13/06/2014

Xác định ưu tiên bảo tồn dựa vào các hệ sinh thái

(biodivn.blogspot.com) Phương pháp xác định ưu tiên bảo tồn dựa vào các hệ sinh thái nhằm bảo vệ phần lớn các loài có trong các khu bảo tồn là đại diện cho các sinh cảnh của một vùng. Cách tiếp cận sinh thái để xác định các ưu tiên bảo tồn thường dựa các tiêu chí như độ phong phú loài, các loài đặc hữu, độ phong phú, tính độc đáo và tính đại diện, kể cả môi trường vật lý, các quá trình sinh thái và các mức độ nhiễu loạn.
Mục tiêu cơ bản của phương pháp dựa vào hệ sinh thái là bảo tồn một loạt các điều kiện sinh thái tìm thấy trong vùng điạ lý có liên quan. Cách tiếp cận sinh thái đôi khi được quan tâm vì rằng nó có thể được sử dụng như là đại diện cho các loài cụ thể đã được biết đến. Tuy nhiên cách tiếp cận sinh thái cũng còn có giá trị vì rằng nó có thể bảo vệ được các sinh cảnh mà không cần dựa vào cách tiếp cận loài. Ví dụ, bằng cách tiếp cận sinh thái có thể xác định các khu vực là nơi nghỉ, kiếm ăn của các loài chim di cư, hay là vùng có tầm quan trọng về chuyển đổi năng lượng, và nguồn dinh dưỡng như là rừng ngập mặn, mà khi sử dụng cách tiếp cận loài có thể bỏ qua. Cách tiếp cận sinh thái như vậy là có thể bảo tồn các khu có chức năng sinh thái quan trọng cho đa dạng sinh học mà cách tiếp cận loài không chú ý đến.
Trong những năm gần đây, phương pháp dựa vào phân tích các hệ sinh thái đã được chú ý nhiều hơn ở nhiều vùng trên thế giới và ngay cả ở Việt Nam, như khi thành lập khu bảo tồn ĐNN Xuân Thuỷ, khu bảo tồn rừng ngập mặn Cần Giờ và một số khu khác.
Cách tiếp cận sinh thái có một số điểm mạnh như sau. Ví dụ, nếu như các HST được bảo tồn với diện rộng thì phần lớn các loài và đồng thời ĐDDT cũng được bảo tồn. Thêm vào đó, các quá trình sinh thái (như sự chu chuyển chất dinh dưỡng, sự điều hoà chế độ thuỷ văn, điều hoà khí hậu ở từng vùng nhỏ và cả diện rộng, và sự giữ cân bằng về các hiện tượng nhiễu loạn cần thiết cho loài) là điều kiện tồn tại của nhiều loài. Chỉ dựa vào cách tiếp cận sinh thái mới có thể bảo đảm được sự bảo tồn các mối quan hệ rất quan trọng đó cho đa dạng sinh học . Cuối cùng, cách tiếp cận sinh thái mới thúc đẩy được việc bảo tồn đa dạng sinh học với diện rộng, bao gồm được nhiều sinh cảnh và bao gồm được nhiều vùng địa lý mà cách tiếp cận loài thường bỏ qua. Nếu như thiếu những hiểu biết về sự phân bố các loài và các mối nguy cơ tiềm ẩn cho các loài còn hạn chế, thì chỉ với cách tiếp cận sinh thái mới có thể phân tích được tình hình một cách có hiệu quả.
Cũng có một số điều bất cập khi sử dụng cách tiếp cận sinh thái là cách tiếp cận này thường chỉ dựa vào việc phân tích các sinh cảnh tự nhiên (MacKinnon và MacKinnon, 1986). Nhưng trong thực tế, có thể nói rằng hầu hết các HST, ít hay nhiều đã bị tác động bởi các hoạt động của con người, từ mức độ tác động do ô nhiễm toàn cầu, đến tác động của săn bắt, khai thác gỗ, nương rẫy, chăn thả...Tại một số vùng, nhất là ở các nước đã phát triển, hầu như các HST đã hoàn toàn biến đổi do các hoạt động lâu đời của con người.
Dù sao, với những gì còn lại chúng ta cũng có thể phân biệt được các sinh cảnh tự nhiên và nhân tạo. Các sinh cảnh tự nhiên là những nơi mà các loài địa phương chiếm ưu thế và tồn tại với tỷ lệ gần như trước kia, khi chưa có tác động của con người, hay là đang trên đường trở lại gần với mức độ trước kia, sau khi bị tác động của con người, và đã có được số loài địa phương và nguồn gen khá phong phú (Caldesott, 1995). Các sinh cảnh nhân tạo, trái lại, tại đây các loài chiếm ưu thế là những loài ngoại lai, hay là do môi trường được cải tạo, hay là các loài địa phương gặp khá phổ biến, nhưng là do có sự tác động của con người (rừng trồng).
Cách tiếp cận sinh thái để lựa chọn ưu tiên cũng có một số hạn chế do các HST có sự khác biệt rất lớn và hiểu biết về các HST lại còn rất sơ sài. Cũng rất khó khăn trong việc phân định kích cở, các thành phần, tính phức tạp, sự biến đổi qua thời gian và không gian...của các HST. Vì thế cũng rất dễ hiểu là tại sao các nhà sinh thái học có những ý kiến rất khác nhau về cách mô tả và định nghĩa các HST: đã có nhiều cố gắng để phân loại các HST, nhưng cho đến bây giờ vẫn chưa có được những tiêu chí rõ ràng được quốc tế công nhận. Một số nước đã sử dụng các đặc điểm về khí hậu, địa chất, địa hình, hệ thực vật, hệ động vật, và cách sử dụng đất để phân vùng địa lý sinh học.
Cuối cùng, cách tiếp cận sinh thái để xác định ưu tiên thường hay quên đưa các loài đang nguy cấp hay có nguy cơ nguy cấp vào nội dung phân tích. Điều đó thường gặp ở các nước nhiệt đới vì rằng ở đây vùng phân bố của một số loài thường rất hẹp. Vì thế mà cũng cần thiết có những chương trình riêng biệt để bảo tồn một số loài cá biệt mặc dầu đã có chương trình bảo tồn HST đã được thực hiện. (biodivn.blogspot.com).
Tài liệu tham khảo: Đa dạng Sinh học và Bảo tồn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005. 

Xem thêm: