14/06/2014

Nguồn nhân lực cho công tác quản lý Đa dạng sinh học

(biodivn.blogspot.com) Nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất. Có đội ngũ cán bộ có năng lực thì mới có thể đề xuất và thực hiện các chương trình quản lý. Điều này đã được Chương trình Phát triển LHQ (UNDP) nói đến trong chương trình “Nguồn lực 21” (Capacity 21). Được xây dựng tiếp theo sau Hội nghị của LHQ về Môi trường và Phát triển, chương trình Nguồn lực 21 là một cố gắng để xây dựng nguồn nhân lực cần thiết để thực hiện Lịch trình 21 và các thoả thuận đã được ký kết tại Rio de Janeiro (LHQ, 1993). 
Quản lý ĐDSH đòi hỏi có đội ngũ chuyên gia rất đa dạng, có khả năng và các nguồn lực khác nữa. Cần thiết phải đào tạo đội ngũ cán bộ về nhiều lĩnh vực để thực hiện chương trình quản lý Đa dạng sinh học (ĐDSH). Các lĩnh vực đó bao gồm từ các khoa học cơ bản, các kỷ thuật thực hành, phân tích chính sách, cho đến tổ chức cộng đồng và phát triển nông thôn. Công việc đào tạo về khoa học cơ bản, và nguồn nhân lực về quản lý ĐDSH phải dựa vào các trường đại học, các viện nghiên cứu và các trường cao đẳng. Cũng có thể đào tạo nguồn nhân lực bằng các chương trình đặc biệt tổ chức tại các cộng đồng. Khác với cách đào tạo truyền thống, đội ngũ cán bộ quản lý ĐDSH đòi hỏi phải biết tích hợp, cộng tác với nhiều chuyên môn, ngành nghề khác nhau, nhằm đưa được nhiều ngành khoa học, các hiểu biết truyền thống, các kinh nghiệm đã có đi vào thực tiễn. Cũng cần phải động viên được các cộng đồng dân cư, các tổ chức chính phủ, phi chính phủ, các giới kinh doanh và các cá nhân cùng tham gia thực hiện các dự án, chương trình. 
Thiết kế kế hoạch và phương pháp đào tạo nhân lực về quản lý bảo tồn ĐDSH còn tuỳ thuộc vào nền văn hoá. Sự khôn kéo và tinh xảo về quản lý có phổ khá rộng, từ cấp làng xã cho đến cấp bộ, ngành, vì thế cần động viên nhiều người tham gia, sưu tầm, tìm hiểu để phổ biến cho nhiều người cùng biết để thực hiện. Một số biện pháp thường được sử dụng, có thể như sau: 
- Lớp ngắn hạn về khoa học chuyên ngành, về kỷ thuật quản lý, hay vấn đề hành chính; 
- Lớp đại học hay sau đại học về chuyên ngành trong nước hay ngoài nước; 
- Hội thảo, tập huấn về một vấn đề riêng; 
- Trao đổi khoa học, kinh nghiệm giữa các nước hay các cơ quan khoa học, viện nghiên cứu; 
- Tập huần ngắn ngày cho các cán bộ thực địa; 
- Chương trình soạn thảo tài liệu chuyên môn và phân phát tài liệu; 
- Tổ chức các đợt công tác có nhiều chuyên gia thuộc các lĩnh vực khác nhau cùng tham gia soạn thảo kế hoạch và cùng thực hiện; 
- Tổ chức mạng lưới có nhiều người thuộc các ngành khác nhau có liên quan để trao đổi công việc, kinh nghiệm về một lãnh vực nào đó; 
- Mời chuyên gia cố vấn trong nước hay nước ngoài; 
- Tổ chức cộng tác tác viên nông thôn để trao đôi kinh nghiệm thực tiễn về kỷ thuật, phương pháp...; 
- Tổ chức trao đổi thông tin giữa các cơ quan chình phủ với các cơ quan phi chính phủ, các chuyên gia, các kỷ thuật viên và các chuyên gia địa phương; 
- Các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư để trao đổi kinh nghiệm; 
- Tổ chức xây dựng chiến lược, kế hoạch quốc gia, địa phương có sự tham gia của các cơ quan chỉnh phủ, các cộng động địa phương, các tổ chức kinh doanh, các nhóm dân tộc và các người có liên quan khác. 
Các biện pháp trên đã được ứng dụng tại nhiều nước để đào tạo nhân lực cho công tác quản lý ĐDSH. Việc hợp tác giữa các nước, song phương và đa phương thường đạt kết qủa cao trong việc xây dựng Chiến lược quốc gia và Chương trình hành động (Miller and Lanou 1995). Nhiều lớp đào tạo, nhiều hội thảo về chuyên môn như tổ chức điều tra cơ bản và quản lý dữ liệu, phân loại học và bảo tồn nguồn tài nguyên di truyền, quy hoạch ĐDSH v.v.. đã được tổ chức tại nhiều nơi. 
Kinh nghiệm cho thấy rằng một mặt phải nâng cao kỷ năng quản lý cho đội ngũ cán bộ bằng cách tổ chức họ cùng tham gia việc soạn thảo chiến lược và kế hoạch hành động, mặt khác là phải tạo điều kiện cho họ, những người đã xây dựng chiến lược và kế hoạch hành động, được tham gia vào công việc thực hiện chiến lược và kế hoạch hành động đó. Cũng cần khuyến khích các người hoạch định chính sách, các nhà khoa học, các nhà quản lý tài nguyên và các nhà lãnh đạo các cấp từ trung ương đến địa phương có hiểu biết về vấn đề và có dịp thăm các cơ sở bảo tồn, từ đó có trách nhiệm hơn trong công tác thực hiện và đánh giá kế hoạch mà họ đã quyết định. 
Đội ngũ nhân lực như thế nào là đủ. Đây là một câu hỏi không phải dể dàng trả lời được. Sau đây là một vài ví dụ để tham khảo. Thường thì tại các nước đang phát triển, đội ngũ có trình độ để thực hiện công tác bảo tồn còn rất thiếu. Ví dụ, hình ... cho biết tại các nước có tài nguyên thực vật đa dạng thì số chuyên gia sinh thái học thực vật lại rất ít. Đối với các chuyên môn khác cũng có tình trạng tương tự. Theo dự kiến của Trung quốc thì để có thể hoàn thành việc điều tra cơ bản hệ thực vật, chỉ ở vùng nhiệt đối Trung quốc cần phải có thêm ít nhất 30 nhà thực vật học và 50 kỷ thuật viên. Chi phí cho công tác đào tạo số chuyên viên này và trang thiết bị cần thiết hàng năm cho họ thực hiện nhiệm vụ, ít nhất phải chi khoảng 2 triệu USD (Wang Huen-pu et all 1989). Thai Lan dự tính để hoàn thành công tác nghiên cứu quốc gia về ĐDSH cần phải chi khoảng 113 triệu USD để giáo dục và đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên môn. 75% chi tiêu này phải có sự hỗ trợ từ ngoài ( Bộ Khoa học, công nghệ và Năng lượng Thái Lan 1992). ở Kênia, dự kiến phải có thêm 42 nhà khoa học và 84 kỷ thuật viên trong 4 năm để hoàn thành mục tiêu của kế hoạch quốc gia về bảo tồn nguồn tài nguyên di truyền (Chính phủ Kênia 1992). 
Đào tạo phát triển nguồn nhân lực, nâng cao kiến thức và kỷ năng về bảo tồn ở Việt nam (Chiến lược quản lý hệ thống Khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010) 
Trong Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược quản lý hệ thống Khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010 đã nêu lên tầm quan trọng của việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực và cần phải tổ chức các hoạt động như sau: 
- Xây dựng chương trình và đưa vào kế hoạch quản lý các nghiên cứu về tài nguyên 
- ĐDSH, về sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các vấn đề kinh tế-xã hội liên quan đến các khu bảo tồn thiên nhiên. 
- Tổ chức các lớp đào tạo và tập huấn về: điều tra và giám sát ĐDSH trong các khu bảo tồn thiên nhiên; tập huấn kỷ năng xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu, kỷ năng thu thập, xử lý và bảo quản mẫu động vật, thực vật; nâng cao kỷ năng quản lý các HST trên cơ sở sử dụng kỷ thuật hiện đại và sử dụng thiết bị hiện trường phục vụ cho việc quản lý, xây dựng và phát triển các khu bảo tồn thiên nhiên. 
- Tổ chức các lớp học và bồi dưỡng về Hệ thống thông tin địa lý (GIS), xây dựng các báo cáo và sử dụng phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu cho các cán bộ quản lý cấp tỉnh và vùng về công tác bảo tồn thiên nhiên. 
- Xây dựng và tổ chức các chương trình giáo dục và đào tạo để đáp ứng những nhu cầu khác nhau của những người liên quan trực tiếp đến công tác bảo tồn thiên nhiên và những người làm công tác tổ chức, quản lý cán bộ và hoạch định chính sách về quản lý và bảo tồn thiên nhiên. 
- Đào tạo các nhà khoa học và kỷ thuật viên về xây dựng các chương trình cơ sở dữ liệu (dài hạn) và về chiến lược tìm kiếm thông tin trên mạng thông tin quốc tế (Internet) (ngắn hạn) , về xây dựng trang Web và đưa lên mạng; tuyển dụng cán bộ làm việc ở hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên theo đúng yêu cầu về trình độ chuyên môn. 
- Xây dựng các chương trình tham quan, học tập ở trong và ngoài nước cho các cán bộ khu bảo tồn thiên nhiên, bao gồm các lãnh vực đánh giá phục vụ cho quá trình xây dựng chính sách của Chính phủ. 
- Tổ chức đánh giá các khu vực có thể tiến hành trồng rừng hoặc tái sinh rừng trong khu bảo tồn thiên nhiên và xác định loài cây bản địa phù hợp cho từng vùng. 
- Nâng cao kỷ năng xây dựng các dự án phát triển vùng đệm và các khu vực khác gần các khu bảo tồn thiên nhiên về sử dụng tài nguyên một cách bền vững và các dự án phục hồi rừng trong khu bảo tồn thiên nhiên. (biodivn.blogspot.com).
Tài liệu tham khảo: Đa dạng Sinh học và Bảo tồn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005. 

Xem thêm: