05/06/2014

Sự tuyệt chủng các loài do phát triển kinh tế xã hội

Việc sử dụng đất và khai thác tài nguyên theo nhu cầu của con người đã làm biến đổi ít nhất một nửa bề mặt vỏ trái đất. Ảnh Phạm Văn Thế
(Tiếp theo: - biodivn.blogspot.com) Sự đa dạng về loài trên toàn cầu thường rất cao trong suốt mọi thời gian của các thời kỳ địa chất. Các nhóm sinh vật tiến hóa bậc cao như côn trùng, động vật có xương sống, thực vật có hoa đạt được đỉnh cao của sự đa dạng vào khoảng 30.000 năm trước đây. Tuy vậy, sau đó sự đa dạng của loài giảm dần cùng với sự tăng trưởng của các quần thể loài người. Hiện nay có thể thấy 40% năng suất thứ cấp của HST trên cạn được con người sử dụng, hủy hoại hay loại bỏ; lượng này chiếm 25% tổng năng suất thứ cấp trên toàn trái đất (Bảng 3.1).

Bảng 3.1. Con người chiếm lĩnh các HST trên trái đất thông qua ba con đường
1. Sử dụng đất
Việc sử dụng đất và khai thác tài nguyên theo nhu cầu của con người đã làm biến đổi ít nhất một nửa bề mặt vỏ trái đất.
2. Chu kỳ tuần hoàn của Nitơ
Các hoạt động hàng năm của con người như trồng các cây cố định đạm, sử dụng phân có chứa nitơ, việc đốt nhiên liệu hóa thạch đã thải vào HST trên cạn một lượng nitơ nhiều hơn lượng nitơ xâm nhập các quá trình sinh học và vật lý học trong tự nhiên.
3. Chu kỳ tuần hoàn của cácbon
Vào giữa thế kỷ 21, việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch của con người làm cho hàm lượng các-bon trong không khí tăng lên gấp 2 lần, góp phần gây hiện tượng hiệu ứng nhà kính.
Nguồn tài liệu: Vitousek, 1994.

Hoạt động đầu tiên của con người gây nên sự tuyệt chủng được nhận biết là việc tiêu diệt các loài thú lớn tại châu úc, Bắc và Nam Hoa Kỳ cách đây hàng ngàn năm khi bắt đầu chế độ thực dân tại những châu lục này và hiện nay là sự buôn bán các loài động thực vật quý hiếm ở Châu á và châu Phi. Trong một thời gian rất ngắn, sau khi con người khai phá những vùng đất này đã có từ 74% đến 86% các loài động vật lớn - động vật có trọng lượng cơ thể trên 44 kg - ở đây bị tuyệt chủng mà một trong những nguyên nhân trực tiếp chủ yếu là do việc săn bắt của con người (Martin and Klein, 1984; Primack và nnk, 1999) và gián tiếp là do việc đốt, phá rừng lấy đất sản xuất nông nghiệp. Trên tất cả các lục địa này đều có thể tìm thấy nhiều dấu tích do người tiền sử làm thay đổi và phá hủy nơi sinh sống của các loài làm cho chúng bị tuyệt chủng. 
Sự tuyệt chủng của các loài chim, thú chủ yếu là do chúng có kích thước tương đối lớn, được nghiên cứu nhiều và dễ nhận biết. 99% sự tuyệt chủng của các loài khác trên thế giới hiện nay chỉ là những dự báo sơ bộ. Mặc dù vậy ngay cả với các loài thú và chim, những số liệu về sự tuyệt chủng cũng không có những con số chính xác, một số loài đã được xem là tuyệt chủng vẫn được phát hiện lại, và một số loài tưởng như vẫn còn tồn tại thì rất có thể đã bị tuyệt chủng (Diamond, 1988) vì không ai tìm thấy chúng. 
Hình 3.2. Sự tuyệt chủng của các loài chim và động vật tăng dần lên và sự tăng đột ngột xuất hiện trong vòng 150 năm trở lại đây (IUCN, 1988); cột đứng chỉ số lượng loài

Bảng 3.2. Các số liệu về tuyệt chủng ghi nhận từ năm 1600 đến nay

Các nhóm loài
Số loài bị tuyệt chủng biết được a
Ước tính
Tổng số loài
Phần trăm số loài bị tuyệt chủng

Lục địab
Đảob
Đại dương
Tổng số


Thú
30
51
4
85
4.000
2,1
Chim
21
92
0
113
9.000
1,3
Bò sát
1
20
0
21
6.300
0,3
Lưỡng cưc
2
0
0
2
4.200
0,05
d
22
1
0
23
19.100
0,1
Động vật không xương sốngd
49
48
1
98
1.000.000 +
0,01
Các loài thực vật hiển hoae
245
139
0
384
250.000
0,2
Các nhóm loài
Số loài bị tuyệt chủng biết được a
Ưíc tÝnh
Tæng sè loµi
PhÇn tr¨m sè loµi bÞ tuyÖt chñng

Nguồn tài liệu: Reid và Miller, 1989; số liệu được thu thập từ nhiều nguồn.

  • a: Còn rất nhiều loài đã bị tuyệt chủng nhưng chưa hề được các nhà khoa học biết đến.
  • b: Các khu vực có diện tích từ 1 triệu km2 hay lớn hơn được coi là lục địa; các khu vực có diện tích nhỏ hơn ở trong đại dương thì được coi là đảo.
  • c: Sự suy giảm đáng báo động của các loài lưỡng cư trong vòng 20 năm trở lại đây; các nhà khoa học cho rằng nhiều loài lưỡng cư đang ở bên bờ của sự tuyệt chủng.
  • d: Số liệu đại diện cho vùng Bắc Hoa Kỳ và Haoai.
  • e: Số các loài thực vật hiển hoa bao gồm cả các phân loài, các loài và các chi. 
Kết quả phân tích cho thấy khoảng 85 loài thú và 113 loài chim đã bị tuyệt chủng từ năm 1600 (Bảng 4.2), tương ứng 2,1% các loài thú và 1,3% các loài chim (Reid and Miller, 1989; Smith et al, 1993). Những số liệu này ban đầu có vẻ như là bình thường, nhưng xu hướng và tốc độ cứ tăng dần với phần lớn sự tuyệt chủng tập trung vào khoảng thời gian 150 năm trở lại đây (Hình 3.2). Tốc độ tuyệt chủng đối với các loài thú và chim là khoảng 1 loài trong 10 năm tại thời điểm từ 1600-1700, nhưng tốc độ này tăng dần lên đến 1 loài/năm vào thời gian từ 1850-2000. 
Việc tăng tốc độ tuyệt chủng đã cho thấy rằng những mối đe dọa với ĐDSH đã trở nên rất nghiêm trọng. Rất nhiều loài về nguyên tắc vẫn chưa bị tuyệt chủng nhưng đang tiếp tục là đối tượng săn bắt của con người và chỉ còn tồn tại với một số lượng rất ít như Tê giác, Hổ, một số loài linh trưởng, bò xám, sao la, cá sấu hoa cà... ở Việt Nam. Những loài này có thể coi như đã bị tuyệt chủng về phương diện sinh thái học vì số lượng của chúng ít đến nỗi không đóng vai trò gì trong cấu trúc quần xã. Nguy cơ đối với các loài cá nước ngọt và động vật thân mềm cũng đáng lo ngại tương tự như nhau (William and Nowak, 1993). Các loài thực vật cũng bị đe dọa, ví dụ như một số nhóm thực vật hạt trần cũng dễ bị tuyệt chủng (cọ). Sự tuyệt chủng đáng ra chỉ là một quá trình tự nhiên, nhưng 99% số loài bị tuyệt chủng (Mace, 1994) chủ yếu do con người gây ra.
Bảng 3.3 Số loài bị đe dọa tuyệt chủng thuộc một số họ, bộ chủ yếu của các nhóm động vật và thực vật chính

Số loài ước tính
Số loài bị đe dọa tuyệt chủng
Phần trăm số loài bị de dọa tuyệt chủng
Động vật có xương sống



24.000
452
2
Lưỡng cư
3.000
59
2
Bò sát
6.000
167
3
Boidae (rắn)
17a
9
53
Varanidae (thằn lằn)
29a
11
38
Iguanidae
25a
17
68
Marsupialia
179a
86
48
Canidae
34a
13
38
Cervidae
14a
11
79
Chim
9.500
1.029
11
Anseriformes (chim nước)
109a
36
33
Psittaciformes (vẹt)
302a
118
39
Động vật không xương sống
4.500
505
11
Thực vật



 Gymnosperm (ẩn hoa)
758
242
32
 Angiosperm (hiển hoa)
240.000
21.895
9
 Palmae (cọ)
2.820
925
33


Nguồn tài liệu: Snith et al., 1993 và Mace, 1994; a Chỉ có số liệu riêng cho những loài này. biodivn.blogspot.com 
Tài liệu tham khảo: Đa dạng Sinh học và Bảo tồn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005. 

Xem thêm: 

0 nhận xét:

Post a Comment