aerides phongii [5]).


Những kết quả chính
Mô tả được 5 chi Lan, hơn 100 loài mới cho khoa học, và loài bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam hơn 100 loài (hình 2, [1]). Ngoài Lan còn 2 chi mới cho khoa học là Bách vàng việt Xanthocyparis với loài Bách vàng việt Xanthocyparis vietnamensis, Ráng công tum Kontumia với loài Ráng công tum lá khác Kontumia heterophylla 
Chỉ riêng Lan mới cho khoa học phát hiện được ở núi BiDoup đã là: Calanthe duyana Aver. (hình 16), Corybas annamensis Aver. (hình 17, [6]), Gastrodia punctata Aver., Platanthera epiphytica Aver. & Efimov., Zeuxine bidoupensis Aver. Nếu tính cả các khu vưc lân cận như Chư Yang Sin, Ninh Thuận và Khánh Hòa thì lên đến: Aerides phongii Aver., Bromheadia annamensis Aver. & Averyanova (hình 12), Habenaria luceana Aver., Liparis mamillata Aver., Miguelia furcata Aver. & Vuong, Vanilla atropogon Schuit., Aver. & Ribkova (hình 9), Vietorchis furcata Aver. & Nuraliev (hình 9), Gastrodia major Aver., Phaius baolocensis N.V. Duy, T. Chen & D.X. Zhang [12], Cordiglottis longipedicellata Lee, T.B. Tran & R.K. Choudhary [9] và Calanthe leonidii P.J. Cribb & D.A. Clayton [10], thì tổng số lên đến 16 loài, GS Averyanov là tác giả hay đồng tác giả của 13 loài.
Các chi mới: Vietorchis, Lockia, Theana.
Lan viet Vietorchis: Chi cộng sinh không chứa diệp lục độc đáo này lần đầu tiên phát hiện được ở vườn quốc gia Cúc Phương chỉ gồm 1 loài V. aurea ở chân núi đá vôi thấp, và gần đây vừa phát hiện được loài thứ 2 ở xa hơn 1.000 km về phía Nam, trên núi Chư Yang Sin, đá silicat, V. furcata (hình 12).
Lan Lockia sonii: Chi một loài mới chỉ phát hiện được gần đây ở gần thành phố Sơn La, mọc trên núi đá vôi. Mẫu chuẩn thu tại Vườn lan Sơn lẩu quán, sau đó tìm thấy trong hoang dại trên núi đá vôi ở ngoại ô thành phố Sơn La (hình 13).
Lan vani khánh hòa Vanilla atropogon Schuit., Aver. & Rybkova. Mẫu hoa tốt, đẹp, kèm theo hình ảnh chất lượng cao của loài Vanilla này đã được ít nhất 3 số nhóm nhà thực vật học thu thập ở quanh Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà hay chân Hòn Vọng Phu, nhưng cuối cùng loài lại được mô tả là loài mới cho khoa học căn cứ vào hoa thu ở Vườn thực vật Praha. Cây sống thu từ Hòn Bà, trồng và nở 
Lan vani đỏ máu Miguelia cruenta Aver. & Vuong mới tách ra từ chi Vanilla mẫu chuẩn cũng thu tai Hòn Bà (hình 9).
Lan phi tâm Hymenorchis phitamii Aver. Đây là loài mới cho khoa học thuộc chi được ghi nhận lần đầu cho Việt Nam. Thoạt đầu Nguyễn Phi Tâm, một người yêu thích Lan mua không biết rõ nơi sống, trồng và nở hoa lạ ở thành phố Đà Lạt. Nguyễn Phi Tâm cùng Nông Văn Duy đã tiến hành khảo sát và xác định được nơi mọc tự nhiên của loài Lan mới này là khối núi Hòn Nga, phía Bắc thành phố Đà Lạt (hình 9 [3]).
Lan giáng hương phong Aerides phongii Aver. Một loài lan lạ, được phát hiện trong vườn lan của ông Nguyễn Phong, Hà Nội, lúc đầu nghi thuộc chi Holcoglossum. Sau khi nhận được một số ảnh đầu tiên chuyển qua thư điện tử, GS Averyanov xác định nó có thể thuộc về chi Aerides. Nhiều hình ảnh cây, hoa chất lượng cao cùng chi tiết các bộ phận quan trọng dùng xác định tên đã được Phan Kế Lộc và Chu Xuân Cảnh gửi tiếp sang và cuối cùng xác định đó là loài mới cho khoa học, đặt tên là Aerides phongii, định ngữ chỉ loài lấy tên của Nguyễn Phong, người có công sưu tầm qua bạn bè, xác định nơi mọc và cung cấp mẫu ngâm trong cồn làm mẫu vật chuẩn. Toàn bộ quá trình từ khi có được mẫu hoa, chụp ảnh và trao đổi giữa GS Averyanov với nhóm tác giả ở Hà Nội, lẫn thu mẫu vật chuẩn chỉ diễn ra chưa đầy 48 giờ (có tận dụng được sự chênh lênh múi giờ giữa Hà Nội và St. Petesburg), kịp nộp cho Tạp chí trước khi hết hạn vào ngày 12.3.2014, được chấp nhận công bố vào ngày 29.3.2014 và đã công bố vào số đầu tiên của năm 2014 (hình 10 [5]). Sau khi bản thảo đã nộp và được chấp nhận đăng, chúng tôi biết được qua một số thông tin không chính thức là có một số người yêu lan ở Ninh Thuận và Khánh Hòa đã biết cây này, đã chụp được ảnh nhưng chưa chia sẻ với đồng nghiệp.
Lan hài xuân cảnh Paphiopedilum canhii Aver. Chu Xuân Cảnh là người đầu tiên thông báo có một loài Lan hài lạ nở hoa trong vườn ở Hà Nội kèm theo một số ảnh chụp chất lượng cao. GS Averyanov từ St. Petersburg nhận định sơ bộ đây có thể là một loài Lan hài mới cho khoa học. Một số hình ảnh chất lượng cao, nhất là của một số bộ phận cần để xác định tên đã được Phan Kế Lộc thực hiện cùng với thu hoa làm mẫu chuẩn. Cuộc trao đổi giữa một số người yêu thích Lan ở Hà Nội với GS. Averyanov và sau khi tham khảo ý kiến của TS O. Gruss, chuyên gia hàng đầu về Lan Hài ở Liên hiệp Vương Quốc Anh sau khoảng 48 giờ đã đi đến thống nhất mô tả đây là loài Lan hài mới cho khoa học, đặt tên là Paphiopedilum canhii Aver. & O. Gruss, và bài báo đã được công bố sau 15 ngày [2]. Tuy nhiên, ông Chu Xuân Cảnh cũng không biết chính xác loài Lan này mọc ở đâu, nghe phong phanh có thể ở đâu đó của Sơn La hay Điện Biên gần biên giới với Lào. Bốn đợt khảo sát đã thực hiện để xác định được nơi sống, các điều kiện sống, mùa nở hoa, sự phân bố ở các vùng giáp ranh thuộc Lào và các khu vực núi đá vôi ở sâu hơn trên đất Lào (hình 4-8, [2, 7]). Gần đây, việc nghiên cứu mới tạm coi là kết thúc khi đã xác định được khu phân bố, các điều kiện sống, mùa nở hoa, hiện trạng bảo tồn.
Dendrobium daklakense Tich, Schuit. & J.J. Verm. Mẫu thu và mô tả thu từ cây trồng ở thành phố Buôn Ma Thuột nhưng chưa biết được nơi sống tự nhiên [11].
Phaius baolocensis sp. nov. (Orchidaceae), a new species endemic to the southern highlands of Vietnam. 2012. Adansonia 34(2) 251-252: N.V. Duy, T. Chen & D. X. Zhang [12].

Thay lời kết luận
Hệ thực vật của Lâm Đồng và các khu vực lân cận còn chứa đựng rất nhiều loài thực vật chưa được phát hiện và mô tả. Để có thể biến triển vọng này thành hiện thực, trước hết cần có sự bảo tồn tính nguyên sinh của rừng một cách có hiệu quả, trong đó có vai trò quan trọng của lực lượng kiểm lâm cùng với sự hợp tác nghiên cứu giữa các chuyên gia trong và ngoài nước với người dân địa phương. 

SUMMARY
RESOURCES OF ORCHIDS FROM VIETNAM - A CASE OF LAM DONG AND ADJACENT AREAS
Results of the enumeration up to May 2014 of the orchid family, which is the richest in number of species in the flora of Vietnam, its geographical groups and endemism centers, and new discoveries are presented. 
More than 3600 numbers of orchid specimens collected during the last nearly twenty five years were studied. The orchid flora of Vietnam includes 155 (100%) genera and 1090 (100%) species. Among them 411 species were discovered here during 1743-1934, about 307 species-during 1935-1994, about 372 species during 1985-2014, especially from mid eighties of last century. Five new to science genera (Vietorchis, Zeuxinella, Christensonia, Hamularia and Parapteroceras) and nearly 120 new to science species were described mostly by the first author. Genera with many new described species are: Bulbo-phyllum (12 species), Liparis (11), Eria (8), Cheirostylis (6), Paphiopedilum (5), Anoectochilus (4) and Gastrodia (4). 
There are 275 indochinese endemic species (27.4% of the total number of orchid flora of Vietnam), and 87 vietnamese endemic species, distributed in 6 endemism centers of 6 floristic provinces (Sikang-Yunnan-6 species, South Chinese-14 species, North Indochinese-27 species, Central Annamese-17 species, South Annamese-14 species and South Indochinese-9 species). Characteristics and list of endemic species of each center are presented. Genera containning largest number of endemic species are Bulbophyllum (30 species), Dendrobium (28), Liparis (21), Eria (19), Oberonia (10), Cheirostylis (9), Paphiopedilum (9), Cleisostoma (7), Coelogyne (7), Gastrodia (6), Thrixspermum (6), Anoectochilus (5), Calanthe (5), Cymbidium (5) and Renanthera (4). During 15 recent years in Lam Dong province and adjacent areas 16 new to science orchid species were described by the first author or in collaboration with other co-authors except for 3 last ones. They are Aerides phongii Aver., Bromheadia annamensis Aver. & Averyanova, Calanthe duyana Aver., Corybas annamensis Aver., Gastrodia major Aver., Gastrodia punctata Aver., Habenaria luceana Aver., Liparis mamillata Aver., Miguelia furcata Aver. & Vuong, Platanthera epiphytica Aver. & Efimov., Vanilla atropogon Schuit., Aver. & Ribkova, Vietorchis furcata Aver. & Nuraliev, Zeuxine bidoupensis Aver., Calanthe leonidii P.J. Cribb & D.A. Clayton, Cordiglottis longipedicellata Lee, T.B. Tran, R.K. Choudhary and Phaius baolocensis N.V. Duy, T. Chen & D.X. Zhang. The expected number of orchid species may certainly exceed 1.200 species.

Averyanov L.V., Phan Kế Lộc & Nông Văn Duy
Hôi thảo quốc tê: Hợp tác khoa học công nghệ vì sự phát triển bền vững nông nghiệp Lâm Đồng - Tây Nguyên 2014. Trang: 300 - 305
Phiên bản cuối cùng của bài báo có thể xem tại đây: 

0 nhận xét:

Post a Comment

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!