20/07/2014

Hai loài trà Camellia mới phát hiện từ Lâm Đồng

Hình ảnh loài Trà long Camellia longii ngoài tự nhiên vùng rừng Cát Lộc (Ảnh: Vũ ngọc Long)
(BiodiVn)- Thêm hai loài thực vật mới cho khoa học được phát hiện ở khu vực tỉnh Lâm Đồng có tên Trà cu-ry Camellia curryanaTrà long Camellia longii (họ Chè Theaceae) vừa mới được công bố trên tạp chí thực vật học Nordic số 32 tháng 2/2014. (Nordic Journal of Botany 32: 42-50, tháng 2, 2014.) Đây là kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc vườn thực vật hoàng gia Úc và Trung tâm Đa dạng sinh học và Phát triển – Viện Sinh thái học Miền Nam.
Theo nhóm tác giả thì hiện nay tại Việt Nam ghi nhận được khoảng 20% loài thuộc chi Camellia. Trước đây, người ta tin rằng sự tập trung lớn nhất của loài Camellia ở Việt Nam có thể được tìm thấy ở các tỉnh phía Bắc, với ước tính từ 14 đến 20 loài. Tuy nhiên một số cuộc khảo sát được thực hiện trong thời gian gần đây đã mở rộng đáng kể số lượng các loài Camellia ở phía Nam Việt Nam và cũng đã chỉ ra một cách rõ ràng rằng khu vực miền núi của các tỉnh phía Nam có thể có sự phong phú loài tương đồng như là phía Bắc. Kết quả công bố của bài báo này là một tài liệu đáng tin cậy để củng cố nhận định trên. 
Bên cạnh đó kết quả này cũng là sự tôn vinh mà tác giả dành tặng cho ông Anthony Stephen Curry, một đồng nghiệp cũng là người nghiên cứu về chi Trà nhiều năm qua và TS. Vũ Ngọc Long – Viện trưởng Viện Sinh thái học Miền Nam, người đã có công phát hiện và thu mẫu đầu tiên.
Loài mới Trà long Camellia longii Orel & Luu sp. nov.
Cách đây hơn 2 năm, ngày 13 tháng 7 năm 2011 trong một chuyến đi khảo sát hiện trạng môi trường đa dạng sinh học khu vực dự án thủy điện Đồng Nai 6 và Đồng Nai 6-A Rừng Cát Lộc, xã Đồng Nai Thượng, huyện Cát Tiên, TS. Vũ Ngọc Long, Viện trưởng Viện Sinh thái học Miền Nam đã nhìn thấy 1 loại hoa trà trông rất khác lạ, đang nở hoa rất đẹp trong rừng sâu. Lúc đầu nhìn hình thái của hoa bên ngoài trông rất giống với loài C. piquetiana. Ngay sau đó những mẫu thu được đã được TS Lưu Hồng Trường phân tích giải phẫu so sánh. TS. Trường khẳnh định đây là một loài thực vật mới khác hẳn với loài C. piquetiana và đã mô tả đặt tên mới là Trà long Camellia longii
Mô tả hình thái: là cây gỗ nhỡ lâu năm, cao 2.5-4 m. Lá dài 27-31 cm, rộng 6-9 (10.5) cm; phiến lá mỏng, hơi dai, biến đổi, hình elip hẹp đến hình thuôn hẹp. Cuống hoa dài tới 2 cm, rộng 4-5(6) mm. Hoa cô độc, hình elip không đều cho tới hình trứng, không mùi, dài 4.5-5.5 (6) cm, đường kính 3.5-5.5 cm. Nhị hoa nhiều. 
Vật hậu học: Loài mới được thu thập hoa trong tháng chín và tháng mười một. Hạt không tìm thấy.
Phân bốTrà long C. longii được biết đến với vị trí phân bố nằm trong biên giới phía bắc thuộc vườn quốc gia Cát Tiên (Cát Lộc), tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam. Loài mới được tìm thấy trong khu vực gần với thôn 4, xã Phước Cát 2, nằm rải rác trong khu rừng thường xanh, phát triển mạnh trong đất tương đối giàu dinh dưỡng, ẩm ướt, trong điều kiện ánh sáng thấp.
Trà long Camellia longii được đặt tên theo ông Vũ Ngọc Long.
Loài mới Trà cu-ry Camellia curryana Orel & Luu sp. nov.
Mô tả: Cây lâu năm, cao tới 2.5 m, nhánh thưa thớt. Cuống lá dài tới 10 mm, rộng 2-3 (4) mm. Lá có răng cưa không đều, dài 10 – 12 cm, rộng 4 – 5(6) cm, phiến lá dày, dai, hình elip tới bầu bục, đôi khi không đối xứng giống hình cái liềm; đỉnh lá thay đổi, nhọn đến tù; bề mặt lá phía trên nhẵn, xanh đậm và sáng bóng, mặt dưới xanh sáng hơn và nhám; gân chính của lá rộng tới 3-4(6) mm, màu vàng xanh và sáng, gân lá phụ hình lông chim. Hoa gần như không cuống, tròn không đều, không hương; hai vòng hoa, trắng kem ở ngoài và gần gốc có màu vàng. Trái trưởng thành nứt ra làm 3 phần hoặc theo chiều dọc chia làm 2.
Phân bốTrà cu-ry C. curyana được tìm thấy duy nhất ở vị trí nằm trên đồi dưới chân một ngọn núi không tên trên cao nguyên Đà Lạt, chi tiết nguồn gốc chính xác của loài được giữ lại vì lý do bảo tồn. 
Sinh thái, phân bố và tình trạng bảo tồn: phân bố rải rác ở khu rừng nhiệt đới ẩm, phát triển mạnh trong đất nghèo, tương đối ẩm ướt, điều kiện ánh sáng thấp. Một điều đáng lưu ý là tác giả không tìm thấy tiêu bản nào của loài ở bất kỳ bảo tàng mẫu vật tại Việt Nam. Mặc dù khảo sát được lặp đi lặp lại khá kỹ xung quanh khu vực địa phương nhưng chỉ có 20 cây trưởng thành được ghi nhận. Với tình hình này, nhóm tác giả cân nhắc và đề nghị đưa loài vào hạng mục cực kỳ nguy cấp (Critically Endangered – CR) của IUCN.
Trà cu-ry Camellia curryana được đặt theo tên của ông Anthony Stephen Curry
Hình ảnh chụp loài Trà cu-ry Camellia curyana ngoài tự nhiên vùng núi bidoup Núi Bà (Ảnh: Anthony Curry). Theo http://www.vast.ac.vn/

Nordic Journal of Botany; Volume 32, Issue 1, pages 42–50, February 2014
Camellia curryana and C. longii spp. nov. (Theaceae) from Vietnam
George Orel, Peter G. Wilson and Luu Hong Truong
G. Orel (george.orel@rbgsyd.nsw.gov.au) and P. G. Wilson, Royal Botanic Gardens, Mrs Macquaries Road, Sydney, NSW 2000, Australia. – L. Hong Truong, Herbarium VNM, Centre for Biodiversity and Development, Inst. of Tropical Biology, Vietnamese Academy of Science and Technology, Ho Chi Minh City, Vietnam. 
Abstract: Two species of Camellia L. (Theaceae) are described here as new: C. curryana and C. longii. The new species were discovered in the southern Annamite Mountains of Vietnam and are endemic to tropical rainforest remnants that occur at altitudes between 1500 and 1700 m a.s.l. Camellia curryana possesses almost sessile, unevenly circular, two whorled, white-cream and proximally yellowish flowers, proximally joined outer stamens, three styles and mature fruit that dehisces into three parts, or longitudinally into two halves. Camellia longii has campanulate or almost campanulate, intensely dark orange to red flowers with uneven whitish margins, 5–6 petals and 3–2 petaloids, filaments that are united with the petals and one another, a diamond shaped ovary and compound 5–6 styles that are connate at the base.
