24/07/2014

Phòng kỷ mới ở Quảng Bình Aristolochia quangbinhensis

Hoa Phòng kỷ quảng bình Aristolochia quangbinhensis trong tự nhiên. Ảnh Nghiêm Đức Trọng.
(BiodiVn) - Vào hồi đầu năm 2014, tạp chí khoa học PhytoKeys (số 33, trang 51-59) đã công bố một loài thực vật thuộc chi Phòng kỷ (Aristolochia) họ Mộc hương (Aristolochiaceae) mới cho khoa học được phát hiện tại Quảng Bình, Việt Nam. Chi Phòng kỷ Aristolochia có khoảng 500 loài, phân bố chủ yếu vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Các loài trong chi này được sử dụng rộng rãi trong nền y học dân tộc của Việt Nam và Trung Quốc, ngoài ra, đây cũng là nhóm thực vật quan trọng trong nghiên cứu đồng tiến hóa của sinh giới.
Loài thực vật mới này được một nhóm các nhà thực vật học gồm Đỗ Văn Trường (Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), Nghiêm Đức Trọng (Đại học Dược Hà Nội) và hai người khác từ Viện Thực vật Dresden – Cộng hòa Liên bang Đức mô tả.
Hoa Phòng kỷ quảng bình Aristolochia quangbinhensis trong tự nhiên nhìn ngang. Ảnh Nghiêm Đức Trọng.
Tên loài: Phòng kỷ quảng bình Aristolochia quangbinhensis T.V.Do; được đặt theo địa danh tỉnh Quảng Bình, nơi phân bố tự nhiên của loài này.
Mô tả: Dây leo thân gỗ lâu năm, rễ nhiều. Thân có lông nhung màu nâu vàng khi non, nhẵn khi già. Cuống lá dài 1.5-2.5 (-3) cm, thẳng, nhiều lông nâu vàng; Phiến lá hình elip thuôn dài đến elip, dài (6 -) 8-13 (-14) cm, rộng 3-5 (-6) cm, mũi nhọn, mặt trên nhẵn, màu xanh đậm, mặt dưới đầy lông nhung nâu vàng, gân chính 3, mạng chân vịt, gân phụ 7-8 cặp, mạng lông chim, gân nổi trên cả hai mặt. Hoa nách lá, cô độc. Cuống dài 1,5-2 cm, rủ xuống, tím, nhiều lông tơ. Cuống, lá bắc và bao hoa đông bao phủ bởi lông đa bào màu vàng-nâu. Bao hoa hình chữ S, dài (3 -) 3,2-3,5 cm, bên ngoài nhiều lông màu vàng nâu tối, gân hoa song song, bên trong nhẵn. Bầu thuôn dài, (0,8) dài 1-1,2 cm, đường kính 0,3-0,4 cm., màu vàng-xanh, noãn nhiều. Ống hình trứng, dài (1,2) 1,5-1,8 cm, đường kính 0,5-0,6 (-0,8) cm, bên ngoài màu trắng, bề mặt bên trong màu tím đên, ống cong mạnh mẽ tại gốc. Vành ba thùy, hình chuông, đường kính 2-2,5 (-3) cm, màu tím-hồng ở cả hai mặt, mặt ngoài nhiều lông xồm xoàm, mặt trong mịn, ba thùy bất xứng; họng tròn, tím-đen; nhị 6 trong 3 cặp; bao phấn thuôn dài, dài (2 -) 2,5-3 mm, màu vàng, mở dọc . Quả chưa thấy.
Loài gần giống: Loài mới có đặc điểm hình thái tương tự với các loài Aristolochia championii Merrill (Nam Trung Quốc), A. vallisicola Yao (bán đảo  Malaysia) và A. versicolor Hwang (Nam Trung Quốc ). Tuy nhiên, loài mới được phân biệt với các loài kể trên bởi những đặc trưng hình thái sau: cuống lá dài 1.5–2.5(–3) cm, phiến lá hình e líp đến e líp thuôn; cuống cụm hoa dài 1.5–2 cm; đài hình chuông, đường kính 2–2.5 (–3) cm, duy nhất màu hồng, phớt tím trên cả 2 mặt, bao hoa không có các chấm màu và gân song song, bao hoa 3 thùy không đều nhau, mép các thùy cuộn tròn. 
Hoa Phòng kỷ quảng bình Aristolochia quangbinhensis trong tự nhiên, nhìn từ phía sau. Ảnh Nghiêm Đức Trọng.
Phân bố: Mới chỉ gặp ở huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình, Việt Nam
Sinh thái: Loài mới được phát hiện dưới tán rừng lá rộng thường xanh trên núi đất thấp, gần với khu vực vùng đệm Vườn Quốc Gia Phong Nha-Kẻ Bàng, Quảng Bình, nơi đây đang chịu những tác động mạnh từ hoạt động đốt, phá rừng mở rộng diện tích đất canh tác, làm suy giảm vùng phân bố và kích thước của quần thể.
Vật hậu học: Mẫu vật có hoa thu được vào tháng 4, tháng 5, nhưng có khả năng chúng bắt đầu có hoa vào tháng 3.
Thân mang hoa và lá Phòng kỷ quảng bình Aristolochia quangbinhensis trong tự nhiên. Ảnh Nghiêm Đức Trọng.
Đề nghị tình trạng bảo tồn: Đoàn nghiên cứu mới chỉ phát hiện được 2 cá thể của loài mới này trong tự nhiên cách nhau 50m. Do đó, khả năng vùng phân bố của loài này là nhỏ hơn 20km2, số lượng cá thể thấp. Vậy theo tiêu chuẩn của IUCN (2013), loài mới được đề nghị ở mức Sắp nguy cấp Vulnerable (VU D2) hoặc Nguy cấp (EN).
BiodiVn xin gửi lời cảm ơn chân thành đến DS. Nghiêm Đức Trọng đã gửi tặng ảnh cho Blog!

PhytoKeys 33: 51–59, doi: 10.3897/phytokeys.33.6094
Aristolochia quangbinhensis (Aristolochiaceae), a new species from Central Vietnam

Truong Van Do, Trong Duc Nghiem, Stefan Wanke and Christoph Neinhuis 

Aristolochia quangbinhensis T. V. Do, sp. nov.
Type. VIETNAM. Quang Binh province: Minh Hoa district, Hoa Luong community, 17°47'5.00"N, 105°52'20.05"E, elev. 380 m, 3 April 2013, T.V. Do 39 (holotype: VNMN; isotype: DR).
Description. Perennial woody lianas. Roots numerous, fasciculate and cylindrical. Stems terete, densely yellow-brown villous when young, older stems with corky bark, glabrous. Petiole 1.5–2.5(–3) cm long, straight, densely covered with yellow-brown trichomes; lamina elliptic to oblong-elliptic, (6–)8–13(–14) cm long, 3–5(–6) cm wide, subcoriaceous, base subcordate to auriculate, with a shallow sinus 3–4 mm deep, (1–)1.5–2 mm wide, apex acute, adaxially glabrous, dark green, abaxially densely yellow-brown villous, basal veins 3, palmate, secondary veins 7–8 pairs, pinnate, venation densely reticulate and prominent on both sides. Flowers terminal, solitary, but accompanied by a lanceolate scale-like bracteole, (2–)3 mm long, (1.5–)2 mm wide, sessile, inserted near base of the peduncle, conspicuous, persistent. Peduncles 1.5–2 cm long, pendulous, purple, densely hirsute. Peduncles, bracts and perianth densely covered by yellow-brown pluricellular hairs. Perianth S-shaped, (3–)3.2–3.5 cm long, outside densely yellow-brown hirsute with obscure, parallel veins, inside smooth. Ovary oblong, (0.8–)1–1.2 cm long, 0.3–0.4 cm diam., yellowish-green, densely hirsute, 6-locular, ovules numerous, usually in one series. Utricle ovoid, (1.2–)1.5–1.8 cm long, 0.5–0.6(–0.8) cm diam., externally white, inner surface basally with a dark-purple patch and distally with a white patch; tube strongly curved at its base, parallel and in close contact with the utricle, narrower than the utricle, cylindrical, 0.9–1.0 cm long, 0.4–0.5 cm diam.; limb three-lobed, bell-shaped, 2–2.5(–3) cm diam., purplish-pink on both sides, without any blotches or veins visible, outer surface densely hirsute, inner surface smooth, the three unequal lobes valvate in preanthetic flowers, the lateral lobes broadly deltoid with acute apex, the lower (median) lobe semicircular, during anthesis bell-shaped and with the margins recurved; throat circular, dark-purple, densely papillose; annulus present, formed by an ellipsoid flange, dark-violet; gynostemium three-lobed, lobes with obtuse apices, smooth, (3–)4–5 mm high, 2–3 mm diam., white; stamens six in one serie of three pairs; anthers oblong, (2–)2.5–3 mm long, yellow, tetralocular, longitudinally dehiscent. Capsules not seen.
Figure 1. Line drawing ofAristolochia quangbinhensis T.V. Do. A Flowering branch B–D Lateral (B) frontal (C) and dorsal (D) views of a flower at anthesis E–F Lateral (E) and frontal (F) views of a preanthetic flower G Gynostemium and ovary H Transverse section of ovary I Multicellular trichomes on the surface of the petiole. Drawing by N.V. Quyet from the holotype. Photo T.V.Do et al. 2014.
Vernacular name. Phòng Kỷ Quảng Bình (in Vietnamese).
Distribution. Aristolochia quangbinhensis is known from a single population found on the north-eastern slope of a mountain range bordering the buffer zone of Phong Nha-Ke Bang National Park in the Hoa Luong community, Minh Hoa district, Quang Binh province (Fig. 3). It might also be present in Laos P.D.R., because of the proximity of the Khammouan province with Central Laos.
Ecology. Aristolochia quangbinhensis occurs in humid mountain sites, in the understory of disturbed lowland evergreen broad-leaved forest and mainly evergreen scrubs. Dominant plants at the type locality are Annonaceae (Desmos spp.), Apocynaceae (Marsdenia spp., Wrightia spp.), Fabaceae (Millettia spp.), Lauraceae (Machilus spp., Litsea spp.), Malvaceae (Sterculia spp.), Pandaceae(Microdesmis spp.), Phyllanthaceae (Antidesma spp., Aporosa spp., Glochidion spp.), and Rubiaceae (Randia spp.).
Phenology. Flowering specimens have been collected in April and May but it is possible that blooming already begins in March.
Etymology. The specific epithet refers to the type locality.
Figure 2. Photographs of Aristolochia quangbinhensis T.V. Do. A Habit B–C Frontal (B) and lateral (C) views of a preanthetic flower D–E Leaf in adaxial (D) and abaxial (E) views F Flowering branch G–I Lateral (G–H) and dorsal (I) views of flowers at anthesis J Transverse section of the ovary K Inner surface of perianth LGynostemium and ovary M Frontal view of an anthetic flower. Photographs taken on the holotype locality in Hoa Luong community, Minh Hoa district, Quang Binh province, Central Vietnam. Photo T.V.Do et al. 2014.
Conservation status. In the past, large areas of primary, broad-leaved, evergreen forest covered the Hoa Luong community. Excessive logging, however, resulted in the loss of large extensions of primary forest. Although logging was prohibited in the 1990s, local farmers continued to impose strong pressure on the remaining forest patches converting it mostly into corn and soybean fields. As a result, the flora of the area should be regarded as threatened by extinction. Within the area, Aristolochia quangbinhensis is known from a single population; in fact, during the present study, only two healthy individuals were located growing about 50 m apart from each other. Therefore, the new species is assigned a preliminary status of vulnerable (VU D2) according to IUCN Red List criteria (IUCN 2013), indicating a population with a very restricted area of occupancy (typically less than 20 km2) or the number of locations (typically five or fewer) being both at hand for Aristolochia quangbinhensis. The lack of data currently does not allow a final risk evaluation, but the species might also be regarded as endangered (EN).

Reference: Do TV, Nghiem TD, Wanke S, Neinhuis C (2014) Aristolochia quangbinhensis(Aristolochiaceae), a new species from Central Vietnam. PhytoKeys 33: 51–59. doi: 

0 nhận xét:

Post a Comment

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!