04/09/2014

Giáo dục môi trường cộng đồng tại các khu BTTN

Hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam bắt đầu được hình thành từ khi thành lập Vườn quốc gia Cúc Phương năm 1962. Cho đến nay, được sự quan tâm của Chính phủ và của các cấp, các ngành, hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam không ngừng được mở rộng về diện tích và số lượng. Đến nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục hệ thống rừng đặc dụng sau rà soát, quy hoạch lại đến năm 2020, bao gồm 164 khu với tổng diện tích tự nhiên là 2.265.753,88 ha, trong đó có: 30 Vườn quốc gia với tổng diện tích 1.077.236,13ha; 69 khu bảo tồn thiên nhiên với tổng diện tích 1.099.736,11ha; 45 khu rừng bảo vệ cảnh quan với tổng diện tích 78.129,39ha và 20 khu rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học với tổng diện tích 10.652,25ha.
Các khu bảo tồn này đã thực sự trở thành ‘kho báu’ của quốc gia, phát huy tốt vai trò bảo vệ thiên nhiên, phòng hộ môi trường, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.
Mục tiêu của việc thành lập hệ thống các Khu bảo tồn thiên nhiên là để bảo tồn các giá trị tài nguyên thiên nhiên của đất nước, đặc biệt quan tâm đến bảo tồn đa dạng sinh học trong đó có các loài quý hiếm, các hệ sinh thái đặc thù nhằm phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường, nghỉ ngơi và phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích của các thế hệ hôm nay và muôn đời con cháu mai sau.
Việc thiết lập được một hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên là một thành công đáng kể trong hoàn cảnh đất nước đã trải qua chiến tranh và điều kiện kinh tế còn nghèo nàn. Tuy nhiên, việc bảo vệ và phát triển hệ thống Khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn. Trong đó, trình độ quản lý các khu bảo tồn còn hạn chế là một lý do đáng kể, nhận thức về hoạt động bảo tồn của cộng đồng còn thấp, thêm vào đó nền kinh tế còn nghèo nàn là một cản trở không nhỏ trong việc đầu tư và phát triển hệ thống này.
Để khắc phục những tồn tại đang ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác quản lý và bảo vệ hệ thống khu bảo tồn, việc đầu tiên phải giải quyết là giáo dục nâng cao nhận thức bảo tồn cho cộng đồng, trong đó có cả đội ngũ những người đang hoạt động trong lĩnh vực này.
Cho đến nay, mặc dù đã có rất nhiều các tài liệu giáo dục môi trường của các nhóm tác giả và tổ chức liên quan, song vẫn chưa có một tài liệu giáo dục môi trường nào dành cho cộng đồng địa phương đáp ứng được yêu cầu của những người làm công tác giáo dục môi trường tại các Khu bảo tồn. Vì vậy, sự ra đời của cuốn sách sẽ là một công cụ hỗ trợ đắc lực và hữu ích cho những người làm công tác giáo dục môi trường cho cộng đồng địa phương tại các Khu bảo tồn.
Nội dung cuốn sách bao gồm hai phần chính:
(1) Tìm hiểu đặc điểm của cộng đồng địa phương và các phương pháp tiếp cận trong giáo dục môi trường đối với đối tượng này.
(2) Các bài giảng áp dụng đối với cộng đồng địa phương ở các Khu bảo tồn.
Vì đây là lần xuất bản đầu tiên, nên cuốn sách không tránh khỏi những thiếu sót. Để nâng cao chất lượng của cuốn sách và đáp ứng được yêu cầu của thực tế, nhóm tác giả rất mong sẽ nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ phía bạn đọc.
Cuốn sách này được xuất bản là một phần kết quả của dự án “Khóa tập huấn trong nước nâng cao năng lực về bảo tồn thiên nhiên, giáo dục môi trường và du lịch sinh thái cho các Khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam”. Dự án do Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tài trợ, Cục Kiểm lâm – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (CARD) và Hiệp hội Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam (VNPPA) cùng phối hợp thực hiện. Nhân dịp xuất bản cuốn sách, chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự tài trợ của chính phủ Nhật Bản cho dự án này.
Xem hoặc tải tài liệu tại đây: 
Nguồn: http://www.vnppa.org.vn/

0 nhận xét:

Post a Comment

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!