13/06/2014

Vùng đệm bảo tồn đa dạng sinh học

(Tiếp theo: ) 
(biodivn.blogspot.com) Đã từ lâu vấn đề bảo tồn ĐDSH, vấn đề chất lượng của các HST và các cảnh quan, hệ động vật và hệ thực vật giàu có của nhiều khu bảo tồn bị suy thóai do sức ép của nhân dân sinh sống phía ngòai các khu bảo tồn đã được nhiều người quan tâm, và việc xây dựng vùng đệm, tạo thành một vòng đai bảo vệ bổ sung cho khu bảo tồn để lọai trừ các ảnh hưởng từ phía ngòai đã được đặt ra ở nhiều nước trên thế giới. Cách tổ chức và quản lý vùng đệm của mỗi nước cũng khác nhau, tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi nước. 
Ở nước ta các VQG và các khu bảo tồn đã và đang được xây dựng, nhưng phần lớn các khu vực này lại thường nằm giữa biển người và chịu sức ép hết sức nặng nề từ phía ngòai. Để giải quyết những mâu thuẫn giữa nhân dân địa phương và nhiệm vụ bảo tồn, cần thiết phải có những biện pháp hữu hiệu, đáp ứng những nhu cầu trứơc mắt của nhân dân địa phương, nhưng đồng thời cũng đáp ứng được những yêu cầu của bảo tồn. Vùng đệm được xây dựng chính là để giải quyết các khó khăn đó, nhằm nâng cao cuộc sống cho các cộng đồng dân cư địa phương, tạo thêm công ăn việc làm cho họ để họ giảm bớt sức ép lên các khu bảo tồn và đồng thời giáo dục, động viên họ tích cực tham gia vào công tác bảo tồn. 
"Vùng đệm là những vùng được xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc không có rừng, nằm ngoài ranh giới của khu bảo tồn và được quản lý để nâng cao việc bảo tồn của khu bảo tồn và của chính vùng đệm, đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh khu bảo tồn. Điều này có thể thực hiện được bằng cách áp dụng các hoạt động phát triển cụ thể , đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế-xã hội của các cư dân sống trong vùng đệm" (D.A Gilmour và Nguyễn Văn Sản, 1999). 
Định nghĩa trên của vùng đệm đã nói lên rõ chức năng của vùng đệm là
- Góp phần vào việc bảo vệ khu bảo tồn mà nó bao quanh; 
- Nâng cao các giá trị bảo tồn của chính bản thân vùng đệm; và 
- Tạo điều kiện mang lại cho những người dân sinh sống trong vùng đệm những lợi ích từ vùng đệm và từ khu bảo tồn. 
Những chức năng này có thể đạt được bằng cách: 
- Nâng cao điều kiện kinh tế xã hội của cư dân sống trong vùng đệm để giảm việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên bên trong khu bảo tồn; 
- Khuyến khích các cộng đồng địa phương trong vùng đệm tham gia vào vịệc quy hoạch và quản lý các hoạt động bảo tồn; 
- Giúp cộng đồng địa phương lập kế hoạch phát triển và quản lý tài nguyên thiên nhiên trong vùng đệm một cách bền vững; 
- Các cấp chính quyền địa phương và các đơn vị kinh tế khác trong vùng đệm phối hợp trong việc quy hoạch và quản lý theo cách hỗ trợ (và không đi ngược lại) các mục tiêu bảo tồn đã được đề ra cho khu bảo tồn và vùng đệm; 
- Điều phối các hoạt động đầu tư trong vùng đệm để đạt được các mục tiêu bảo tồn; và 
- Khuyến khích các dự án cụ thể trong vùng đệm ủng hộ các mục tiêu bảo tồn. (D.A. Gilmour và Nguyễn Văn Sản, 1999). 
Để có thể bảo tồn ĐDSH nói chung, và các khu bảo tồn thiên nhiên nói riêng, "cần phải dành ưu tiên cho các dự án hỗ trợ dân chúng các vùng đệm, áp dụng các thành tựu công nghệ tiên tiến, nâng cấp hạ tầng cơ sở, cải thiện đời sống xã hội, nhằm mục đích bảo đảm thu nhập ổn định cho nhân dân, nhờ đó ngăn chặn việc tiếp tục xâm lấn vào các khu bảo tồn" (Kế hoạch Hành động quốc gia về ĐDSH, 1995). 
Trong Chiến lược Quản lý hệ thống Khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010, vùng đệm được quan tâm đặc biệt: 
- “Làm rõ mối quan hệ giữa vùng đệm và khu bảo tồn thiên nhiên bằng các giải pháp xây dựng Qui chế hoạt động và nguyên tắc phối hợp giữa vùng đệm với khu bảo tồn thiên nhiên. Qui định quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia quản lý vùng đệm, đặc biệt đối với cộng đồng các dân tộc trên mỗi địa phương có khu bảo tồn thiên nhiên. Xây dựng kế hoạch dài hạn về đầu tư cho vùng đệm; 
- Xây dựng các qui ước về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn ĐDSH của cộng đồng dân cư thôn bản; xây dựng mô hình phát triển kinh tế hộ gia đình bền vững trong vùng đệm; 
- Bổ sung và hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách và xây dựng các mô hình phát triển vùng đệm. Xây dựng và ứng dụng rộng rãi việc thực hiện các dự án trình diễn về sử dụng các sản phẩm ngoài gỗ và trồng cây thuốc, các mô hình trồng cây làm củi phân tác và tập trung; 
- Xây dựng các chương trình về Thông tin – Giáo dục – Truyền thông để tiến hành nâng cao nhận thức về ĐDSH và khu bảo tồn thiên nhiên cho các cộng đồng dân cư sống ở vùng lõi và vùng đệm của các khu bảo tồn thiên nhiên, các nhà quản lý khu bảo tồn thiên nhiên, chính quyền và các nhà hoạch định chính sách ở các cấp; 
- Khuyến khich các tổ chức phi chính phủ chủ động thực hiện các công việc chuyển giao kiến thức, nghiên cứu, đào tạo và hỗ trợ việc quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và phát triển vùng đệm, nhất là hoạt động nông lâm nghiệp”.(biodivn.blogspot.com) 
Tài liệu tham khảo: Đa dạng Sinh học và Bảo tồn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005. 
Xem thêm: