14/06/2014

Tình hình nghiên cứu đa dạng sinh học ở Việt Nam

(biodivn.blogspot.com) Một thành tựu nổi bật về nghiên cứu ĐDSH là kết quả điều tra về tài nguyên thực vật và động vật ở một số VQG và KBTTN và một số sinh cảnh khác ngoài KBTTN nhờ sự phối hợp giữa các nhà khoa học của các cơ quan nghiên cứu ở trung ương , địa phương và ban quản lý VQG, KBTTN. Có thể dẫn ra một số ví dụ điển hình: 
- Ở KBTTN Hoàng Liên Sơn Sa Pa đã điều tra được 464 loài thực vật thuộc 159 họ, trong đó có 8 loài mới và 65 loài quí hiếm (Frontier, 1994); 
- VQG Tam Đảo đã điều tra được 1282 loài thực vật thuộc 179 họ với 2 kiểu rừng chính là rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới ( Cao < 700m) và rừng kín thường xanh mưa mùa á nhiệt đới núi thấp (700-1500m) (VQG Tam Đảo, 2000); 
- VQG Phong Nha Kẻ Bàng đã thống kê được trên 800 loài thực vật trong đó có 26 loài trong sách đỏ Việt Nam và thế giới. Thống kê được 113 loài thú, trong đó có 41 loài quí hiếm, 259 loài bướm ngày (Cảnh và cs, 1997; Nhật và cs, 2001); 
- VQG Bạch Mã đã lập danh lục 1460 loài thuộc 170 họ, có 47 loài được xem là quí hiếm, 3 nhóm côn trùng đã được nghiên cứu là Cánh vẩy (255 loài) Mối (28 loài), Cánh cứng ( 179 loài), trong đó có 8 loài quí hiếm. có 17 công trình khảo sát về Chim và thống kê được 330 loài trong đó có nhiều loài đặc hữu; có 21 loài quí hiếm. Thú ở Bạch Mã cũng phong phú, đã thống kê được 119 loài trong đó có 39 loài xếp vào sách đỏ Việt Nam ( Eve, 1998, Kéo & cs, 2000); 
- KBTTN Kong Ka Kinh: Kết quả khảo sát bước đầu đã ghi nhận 652 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 132 họ, có 10 loài đặc hữu, 34 loài trong sách đỏ Việt Nam và thế giới. Động vật ở cạn có xương sống gồm 221 loài thuộc 74 họ, trong đó có 35 loài quí hiếm (Hinh và cs, 2002); 
- VQG Cát Tiên đã ghi nhận 1366 loài thực vật bậc cao thuộc 151 họ, có 39 loài quí hiếm; nguồn gen đặc hữu và cây bản địa có 22 loài. Về động vật, thống kê 14 loài ếch nhái/ 4 họ, 37 loài bò sát/ 18 họ, 340 loài và phân loài chim/ 62 họ, 86 loài thú/ 31 họ. Có 16 loài bò sát, 20 loài chim, 25 loài thú là quí hiếm (Polet & cs, 1999); 
- KBTTN Bình Châu Phước Bửu. Đã định tên 732 loài thực vật thuộc 123 họ, trong đó 17 loài quí hiếm. Xác định chỉ có 1 kiểu rừng kín nửa rụng lá, ẩm nhiệt đới (Cảnh và cs, 2000); 
- Về động vật 12 loài/4 họ ếch nhái, 38 loài/14 họ bò sát, 108 loài/44 họ chim (5 loài quí hiếm), 49 loài/21 họ thú (10 loài quí hiếm) (Cảnh & cs, 2000). 
Các nghiên cứu ĐDSH thường được bắt đầu bằng những nghiên cứu cơ bản để có tiền đề xây dựng luận chứng kinh tế-kĩ thuật (LCKT) cho các khu bảo tồn (Vũ Tiến Hinh, 2002). Phần lớn LCKT được xây dựng bởi các cơ quan chuyên môn như Viện Điều tra Qui hoạch rừng Hà Nội (kể cả các phân viện), Viện Khoa học Lâm nghiệp Hà Nội, Trường đại học Lâm nghiệp (Xuân Mai- Hà Tây), Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Đại học Quốc gia Hà Nội hoặc các cơ quan nghiên cứu kể trên cùng tham gia xây dựng. Ngoài các nghiên cứu liên quan đến LCKT còn phải kể đến các nghiên cứu chuyên sâu của các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước như: 
- Ở miền Bắc có các nghiên cứu của Hội khảo cứu môi trường (Frontier) về động thực vật khu vực Hoàng Liên; nghiên cứu của Hội Bảo vệ chim quốc tế (Birdlife International) ở VQG Ba Bể và vùng phụ cận: nghiên cứu về thú linh trưởng ở VQG Ba bể, KBTTN Na Hang và VQG Cát Bà của trường Đại học Lâm nghiệp; các nghiên cứu về pơ mu, lâm sản ngoài gỗ (Viện Khoa học Lâm nghiệp), nghiên cứu về cúc, lan hài, cây có ích, voọc mũi hếch của viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật Hà Nội, các nghiên cứu về trà, rêu, côn trùng... của đại học Quốc gia Hà Nội, cây thuốc của Viện Dược liệu. 
- Khu vực biển miền Trung đã được các nhà khoa học của trường Đại học Lâm nghiệp, viện Điều tra Quy hoạch rừng, bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, ĐHQGHN, Đại học Huế, VQG Bạch Mã, các chuyên gia dự án WWF/EC (VN 001201), trung tâm Lâm nghiệp Nhiệt đới Nga-Việt, Đại học Vinh quan tâm nghiên cứu. Các đối tượng nghiên cứu bao hàm phần lớn các nội dung của ĐDSH. Nhiều nghiên cứu đã tập trung vào một số đối tượng là các loài động vật, thực vật đặc hữu của KBTTN Pù Mát, KBTTN Vũ Quang, VQG Bạch Mã, KBTTN Phong Nha- Kẻ Bàng, KBTTN Phong Điền như các loài chim họ Trĩ, thú Linh trưởng, hổ, sao la, bò tót, cây thuốc... 
- Miền Nam là khu vực có nhiều nghiên cứu của Phân Viện Điều tra Quy hoạch rừng II, Đại học Khoa học Tự nhiên Tp. Hồ Chí Minh, Tổ chức Bảo tồn chim Quốc tế, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật với các đối tượng nghiên cứu khá đa dạng. 
Những mặt yếu về nghiên cứu ĐDSH 
Do thiếu kinh phí của nhà nước hoặc chỉ được một số tổ chức quốc tế hỗ trợ có một lần, nên thiếu các số liệu chính xác, cập nhật, nhiều VQG và KBTTN chỉ có số liệu khi xây dựng luận chứng KHKT. Có nhiều loài động vật, thực vật chưa có tên trong danh lục song mặt khác có thể có một số loài động vật, đặc biệt là thú lớn đã được ghi trong danh lục nhưng thực tế không còn. 
Nhìn chung chất lượng số liệu điều tra của các khu bảo vệ chưa đạt yêu cầu so với thực tế hiện có, cần phải được đánh gía lại hiện trường (Vũ Tiến Hinh, 2002). 
- Ở nhiều khu bảo vệ do thời gian khảo sát ngắn, phạm vi khảo sát hạn hẹp nên chưa phản ánh đầy đủ tính ĐDSH của cả khu vực. 
- Việc nghiên cứu chưa đồng bộ, ở một số khu bảo vệ đã bỏ qua một số đối tượng đặc biệt là các nhóm động vật không xương sống, các phương pháp phân loại hiện đại chưa được áp dụng; 
- Một số nghiên cứu mang tính độc lập, không có sự kế thừa hoặc có khi chồng chéo, trùng lặp 
- Tính khoa học có khi chưa cao do thiếu tài liệu định loại 
- Hoạt động nghiên cứu của ĐDSH mang tính tự phát ở các VQG, KBTTN không có dự án nước ngoài tài trợ. Ngược lại nơi có tài trợ lại lệ thuộc vào cố vấn hoặc cơ quan trúng thầu nên bị động. 
Trong tóm tắt báo cáo "Đánh giá việc thực hiện BAP từ 1995 đến 2002" của Bộ Tài nguyên và Môi trường có rút ra những mặt còn yếu cần khắc phục (13 vấn đề), trong đó có 1 điểm nhận định rất đáng quan tâm: 
"Công tác nghiên cứu khoa học về ĐDSH chưa có hệ thống. Nhiều biện pháp bảo tồn được đề xuất nhưng chưa đủ căn cứ khoa học và thực tế. Cán bộ khoa học về ĐDSH vừa yếu về chuyên môn, thiếu về số lượng. Cơ sở vật chất và đầu tư cho các hoạt động này quá ít." 
Bên cạnh các nhược điểm trên có một nội dung quan trọng đối với công tác bảo tồn là phải điều tra giám sát (ĐTGS) ĐDSH. ĐTGS ĐDSH là các hoạt động nhằm theo dõi quá trình biến động của các tài nguyên sinh vật theo thời gian và những nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình đó. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng cần nghiên cứu cho các vùng cảnh quan tự nhiên mà trước hết là VQG và KBTTN. Cho đến nay ở nước ta chưa có VQG, KBTTN hoặc một cơ quan nào thực hiện ĐTGS ĐDSH. Đó là một trong những nguyên nhân hạn chế tính hiệu quả của công tác quản lý ĐDSH ở các VQG, KBTTN do chưa nắm chắc nguồn tài nguyên, xu hướng biến đổi của nó và nguyên nhân ảnh hưởng (Vũ Tiến Hinh, 2002). Dựa vào yêu cầu của văn phòng dự án SPAM (Dự án tăng cường công tác quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam), một nhóm các nhà khoa học đã thực hiện hoạt động tư vấn "Nhu cầu điều tra, giám sát và bảo tồn ĐDSH ở các khu rừng đặc dụng Việt Nam từ 26/7 đến 26/10/2001", mục đích là nghiên cứu đề xuất phương pháp và những hành động cụ thể nhằm tăng cường năng lực chuyên môn để thực hiện các hoạt động điều tra giám sát, thu thập chia sẻ các thông tin ĐDSH ở các khu bảo vệ của Việt Nam (Vũ Tiến Hinh, 2002). (biodivn.blogspot.com).
Tài liệu tham khảo: Đa dạng Sinh học và Bảo tồn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005. 

Xem thêm: