07/06/2014

Sinh vật chuyển gen và những rủi ro tiềm ẩn

Động vật chuyển gen đầu tiên được bán làm cảnh - Nguồn http://en.wikipedia.org/
(Tiếp theo: ) (biodivn.blogspot.com) 
Sinh vật chuyển gen
Ngày nay, chúng ta đã biết, mọi biểu hiện của sự sống ở các sinh vật đều do thông tin di truyền lưu trữ trong phân tử một chất axit có tên gọi là AND (axit deoxyribo nucleic) điều kiển. Thông tin di truyền được ghi chép, lưu trữ và sử dụng ở một dạng ngôn ngữ của tự nhiên gọi là mã di truyền. Trong ngôn ngữ này chỉ có 4 “chữ cái” là A, T, C và G. Mỗi từ trong mã di truyền chỉ gồm 3 chữ cái, gọi là các bộ ba, mỗi từ qui định một axit amin, đó là nghĩa của từ. Nhiều từ hợp lại, nếu có đủ thông tin để xác định một chức năng, đặc điểm của cơ thể hay tế bào, nghĩa là có một ý trọn vẹn, thì tập hợp đó là một câu trong ngôn ngữ di truyền, mà chúng ta gọi là gen. Như vậy, trong mã di truyền, cũng như trong bất kỳ ngôn ngữ nào khác, trình tự sắp xếp của các chữ cái quyết định ý nghĩa của thông tin mang trong đó. Điều đó cũng có nghĩa là nếu thay đổi trình tự các chữ cái thì ta tạo ra thông tin mới. Trong sinh học thì thông tin đó tạo ra sinh vật mới, hoặc tạo ra các tính chất mới của một sinh vật.
Một đặc điểm của mã di truyền là nó mang tính đa năng, nghĩa là tất cả mọi sinh vật cùng dùng chung một mã. Như vậy, nếu ta cắt một đoạn ADN mang một chức năng nào đó của một sinh vật đưa vào sinh vật khác thì nó hoạt động và biểu hiện chức năng đó ở sinh vật mới, mặc dù sinh vật này trước đó không có chức năng này. Những sinh vật như thế gọi là các sinh vật chuyển gen.
Công nghệ sinh học đã có tác động mạnh mẽ đến hầu hết các lĩnh vực kinh tế quốc dân: nông nghiệp, công nghiệp, y - dược, vật liệu, tin học...
Trong nông nghiệp đã tạo được hàng loạt các giống vật nuôi và cây trồng có năng suất rất cao, chống chịu bệnh, thậm chí có thể mang cả những dược phẩm giá trị để phòng chống các bệnh nan y. Về các thực phẩm chuyển gen hiện đang có bán rộng rãi ở châu Âu và châu Hoa Kỳ, thì chưa ai chứng minh được là chúng an toàn tuyệt đối và cũng chưa có bằng chứng khoa học chắc chắn nào là chúng không an toàn!
Trong y học, hàng loạt các kỹ thuật di truyền phân tử đã được hoàn thiện để sử dụng trong việc chẩn đoán những bệnh nhiễm trùng, bệnh di truyền, chẩn đoán sớm giới tính và nhiều bệnh di truyền hiểm nghèo.
Nhiều kỹ thuật đã được hoàn thiện để giúp xác định quan hệ huyết thống, trợ giúp đắc lực cho khoa học hình sự.
Nhiều lĩnh vực ứng dụng mới đã được mở ra như tạo vật liệu mới bằng kỹ thuật di truyền, tạo ra các con chíp sinh học dùng cho máy tính...
Tóm lại, cuộc cánh mạng công nghệ sinh học là một thực tế của hiện tại và tương lai. Nó đã bắt đầu sớm hơn cả những dự đoán của các nhà viễn tưởng lạc quan nhất.
Những rủi ro tiềm ẩn do sinh vật chuyển gen
Tuy nhiên, cũng như các khoa học khác, một khi đã đạt đến đỉnh cao phát triển thì ngoài những lợi ích hiển nhiên đem lại cho loài người, nó cũng tiềm ẩn những rủi ro và bất ổn có thể có về cả 2 phương diện: ngẫu nhiên và cố ý.
Xét về mặt ngẫu nhiên, do những lý do kỹ thuật, phần lớn các sinh vật chuyển gen đều có mang theo các gen kháng thuốc kháng sinh như tetracylin, ampicilin hay streptomicin. Các sinh vật này khi đem sản xuất đại trà thì ADN của chúng được nhân lên, trong đó có cả các gen kháng kháng sinh. Các gen này có thể khuyếch tán vào môi trường, rồi sau đó, có thể chui trở lại các vi khuẩn gây bệnh, mà từ đó người ta đã lấy chúng ra. Nếu các vi khuẩn này xâm nhập và gây bệnh cho người hoặc gia súc thì rất khó chữa chạy.
Một nguy cơ tiềm ẩn nữa là cơ chế “kết thúc” nảy mầm mà nhiều hãng sản xuất hạt giống chuyển gen hiện đang sử dụng để bảo vệ bản quyền. Đặc tính này thể hiện ở chỗ hạt giống của họ chỉ sử dụng được một thế hệ. Các hạt thu được từ thế hệ đó sẽ mất khả năng nảy mầm. Đặc tính này do một đoạn ADN đặc hiệu gây nên. Như vậy, khi giống mang đặc tính trên được trồng ở diện tích rộng thì phấn hoa của chúng mang đoạn ADN nói trên có thể bay sang các cây trồng khác và các cây này có thể bị lây lan đặc tính nói trên và không nảy mầm được nữa.
Còn trong trường hợp người ta cố ý tạo ra các sinh vật có hại, như vũ khí sinh học chẳng hạn thì hiểm hoạ sẽ là vô cùng to lớn.
Nghị định thư Cartagena
Từ năm 1995, khi mà các sản phẩm chuyển gen đã được thương mại hoá, diện tích sản xuất các cây trồng chuyển gen đã lên đến hàng chục triệu hecta, riêng năm 1999 ở Hoa Kỳ là 28,7 triệu ha, Achentina: 6,7 triệu ha, Canada: 4 triệu ha; khi mà các sản phẩm chuyển gen từ Châu Hoa Kỳ, từ Nhật tràn vào Châu Âu, thì một làn sóng về sự an toàn trong việc sử dụng các sản phẩm đó đã dấy lên từ Châu Âu và lan truyền khắp thế giới.
Trước tình hình đó và nhận thức được những rủi ro tiềm ẩn trong công nghệ sinh học hiện đại, Hội nghị các nước tham gia Công ước ĐDSH lần thứ 2 (COP 2) tại Gia- các- ta (Inđônêxia) năm 1995 đã quyết định thành lập một nhóm chuyên gia quốc tế, trong đó có Việt Nam, nhằm soạn thảo một văn bản quốc tế gọi là Nghị định thư về sự an toàn trong sử dụng và chuyển giao các sinh vật chuyển gen. Văn bản này nằm trong khuôn khổ của Công ước ĐDSH đã được các nguyên thủ quốc gia ký vào năm 1992. Từ đó Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) đã tổ chức 6 cuộc họp Nhóm chuyên gia này. Lần họp thứ 5 tháng 2 năm 1999 tại Cartagena (Colombia), đã soạn thảo “Nghị định thư Cartagena” nhưng chưa được thông qua. Ngày 29/1/2000 tại hội nghị lần thứ 6 ở Montreal (Canada) phiên bản cuối cùng của Nghị định thư đã được 133 nước thông qua, sau 5 năm tranh luận.
Trong 5 năm đó quan điểm của các nước có thể phân thành 2 khối, mặc dù trên thực tế quan điểm hết sức đa dạng tuỳ thuộc vào quyền lợi quốc gia của các nước tham gia hội nghị. Hai khối chính là:
a. Các nước đang xuất khẩu và nhập khẩu nhiều sinh vật chuyển gen, mà điển hình là: Hoa Kỳ, Canada, Ôxtrâylia, Achentina, Chile và Uruguay. Các nước này muốn có một Nghị định thư với những điều khoản tạo điều kiện dễ dàng cho việc sử dụng và xuất nhập khẩu các sinh vật chuyển gen, không có hoặc có rất ít những hạn chế cần thiết để đảm bảo an toàn cho người dùng và cho môi trường.
b. Các nước phát triển và các nước Châu Âu, muốn có một Nghị định thư chặt chẽ đảm bảo an toàn tuyệt đối cho việc chuyển giao và sử dụng các sinh vật chuyển gen và những sản phẩm bắt nguồn từ chúng.
Dù sao, cuối cùng cũng đã đạt được thoả thuận mà theo như phát biểu của các đại biểu thuộc các nước có quan điểm lập trường khác nhau, thì tất cả đều thoả mãn với văn bản cuối cùng này của Nghị định thư.
Về phía Việt Nam, Bộ KHCN&MT đang soạn thảo một quy chế quốc gia về sinh vật biến đổi gen. Những thành tựu to lớn của công nghệ sinh học hiện đại, đã và đang đóng góp tích cực có hiệu quả cao vào các lĩnh vực của thực tiễn xã hội, đặc biệt trong y học, nông nghiệp và một số lĩnh vực công nghiệp. Cuộc cách mạng công nghệ sinh học lần thứ 2 đã bắt đầu và đang ngày càng sôi động trên phạm vi toàn cầu.
Tuy nhiên, với bất cứ thành tựu nào của bất kỳ lĩnh vực khoa học nào cũng đều tiềm ẩn những nguy cơ. Các nguy cơ này có thể nảy sinh và phát triển hay không thường tuỳ thuộc vào hai yếu tố:
- Đạo đức con người, đặc biệt là những người hoạch định chính sách và cung cấp kinh phí ở mỗi nước, nhất là các nước phát triển.
- Các biện pháp phòng ngừa có đủ hữu hiệu hay không.
- Các sản phẩm của công nghệ gen với môi trường và tiến hoá
Di truyền học là cơ sở khoa học để xây dựng nên các phương pháp chọn và cải thiện giống vi sinh vật, vật nuôi và cây trồng. 
Chọn giống được coi là “sự tiến hoá do con người điều kiển” đã hình thành trong thực tiễn sản xuất trồng trọt và chăn nuôi. Kỹ thuật di truyền đã tạo nên cuộc cách mạng trong phương pháp luận về việc sử dụng nguồn gen. Bất kỳ một gen tốt nào không kể nó ở sinh vật nào đều có thể được sử dụng. Ví dụ, tơ của loài nhện là một loại protein có độ dẻo gấp 4 - 5 lần so với chất dẻo (như nylon) và độ chắc gấp 2 lần so với sợi thép cùng đường kính. Gen của protein này được đưa tạo dòng ở vi khuẩn để sản xuất ra protein tơ nhện siêu bền ở quy mô lớn (biodivn.blogspot.com).
Tài liệu tham khảo: Đa dạng Sinh học và Bảo tồn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005. 

Xem thêm: 

0 nhận xét:

Post a Comment

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!