07/06/2014

Sự lây lan dịch bệnh gây suy thoái Đa dạng Sinh học

Khoảng 18 triệu con chim két cánh đỏ chết hồi đầu năm 2014 ở Beebe - Hoa Kỳ, dẫn đến loài chim này đứng trước nguy cơ tuyệt chủng (theo http://www.rockcitytimes.com/)
(Tiếp theo: ) 
(biodivn.blogspot.com) Sự lây nhiễm các sinh vật gây bệnh là điều thường xảy ra đối với động vật nuôi hay động vật hoang dã. Các tác nhân gây nhiễm bệnh có thể là các vật ký sinh như vi rút, vi khuẩn, nấm, các động vật đơn bào hay các ký sinh trùng cỡ lớn hơn như giun, sán. Các loại bệnh dịch này có thể là nguy cơ đe dọa đối với một số loài quý hiếm. Quần thể cuối cùng của loài chồn chân đen (Mustela nigrepes) tồn tại trong tự nhiên đã bị tiêu diệt bởi vi rút của bệnh sốt ho từ chó nhà và một số gia súc khác vào năm 1987 (Thorne and William, 1988).
Một trong những thử thách chính của chương trình nuôi dưỡng bảo tồn loài chồn chân đen này trong điều kiện nhân tạo là bảo vệ chúng khỏi bệnh sốt ho và các bệnh khác; điều này được thực hiện bằng các biện pháp cách ly, kiểm dịch nghiêm ngặt cũng như chia chúng thành những nhóm nhỏ cho sống tách biệt tại những vùng địa lý khác nhau. Số chồn chân đen còn lại tỏ ra rất nhạy cảm với bệnh này, bệnh vốn đang tồn tại trong quần thể các loài thú ăn thịt cùng sống trong vùng phân bố của loài chồn này. Kết quả cho thấy sau khi thả lại các con chồn về với thiên nhiên năm 1991 chúng vẫn rất mẫn cảm với loại bệnh dịch này. 
Có ba nguyên tắc cơ bản về bệnh dịch học được ứng dụng rộng rãi trong việc nuôi dưỡng và quản lý các loài thú quý hiếm:
Thứ nhất, các loài được con người nuôi dưỡng và động vật hoang dã khi sinh sống trong quần thể với mật độ cao sẽ có nguy cơ dễ bị mắc bệnh dịch hay bị nhiễm ký sinh trùng. Tại những phần của khu vực bảo tồn, quần thể của các loài động vật có thể có mật độ lớn hơn mật độ bình thường trong thiên nhiên, sẽ tạo thuận lợi cho sự phát triển, lan truyền dịch bệnh với tốc độ cao. Trong thiên nhiên, mức độ lây nhiễm bệnh ít hơn nhiều vì các động vật thường tránh xa khỏi phân, nước tiểu, nước bọt, các mảng da bị bong của chúng cũng như tránh xa các nguồn lây bệnh khác. Trong điều kiện nuôi dưỡng nhân tạo, các động vật phải tiếp xúc với những nguồn thải có khả năng gây bệnh tiềm tàng đó, và càng dễ lan truyền bệnh. Trong các vườn thú lãnh địa của một loài thường bó hẹp trong khu vực chuồng hay trong một diện tích rất nhỏ. Hậu quả là khi một con thú trong quần thể bị mắc bệnh thì các ký sinh trùng có thể nhanh chóng lây lan sang các con khác. 
Nguyên tắc thứ 2, tác hại gián tiếp do nơi cư trú bị phá hủy là làm cho loài trở nên dễ mắc các bệnh dịch hơn. Khi các quần thể vật chủ sống tập trung trong một khu vực nhỏ hơn do nơi sinh sống đã bị phá hủy, tại đây chất lượng môi trường nơi cư trú thường bị suy giảm, thức ăn trở nên khan hiếm dẫn đến tình trạng kém dinh dưỡng, các động vật trở nên yếu hơn, và dễ mắc bệnh hơn. Sống tập trung với mật độ cao còn dẫn đến những căng thẳng về quan hệ cùng loài, làm suy giảm sức sống dẫn đến giảm sức đề kháng và miễn dịch. 
Nguyên tắc thứ 3, tại rất nhiều khu bảo tồn và vườn thú, các loài tiếp xúc với rất nhiều loài mà chúng rất ít khi, thậm chí không bao giờ gặp trong thiên nhiên hoang dã, cho nên bệnh dịch có thể truyền từ loài này sang loài khác. Một khi loài được nuôi dưỡng bị nhiễm bệnh của một loài nhập cư xa lạ, thì khi được trả về với thiên nhiên đã mang theo mối nguy cơ lan truyền bệnh dịch đó cho toàn bộ quần thể sống hoang dã. Các loài có khả năng kháng bệnh đóng vai trò như một kho chứa bệnh có thể gây ảnh hưởng đến những loài yếu ớt hơn, dễ nhiễm bệnh hơn. Ví dụ, ở Tanzania có khoảng 25% sư tử bị chết do bệnh sốt ho mà nguồn bệnh là từ các con chó nhà sống gần VQG (Morell, 1994).(biodivn.blogspot.com) 
Tài liệu tham khảo: Đa dạng Sinh học và Bảo tồn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005. 

Xem thêm: 

0 nhận xét:

Post a Comment

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!