Camellia curryana Orel & Luu sp. nov. 
Type: Vietnam. Lam Dong Province: foot of an unnamed mountain, Da Lat Plateau, 27 Feb 2002, G. Orel, G. Richards, C. Harland and S. Jones Orel 21147 (holotype: NSW, isotype: VNM). 
EtymologyThe specific epithet of this species honours Mr Anthony Stephen Curry, a research colleague, fellow traveller and an avid Camelliacollector for many years. 
DescriptionPerennial, small to medium evergreen shrub of variable habit, to 2.5 m high; rather sparsely branched, rarely multi-stemmed, with upright habit; new shoots reddish – brown, puberulent, without striations; older twigs glabrous, shiny, dark green toward terminals, turning entirely dark cinna-mon brown on semi-mature branches; older branches light brown to gray and smooth to slightly furrowed; adult trunk grey – brown, smooth, dull, glabrous, lacking furrows or striations. Petiole linear to slightly falcate and distinctly concave, slightly wider proximally, narrowing distally, sometimes twisted, dark green – reddish and shiny above, light green and shiny beneath and of the same colour as the abaxial leaf surface, up to 10.0 mm long, 2.0 – 3.0 (4.0) mm wide distally, ascending, with the lamina declined at an angle of 45 °from the petiole, ridges less than 1.0 mm high on each side of the adaxial petiole, forming a shallow, flat channel; axillary buds small, roughly triangular, green to brown, bud scales prominent, covered with fine white indumentum, narrow elliptic with sharp apex; terminal buds initially covered with fine, white indumentum, later glabrous or nearly so, laterally compressed, elliptic, slightly falcate, with sharp apex, 10.0 – 15.0 mm long, up to 5.0 mm wide; developing leaves mid-green, glabrous, firm and rigid, slightly variable in size and shape, ascending; mature leaves regularly serrate at the base, but irregularly serrate to entire towards the apex, 10.0 – 12.0 cm long, 4.0 – 5.0 (6.0) cm wide; lamina thick, coriaceous, elliptic to oval, sometimes asymmetrically falcate, leaf apex variable, acute to obtuse, their base variably obtuse to acute; adaxial leaf surface glabrous, dark green and shiny, lighter green and dull below; primary vein up to 3.0 – 4.0 (5.0) mm wide proximally, less than 1.0 mm distally, yellowish – green and shiny on both sides, adaxially slightly sunken, abaxially prominent; secondary venation pinnate, indistinctly bro-chidodromous, partially eucamptodromous on some leaves (Roth-Nebelsick et al. 2001), with 7 – 9 pairs of veins adaxially sunken, abaxially slightly prominent; veins dis-tinct proximally, less so towards the apex and the margins; tertiary venation very indistinct, sometimes lacking, more prominent at the leaf margins. Flowers almost sessile, unevenly circular in shape, terminal and axillary, lacking scent; senescing flowers with extremely reflexed petals; peduncle stout, short, covered by perules, 4.0 – 5.0 mm long; flower buds numerous; terminal buds pressed tightly together in groups of 3 – 5; axillary buds solitary, generally elliptical, distally not sharp, 1.0 – 1.5 cm long, 6.0 – 8.0 mm wide, initially green, then mostly light brown; brown bud scales cover all of the bud, these scales only partially covered by short, thick and white tomentum; flowers 6.0 – 6.5 (7.0) cm in diameter, some mature flowers with extremely reflexed petals, soft, shiny, partially translucent, rarely emarginate, except for some petals that form outer petal whorl, crinkly, with slightly undulate margins, white to cream, proximally yellowish to cream on abaxial surface, glabrous, lacking midrib, with distinct proximal venation in the centre of the petal, which fans out distally; six to seven proximally overlapping petals in two whorls; the outer whorl of 3 petals ca 3.0 cm long, 2.0 – 2.5 cm wide, slightly concave, sometimes asymmetric, oblong-broadly oblong, to obovate in shape, slightly overlapping with pet-als of the inner whorl, proximally joined to outer stamens for 4.0 – 5.0 mm; the inner whorl of 3 to 4 petals, variable in size, 2.5 – 3.0 cm long, 1.5 – 2.5 cm wide, slightly con-cave, slightly asymmetric, distinctly obovate, basally attached to outer stamens and to the inner petal whorl; peduncle partially covered with 2 or 3 green, later brown, deciduous and undifferentiated perules which are tightly appressed to sepals; perules roughly semi orbicular, 6.0 – 7.0 mm long, 4.5 – 5.0 mm wide; sepals transitional to perules tightly appressed to the outer petal whorl, two or three, orbicular to triangular, thin, paper like, brown, 1.0 – 1.5 cm long, 1.0 – 1.5 cm wide, persistent after anthesis, finely hairy, later glabrous or nearly so; stamens numerous (250 – 300), intensely yellow, in a circular forma-tion that is 2.5 – 3.0 cm in diameter; outer stamens joined proximally for 4.0 – 5.0 mm, thus forming a shallow cup which is attached to the inner petals; inner stamens gla-brous and dull, free or almost free, up to 14.0 mm long; filaments intensely yellow, thin, less than 1.0 mm wide, proximally slightly thickened and lighter yellow, distally very thin; anthers yellow, slightly brownish on margins, ca 2.0 mm long, 1.0 mm wide, acuminate to obtuse at the distal end, cordate at proximal end; styles three, 12.0 – 14.0 mm long, 1.0 mm or less wide proximally, even less distally, proximally fused for ca 2.0 mm, finely pubescent, more so proximally, almost glabrous distally, yellowish – green; stigma indistinct, slightly darker than the rest of the style, with outward leaning apices; gynoecium superior, almost diamond shaped, with slight longitudinal striations, 2 – 4 carpellate, each carpel not always bi-locular, densely whitely tomentose, less so proximally, more distally, otherwise yellowish – green, 2.0 – 3.0 mm long, 3.0 – 4.0 mm wide distally. Mature fruit light brown, unevenly globose to distinctly elliptical, with 2 – 4 internal chambers, its surface roughly textured, sometimes slightly tuberculate, glabrous, 2.0 – 2.5 cm wide, 3.6 – 4.0 cm long; peduncle stout, 4.0 – 5.0 mm wide, 4.0 – 5.0 mm long, corky and glabrous; capsules dehiscing into three parts, or longitudinally into two halves; seed dark brown to black, shiny, laterally partially compressed, variable in size; each capsule with 3 – 5 seeds. 
PhenologyThe new species was collected in flower in February; fruits matured in May – July, with capsules dehiscing in late July. 
DistributionCamellia curryanais known only from the type location which is situated on the foot hills of an unnamed mountain on the Da Lat Plateau. Th e species ’ precise provenance details 
are withheld for conservation reasons. 
Ecology, distribution and conservation statusThe area of discovery is covered by dense rainforest and is estimated to measure less than 1 km 2. Th e new species occurs in small and rather scattered groups of plants that form a part of the dense under storey. Camellia curryana thrives in poor, relatively wet, but well drained soils and in low light conditions. The author was not able to find another specimen of C. curryanain any Vietnamese herbarium. Despite repeated searches (in 2004 and 2005) of the area around the type locality, only some 20 adult plants were located. Given this situation, we consider the IUCN category of ‘ Critically Endangered ’ (CR) to be appropriate (IUCN 2011). 
Camellia longii Orel & Luu sp. nov. (Fig. 2) 
Type: Vietnam. Lam Dong Province: Cat Tien National Park, 10 Sep 2009, Vu Ngoc Long CT4 (holotype: VNM, paratypes: NSW, VNM). 
EtymologyThe specific epithet of this species honours the discoverer, Dr Vu Ngoc Long, the Director of the Center for Biodiver-sity and Development and the Vice-Director of the Institute of Tropical Biology, Ho Chi Minh City, Viet Nam. 
DescriptionPerennial, small to medium variable, rather sparse, ever-green shrub, 2.5 – 4.0 m high; sometimes multi-stemmed, with upright habit; new shoots mid green, sometimes with slight reddish tinge, later mottled brown, otherwise shiny, glabrous; older branches light brown, slightly corky, shiny, glabrous, mature branches light brown, mottled with lighter patches, smooth, glabrous; distal leaf petiole partially obstructed by leaf lamina on adaxial side, abaxially forming a widened, light green and shiny, conical structure that seamlessly and gradually merges with the narrower primary vein; petiole thick compressed and slightly falcate, some-times slightly twisted, light green or yellowish to mid-green, sometimes proximally light brown, darker brown when senescing, otherwise shiny, glabrous, sometimes proximally slightly corky, 0.8 – 1.1 ( – 1.3) cm long, 3.0 – 5.0 (6.0) mm wide, 3.0 – 4.0 mm thick, generally slightly ascending, its angle of attachment variable (45 °– 85 °); the leaf lamina forms a less than 1.0 mm high ridge on each side of the adaxial petiole, forming a shallow, flat channel; axillary buds rudimentary, roughly triangular, mid brown; bud scales not visible, less than 1.0 mm long; terminal buds prominent, long and narrow, soft, almost white, glabrous, with sharp apex, variable in size; juvenile leaves forming a narrow tube when very young, soft, pendulous, dark purple to lilac to red, sometimes almost brown; developing leaves pendulous, narrow, shiny, glabrous, their adaxial venation light green; mature leaves irregularly, sparsely and distinctly serrate with serrations oriented abaxially, their margins undulate, 27.0 – 31.0 cm long, 6.0 – 9.0 ( – 10.5) cm wide; lamina thin, slightly coriaceous, variable, narrow elliptic to narrow oblong; leaf apex cuspidate to acuminate; base variably obtuse to rounded, somewhat amplexicaul; adaxial leaf surface glabrous, mid to dark green and shiny, lighter green and dull below, glabrous; blade midrib up to 3.0 ( – 4.0) mm wide proximally, less than 1.0 mm distally, light green to yellowish-green on both sides, adaxially slightly prominent to slightly sunken, abaxially prominent; secondary venation distinctly brochidodro-mous, with 14 – 16 ( – 18) pairs of veins adaxially sunken, abaxially prominent; tertiary venation indistinct, adaxially slightly sunken, abaxially slightly prominent, areolation well developed, meshes unevenly triangular-tetragonal and of inconstant size, with maximum areole dimensions 3.0 7.0 mm, although generally smaller (Hickey 1979). Flowers pedunculate, unevenly ellipsoid to ovoid, axillary and terminal, solitary, lacking scent; mature flowers cam-panulate or almost campanulate; peduncle stout, fleshy, shiny, glabrous, slightly falcate, wider distally, dark orange, red, to purple, up to 2.0 cm long, 4.0 – 5.0 ( – 6.0) mm wide, with two to four deciduous bracteoles; bracteoles triangular or almost triangular, soft, purplish to brown, variable in size, distally increasing in size, ( – 2.0) 5.0 – 8.0 mm long, 1.5 – 2.5 ( – 5.0) mm wide, randomly distributed over the length of the peduncle; fl ower buds solitary, not numerous, narrowly elliptic, elliptic, ovate to obovate, distally not sharp, shiny, rigid, glabrous, of slightly lighter colour than mature flowers; flowers 4.5 – 5.5 ( – 6.0) cm long, 3.5 – 5.0 cm in diameter, distally glabrous, shiny, rigid, tubular; petaloids and petals in three whorls that are proximally fused for up to 1.5 ( – 1.0) cm; the outer whorl 2 petaloids up to 4.5 cm long, 3.5 cm wide, although generally smaller, dark orange to red, proximally fused for up to 1.5 cm, rigid and thicker than petals, thinner towards the margins, concave, asym-metrically ovate to obovate, sometimes emarginate, their margins whitish, ruffled, slightly opaque; outer surface finely hairy in uneven patches; inner surface scabrous; the 
middle whorl 2 ( – 3) petals up to 5.0 cm long, 4.5 cm wide, proximally fused for 1.0 – 1.5 cm, intensely dark orange to red with uneven whitish margins, 3.0 – 5.0 mm wide, strongly concave and asymmetric, elliptical, ovate to obo-vate, distinctly emarginate with margins thinner, slightly 
ruffl ed; finely hairy on the outer surface; scabrous with vis-ible venation on the inner surface, rigid and easily damaged; the inner whorl of 3 overlapping petals in a tubular forma-tion, dark orange to red, variable in size, 4.0 – 4.5 ( – 5.0) cm long, ( – 2.5) 3.0 – 3.5 cm wide, strongly concave, but appear to be elliptic on account of being strongly concave, slightly asymmetric, obovate, their apex blunt, rarely emarginate, with whitish margins without ruffles; outer petal surface finely hairy, inner surface slightly striated, scabrous to smooth; perules in 2 whorls that form an uneven, rather loose spiral; the outer whorl, of 2 perules, red with ran-domly distributed areas of brown pigmentation, 1.0 – 1.2 cm long, 1.0 – 1.7 cm wide, semi-orbicular, persistent, rather thin, their margins slightly wavy; the inner whorl, of 3 perules, red with few randomly distributed areas of brown pigmentation, 1.0 – 1.2 cm long, 1.3 – 1.4 cm wide, semi orbicular to ovate, their apex blunt, persistent, rather thin, with margins slightly wavy; stamens numerous, in a circular formation that is 2.5 – 3.5 cm in diameter, contained entirely within the flower; filaments 3.0 – 3.5 cm long, in a tight formation, white, later dark yellow to brown, basally joined for 1.0 – 1.2 cm, roughly textured, glabrous; inner filaments marginally longer than the outer ones; anthers yellow, oblong or almost so, 3.0 – 3.5 mm long, 1.0 mm wide, with two longitudinal striations, dorsi-fixed; style com-pound, proximally fused for ca 5.0 mm, 5 – 6-parted distally, slender, 4.5 – 4.7 cm long, not straight, finely pubescent proximally, glabrous distally; stigma indistinct; ovary supe-rior, almost diamond shaped, with slight longitudinal striations, 4 – 6 carpellate, densely, finely tomentose, yellowish – green, very small, 3.0 – 4.0 mm long, 4.0 – 5.0 ( – 6.0) mm wide. Mature fruit and seed not seen. 
PhenologyThe new species was collected in flower in September and November. Fruit capsules or seed not seen. 
DistributionCamellia longiiis known from its type location only, which is situated within the confines of the northern part of the Cat Tien National Park (Cat Loc) in Lam Dong Province, Viet Nam. The new species was found in the vicinity of Hamlet 4, Phuoc Cat Commune. Camellia longiioccurs sporadically in small groups of mature plants, or as solitary specimens throughout the under-story of the ever-green, mixed (broad leaf and bamboo), tropical forest. C. longii thrives in relatively rich, wet, but well drained soils and in low light conditions. 
Conservation status. As the present area of the mixed tropical forest in Cat Loc is known to extend over less than 150 km2, it is estimated that the total area of C. longiidistribution may be analogous. This habitat, which has already been reduced by continual agri-cultural activities, is currently threatened by inundation, a result of the planned construction of a hydroelectric dam. Given this situation, we consider the IUCN category of ‘ Endangered ’ (EN) to be appropriate (IUCN 2011). Ex situ conservation measures should be urgently considered to ensure the species ’ survival.
References: 

0 nhận xét:

Post a Comment

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!