13/06/2014

Phương pháp xác định ưu tiên trên cơ sở các loài

(Tiếp theo: ) 
(biodivn.blogspot.com) Loài là đơn vị hay thành phần quan trọng nhất của phổ đa dạng sinh học – từ các gen cho đến các Hệ sinh thái (HST) - đựơc các nhà khoa học và công chúng nói chung sử dụng để nói lên sự khác biệt về sinh học. Mặt khác, loài là đơn vị cơ bản về phân loại học, đồng thời loài cũng là thành phần cơ bản của các HST. Cũng vì thế mà công việc bảo tồn thường được tập trung vào bảo vệ các loài (chủng quần của các loài thường là đối tượng quan trọng nhất của công tác bảo tồn) hơn là các gen, các quần xã và HST. Cũng vì thế mà khi xác định ưu tiên về bảo tồn, các loài được xem như là đối tượng cơ bản để phân tích.
Theo cách tiếp cận loài, tư liệu về kích thước của chủng quần của các loài và sự phân bố theo địa lý của từng loài được sử dụng để phân tích và là cơ sở cho việc xác định các ưu tiên bảo tồn. Các tư liệu về đa dạng sinh học ở mức độ cao như quần xã, HST, quá trình sinh thái hay vùng sinh địa lý không được sử dụng ở trường hợp này. Điều được nhiều nhà khoa học chú ý là sinh cư (si nh cảnh) của loài, tuy nhiên không vì thế mà sinh cư được chọn làm dự liệu cơ bản cho việc xác định ưu tiên về mức độ hiếm hay độc đáo. Ví dụ loài Chim chích Dendroica kirtlandii là một trong những loài chim chính hiếm nhất trên thế giới, nơi làm tổ của loài chim này là rừng thông Pinus banksiana ở vùng hạ Michigan cần được bảo vệ, nhưng loài thông này lại rất phổ biến ở Thượng Michigan và Canada. Theo cách tiếp cận loài, giá trị của loài rất được đề cao, còn trong cách tiếp cận HST, sự tương tác giữa các loài, quá trình sinh thái được xem là yếu tố quan trọng để bảo vệ và sử dụng ĐDSH, và vai trò của HST có thể được xem là để thu hút các loài làm tăng thêm mức độ ĐDSH – tăng thêm số loài và mức độ gen. Cách tiếp cận loài thường chú trọng đến bảo vệ từng loài cụ thể là loài hiếm hay đặc hữu, hay là vùng có mức độ loài cao về số loài đặc hữu.
Thứ nhất, cách tiếp cận loài thường thu hút được sự chú ý của nhiều người và các cấp chính quyền. Trong thực tiễn, một số loài được xem có tính “lôi cuốn quần chúng” hay “ngọn cờ đầu”, hay có ý nghĩa về văn hoá quan trọng, là đặc hữu của một nước hay vùng nhỏ tạo nên sự chú ý hơn các loài khác. Chương trình bảo vệ voi, hổ, tê giác, sếu đầu đỏ, thông nước ở nước ta, hay gấu trúc ở Trung Quốc được sự quan tâm là vì lý do nói trên.
Thứ hai, cách tiếp cận loài nhằm mục tiêu bảo tồn các sinh cảnh có tầm quan trọng cho một số nhóm phân loại. Ta có thể lấy ví dụ về 221 địa điểm có tầm quan trọng để bảo vệ các loài chim đặc hữu trên thế giới, nơi mà có sự tập trung bất thường các loài chim quan trọng (Bibbly, 1992) và 234 trung tâm có đa dạng cây và mức độ đặc hữu cao (WWF và IUCN, 1994-95).
Sự phát triển các nhóm Chuyên môn của Hội đồng SSC/ IUCN đã mở rộng hệ thống nhóm loài để chọn lựa được thêm nhiều loài, chủng quần và sinh cảnh cho từng nhóm động vật và thực vật cần bảo vệ (Eudey, 1987; Schreiber, 1989; Cumming, 1990; Stuart, 1990; Hawkes, 1988) đã đề xuất thêm việc cần bảo tồn các loài cây có ý nghĩa kinh tế.
Cách tiếp cận loài hiện có một số thuận lợi. Nó cho phép tập trung vào một số thành phần của ĐDSH đang ở mức nguy cấp cao nhất, hay là có giá trị cao về một số mặt nào đó. Ví dụ, việc bảo tồn ĐDSH về nông nghiệp liên quan đến cách tiếp cận loài vì rằng theo cách tiếp cận HST thì không thể nói đến các loài, các chủng hay chủng quần có ý nghĩa quan trọng về nông nghiệp. 
Điều cần lưu ý là việc sử dụng cách tiếp cận loài để xác định ưu tiên đã được áp dụng một cách rộng rãi, một phần cũng là do hiểu biết về các bậc phân loại dưới loài và các chủng thường rất ít ỏi. Vì thế mà, rất khó khăn trong việc xác định rõ chủng nào thuộc loài là quan trọng để bảo vệ. Mặt khác, là cách tiếp cận loài là hữu hiệu ở chỗ hành động này chỉ có thể có khi mà một loài đã được xác định là nguy cấp – khi mà việc bảo tồn một chủng nào đó thuộc loài sẽ rất tốn kém. Nếu như toàn bộ một HST đã trở nên nguy cấp, mà không phải chỉ là các loài riêng biệt, thì cách tiếp cận HST lại thuận lợi hơn. 
Phần lớn các trường hợp thực hiện theo cách tiếp cận loài, về lý thuyết là thừa nhận tất cả các loài có giá trị ngang nhau về mặt phân loại. Ví dụ, khi nói đến sự phong phú về loài của một vùng nào đó được nói đến, để xác định ưu tiên thì mỗi loài đều có sức nặng như nhau về bảo tồn. Tuy nhiên điều thừa nhận đó cũng làm cho nhiều nhà sinh vật học phải bối rối và họ tin rằng có một số loài trong đó có tầm quan trọng hơn các loài khác. Đặc biệt là việc bảo tồn một số loài đặc trưng, đại diện cho một giống (chi), họ hay cho bậc phân loại cao hơn cần phải được chú ý nhiều hơn là việc bảo tồn các loài có nhiều nhóm họ hàng trong cùng giống (chi) hay họ. 
Trong những năm gần đây, một số lựa chọn ưu tiên đã sử dụng phân loại học (nghiên cứu về mối liên quan di truyền và tiến hoá giữa các loài) như là công cụ cơ bản để phân định ưu tiên. Điều mấu chốt khác với cách tiếp cận loài là các thành phần của ĐDSH (các loài) được đánh giá theo sự khác biệt về phân loại. Nói một cách khác, cho hai loài có mức nguy cấp cao, một loài không có mối liên hệ họ hàng với các loài còn sống (loài gấu trúc chẳng hạn) và một loài khác lại có quan hệ họ hàng với nhiều loài phổ biến (như loài chim chích Dendroica kirtlandii đã nói đến ở trên) thì loài gấu trúc sẽ là loài có tầm quan trọng về bảo tồn cao hơn loài chim chích.
Việc sử dụng phân loại học để xác định ưu tiên là rất hấp dẫn bởi vì nó cung cấp những dữ liệu chắc chắn, đáng tin cậy và những cơ sở về tiến hoá cho vấn đề bảo tồn. Cách tiếp cận như vậy có nhiều khả năng để tối ưu hoá công tác bảo tồn theo con đường tiến hoá mà cách tiếp cận dựa vào loài không thể làm được. Một sự phối hợp chặt chẽ giữa các biện pháp đánh giá về phân loại học, với những tư liệu phổ biến hơn về sinh thái và phân bố địa lý sẽ tạo nên những hoạt động có hiệu quả về bảo tồn trong tương lai (May, 1990). 
Tuy nhiên vẫn còn nhiều sự hạn chế trong việc sử dụng các biện pháp lượng hoá về mối liên quan giữa các loài để xác định ưu tiên (Johnson, 1995). Trước tiên, cách tiếp cận như thế còn bị hạn chế vì thiếu thông tin so với cách tiếp cận loài – vì rằng các hiểu biết về cây phát sinh chủng loại còn rất hạn chế. Thứ hai là, bảo tồn theo cách cây phát sinh chủng loại (tiến hoá) thường là bảo tồn đại diện kế thừa của lịch sử tiến hoá. Trong lúc đó, có những đối tượng bảo tồn lại rất quan trọng về giá trị sử dụng mà không có liên quan gì đến lịch sử phát triển và sự khác biệt về phân loại. Những tiến bộ về phân loại học và sự phát triển về những lý thú về bảo tồn theo phân loại, gợi ý cho chúng ta việc sử dụng công cụ phân loại để xác định ưu tiên bảo tồn có sự phối hợp với việc phân tích loài và HST sẽ được phát triển rộng rãi trong tương lai. Để làm được việc đó cần thiết phải biết rõ thành phần loài của một HST hay một sinh cảnh.
Lượng hoá Đa dạng sinh học
Việc sử dụng phân loại học để xác định ưu tiên phải dựa vào sự hiểu biết về các loài, các taxon (một taxon là một đơn vị trong hệ thống phân loại như giới, ngành, lớp, bộ, họ, giống/chi và loài) để định giá tầm quan trọng cần bảo vệ. Muốn vậy phải lượng hoá ĐDSH bằng cách kiểm kê các taxon. 
Theo các thành viên của trường phái này, đặc biệt là các nhà thực vật học, sự bảo vệ ĐDSH cần thiết phải có hiểu biết chính xác các loài có trong một sinh cảnh. Kiểm kê ĐDSH bằng các taxon thường được thực hiện bởi một nhóm chuyên gia phân loại học có uy tín ở cấp quốc gia và quốc tế. Nhóm chuyên gia này có thể được sự hỗ trợ của những chuyên gia địa phương có hiểu biết về các loài ở địa phương mà họ sinh sống, nhưng họ không phải là các nhà phân loại học, không biết các tên khoa học và những hiểu biết về phân loại học kinh điển.
Đối với những taxon đã biết, ta chỉ cần định danh chúng, nhưng đối với các taxon chưa biết, ta phải mô tả và đặt tên khoa học cho chúng. Trong mọi trường hợp, ta phải mô tả nơi sống và vai trò của các taxon đó trong HST. Bằng phương pháp này có thể thu thập được một số lượng rất lớn dữ liệu, tuy nhiên cũng đòi hỏi một thời gian dài và chi phí rất tốn kém để thực hiện, bao gồm đào tạo nhân lực ở trình độ cao và kêu gọi sự hỗ trợ của những chuyên gia nước ngoài. 
Cũng có thể thực hiện chương trình đánh giá nhanh giá trị của ĐDSH một vùng khi chưa đủ điều liện để kiểm kê các taxon, bằng cách xác định các điểm nóng - các điểm ưu tiên cần bảo tồn. Phương pháp này được đa số các nhà sinh thái học sử dụng. (biodivn.blogspot.com).
Tài liệu tham khảo: Đa dạng Sinh học và Bảo tồn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005. 
Xem thêm: