07/06/2014

Quản lý Đa dạng Sinh học trong các khu bảo vệ thiên nhiên

Phân khu quản lý trong Khu Bảo tồn Hoàng Liên Văn Bàn - Lào Cai
(Tiếp theo: ) 
(biodivn.blogspot.com) Các khu bảo tồn được thành lập như đã nói ở trên là có tính chất pháp lý, hợp pháp vì thế mà việc quản lý các khu bảo tồn phải được quy định rõ ràng, nhằm mục đích bảo tồn được các loài động thực vật và các nguồn tài nguyên thiên nhiên có giá trị trong khu bảo tồn. Tuỳ theo loại khu bảo tồn mà cách quản lý cũng khác nhau. Tuy nhiên, hầu hết trong tất cả các khu bảo tồn đều được thực hiện một số công việc mà không gây nguy hại đến khu bảo tồn như nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái mà không tiêu giảm tài nguyên. Tại nhiều khu bảo tồn, cũng được phép sử dụng bền vững các tài nguyên có khả năng tái tạo một cách bền vững.

Nhìn chung, trên thế giới, mỗi một loại trong sáu loại hình khu bảo tồn mà IUCN xếp loại có cách quản lý khác nhau, đảm bảo được việc bảo tồn ĐDSH đồng thời có thể thỏa mãn một số yêu cầu khác. Chính việc xếp loại các khu bảo tồn là để xác định đúng đắn các mục tiêu cần đạt được của từng khu bảo tồn và có những biện pháp hữu hiệu để đạt được các mục tiêu đó. Theo cách hiểu trên, thì Khu bảo tồn loại I: Khu bảo tồn nghiêm ngặt, cần đạt được mục tiêu là giữ được các sinh cảnh, các HST tương đối nguyên vẹn, như là một mẫu thiên nhiên hoang dã không bị tác động của các hoạt động của con người ví dụ kiểu rừng nhiệt đới, kiểu đồng cỏ, kiểu rặng san hô...Khi quyết định thành lập một khu bảo tồn nghiêm ngặt, chính phủ có ý định là giữ được nguyên vẹn tính ĐDSH của vùng đó để tìm hiểu, biết rõ hơn về nguồn tài nguyên thiên nhiên ở đó. Dựa vào những hiểu biết thu được qua công tác nghiên cứu để đề xuất những biện pháp hữu hiệu sử dụng tốt hơn, và bền vững những vùng tương tự, hay hồi phục lại những vùng tương tự đã bi suy thoái qua quá trình khai thác không bền vững. 
Lấy một ví dụ khác, Khu bảo tồn loại V: Khu bảo tồn cảnh quan đất liền hay cảnh quan biển có mục đích giữ được một số HST đã được tạo hình qua các tác động của con người trong một thời gian dài và có giá trị nhất định về văn hoá. Nói chung, các vùng như thế thường đã có những biện pháp sử dụng đất lâu dài một cách có hiệu quả hay có công trình văn hoá có giá trị, hay có những di tích mà nhân dân địa phương mong muốn được giữ lại. Cách quản lý ở đây là nhằm động viên nhân dân địa phương gìn giữ và kiện toàn cách sử dụng đất đai đã có, bảo tồn và hồi phục các di tích. Tại đây cũng có thể thực hiện công tác trồng cây gây rừng, hồi phục thiên nhiên, bảo tồn ĐDSH ở các trang trại hoặc các khu rừng ở xung quanh vùng.
Loại khu bảo tồn mới được xếp loại vào năm 1994 là Khu bảo tồn loại VI: Khu bảo tồn quản lý tài nguyên thiên nhiên là để công nhận nhiều vùng mà cộng đồng nhân dân địa phương đã giữ được khả năng sử dụng một cách lâu dài tài nguyên sinh học mà không gây nhiều biến đổi đến thiên nhiên.
Nói chung có nhiều khu bảo tồn được cấp cao nhất của nhà nước quản lý như tên goi: VQG, Công trình thiên nhiên quốc gia ..., tuy nhiên cũng có nhiều khu bảo tồn được nhà nước cấp bang, tỉnh quản lý và cũng có một số khu bảo tồn do tư nhân hoặc tổ chức phi chính phủ quản lý.
Xác định các mục tiêu quản lý 
Khi xây dựng dự án khu bảo tồn thiên nhiên, dù với mục tiêu chủ yếu là bảo tồn ĐDSH hoặc bảo tồn ĐDSH cùng với một vài mục tiêu khác nữa, thì bao giờ cũng phải bắt đầu bằng hai bước như sau: xác định các mục tiêu quản lý cho vùng đó, và chọn lựa khu vực cần bảo tồn cho phù hợp.
Để có thể gìn giữ được một biom hay một HST đặc biệt, thì việc giảm bớt các nhiễu loạn từ các lực tự nhiên và có sự can thiệp một cách khoa học là có thể hạn chế được sự khai thác tài nguyên trong vùng. Dù ở đâu, thì các khu bảo tồn được chọn lựa đều là những nơi ít nhiều đã có sự tác động của con người, theo cách truyền thống hay do dân di cư mới đến và đang khai thác một cách khẩn trương. Trong trường hợp như thế thì để bảo tồn ĐDSH một cách hữu hiệu cần thiết phải có sự cộng tác với nhân dân và cộng đồng địa phương, những người đang sinh sống trong và xung quanh khu bảo tồn.
Có hai vấn đề cơ bản cần phải lưu ý để chọn lựa cách quản lý thích hợp:
- Cách can thiệp là cần thiết trong hệ thống quản lý khu bảo tồn. Để có cách can thiệp thích hợp cần phải đánh giá hiện trạng và xu hướng diễn biến tài nguyên để xác định mục tiêu quản lý, đề xuất được các hoạt động cần thiết và để đạt được mục đích gì. Nếu mục tiêu chính là bảo tồn ĐDSH thì các mục tiêu khác hoặc việc sử dụng tài nguyên phải xoay quanh mục tiêu chính trên. Hay ngược lại, nếu việc khôi phục vùng đầu nguồn, tổ chức du lịch hay khai thác bền vững một số tài nguyên cho nhân dân địa phương là mục tiêu chính thì việc quản lý cho bảo tồn ĐDSH phải hạn chế đến mức vừa phải.
- Nếu việc bảo tồn ĐDSH theo cách nguyên vị là mục tiêu chính, thì việc bảo tồn tính hoang dã cho vùng không thể thực hiện đồng thời với việc tổ chức du lịch một cách tự do và cũng không thể dùng các cây ngoại lai trong trường hợp phải hồi phục thiên nhiên trong khu vực.
Bước cơ bản thứ hai là công việc chọn lựa vùng bảo tồn. Với mục tiêu đã đề ra (ví dụ một vùng đại diện là ĐNN ở gần bờ biển để bảo tồn các chủng quần động vật hiếm, hay bảo vệ một vùng đất còn lưu giữ một vài giống lúa hoang dã) , phải chọn lựa một khu vực địa lý thích hợp. Để xác định được khu vực cần bảo vệ cần thiết phải lưu ý một số yếu tố như: loài gì cần bảo vệ, chủng quần và quần xã cần thiết như thế nào; vùng đất hoặc vùng biển cần thiết (diện tích) đủ để bao gồm được các điều kiện, các kiểu sinh cảnh, các quá trình sinh thái học đại diện cho vùng; địa điểm xây dựng cở sở hạ tầng ở đâu và cần có các trang thiết bị gì... 
Có nhiều khó khăn sẽ gặp phải trong quá trình quản lý các khu bảo tồn. Tuỳ điều kiện của từng nước mà những khó khăn cần vượt qua sẽ khác nhau. Làm thế nào để có thể quản lý được các khu bảo tồn đã có để gìn giữ được ĐDSH một cách hiệu quả nhất? Có hai kiểu vấn đề được nêu lên là:
- Các khu bảo tồn thiên nhiên hiện có đã được xác định mục tiêu, ví dụ để tổ chức du lịch hay để khai thác một dạng tài nguyên thiên nhiên nào đó. Trong trường hợp này, một chương trình nghiên cứu cần được xây dựng để làm rõ và khảng định lại mục tiêu của khu bảo tồn, từ kết quả đó có thể phải thay đổi cách tổ chức và cả cách quản lý nữa.
- Khu bảo tồn đã xác định mục tiêu một cách đúng đắn, nhưng cũng cần có những nghiên cứu tiếp theo để xác định được những biện pháp làm tăng hiệu quả bảo tồn như bổ sung những vấn đề xã hội trong cách quản lý như quản lý có sự tham gia của công đồng địa phương, cần phải có những điều chỉnh về diện tích để bao gồm được những sinh cảnh cần thiết cho các loài mục tiêu, các yếu tố sinh thái, cách quản v.v..
Để thực hiện tốt công việc này, cách lý tưởng nhất là nên giao cho một tập thể các nhà khoa học, nhà quản lý và có sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương trong việc nghiên cứu để đưa ra những kiến nghị cần thiết về các mặt, nhằm nâng cấp các khu bảo tồn đã có.
Có thể làm theo 10 điều hướng dẫn sau đây để thực hiện công việc nói trên:
- Số lượng khu bảo tồn cần thiết. Số lượng các khu bảo tồn càng nhiều càng có điều kiện thuận lợi để bao gồm được nhiều dạng về sinh cảnh và các kiểu chuyển tiếp có trong một quốc gia. Số lượng nhiều khu bảo tồn cũng có thể tránh khỏi các rủi ro do dịch bệnh, thiên tai hay sự quấy nhiễu của các hoạt động của con người. Nếu mỗi vùng sinh học của quốc gia chỉ có một khu bảo tồn thì khó tránh khỏi các rủi ro nói trên;
- Kích thước khu bảo tồn. Điều lý tưởng là khu bảo tồn đạt được diện tích đủ rộng để đại diện được biom đối tượng cùng với các sinh cảnh và các yếu tố sinh thái có liên quan. Tất nhiên, cả số lượng và kích thước khu bảo tồn còn phải tuỳ thuộc vào điều kiên kinh tế, xã hội như mật độ dân số, sự sở hữu của dân địa phương về đất nông nghiệp, lâm nghiệp cần thiết, và các nhu cầu khác về nguyên vật liệu nhữ gỗ, củi, các sảm phẩm ngoài gỗ.. để tiêu dùng tại chỗ cho nhân dân địa phương (không phải để buôn bán);
- Mối liên quan với các yếu tố thiên nhiên khác. Khu bảo tồn cần phải có mối liên quan với cảnh quan và nguồn nước trong vùng, tạo điều kiện đáp ứng được những nhu cầu của các chủng quần động vật như có đủ nguồn nước cho các mùa trong năm, hoặc thực hiện được những tập tính hoạt động hàng ngày hay theo mùa trong năm, hay đáp ứng được sự thay đổi khí hậu hoặc các yếu tố khác. Cũng cần phải xem xét đến việc thành lập các hành làng nếu cần thiết (sẽ nói đến sau);
- Phân khu quản lý. Trong một khu bảo tồn cần thiết phải phân ra các khu chức năng khác nhau, có cách quản lý phù hợp. Khu có ý nghĩa quan trọng nhất về nguồn gen và ĐDSH phải là khu ít có hoạt động của con người. Khu dành cho nghiên cứu khoa học cũng cần có biện pháp bảo vệ đặc biệt. Khu vực sử dụng vào việc giáo dục, du lịch, giải trí cần có cơ sở hạ tầng phù hợp, đường đi lại thuận lợi, có bảng chỉ dẫn rõ ràng... Các khu vực có nhân dân sinh sống là những khu vực ít có điều kiện để bảo tồn ĐDSH, tuy nhiên cũng cần phải giảm thiểu mọi khả năng ảnh hưởng đến mục tiêu bảo tồn (Miller 1980);
- Các tiện nghi và hạ tầng cơ sở. Các tiện nghi và hạ tầng cơ sở xây dựng trong các khu bảo tồn phần nào sẽ ảnh hưởng đến ĐDSH vì vậy phải xem xét hết sức thận trọng về thiết kế, vị trí để không gây ảnh hưởng đến cảnh quan và công tác bảo tồn;
- Chương trình nghiên cứu và quan trắc. Công tác quản lý khu bảo tồn chỉ có thể thực hiện được một cách có hiệu quả mỗi khi có đầy đủ các thông tin và hiểu biết về khu bảo tồn đó. Vì thế chương trình nghiên cứu và quan trắc phải là một hợp phần quan trọng của công tác quản lý. Ví dụ như các thông tin về diễn thế của cây cỏ, sự di chuyển theo mùa của các loài chim, các loài móng guốc có trong khu bảo tồn, sự thay đổi của các dòng chảy sông suối, các nơi kiếm ăn, nơi nghỉ đêm của các loài khỉ vượn giúp cơ quan quản lý đề ra được các hành động đúng đắn để bảo vệ các loài khỏi sự tác động của con người. Thêm vào đó, để công tác nghiên cứu đạt kết quả cao hơn, cũng nên kết hợp công tác nghiên cứu của khu bảo tồn với công tác nghiên cứu của toàn vùng;
- Chương trình quản lý nguồn tài nguyên sinh học. Cũng cần lưu ý đến kế hoạch can thiệp cần thiết (ví dụ đốt đồng cỏ, diệt trừ các loài ngoại nhập, tổ chức nuôi nhốt sinh sản, v.v..). Cũng có thể cần tổ chức việc bảo vệ một số loài, sinh cảnh hay HST đặc biệt bằng những biện pháp riêng. Tất cả những hoạt động nêu trên phải dựa vào kết quả nghiên cứu và quan trắc có được;
- Chương trình giáo dục. Các khu bảo tồn là nơi có điều kiện tối ưu để tổ chức giáo dục mọi người về thiên nhiên và mối liên quan giữa thiên nhiên và con người, đến sự phát triển bền vững. Một số nước như Costa Rica đã sử dụng hệ thống các khu bảo tồn là mục tiêu số một để phát triển tài năng của dân tộc;
- Chương trình quản lý sử dụng. Như đã nói là trong số 6 loại hình khu bảo tồn do IUCN đề ra có một số khu bảo tồn có mục tiêu là việc sử dụng trực tiếp của con người (du lịch, giáo dục, nghiên cứu, quan trắc, nguồn tài nguyên di truyền, khai thác các sản phẩm phi gỗ, khai thác gỗ, tổ chức săn bắn, câu cá...) hoặc gián tiếp (dịch vụ sinh thái, như nguồn nước, không khí trong lành, điều hoà khí hậu, bảo vệ đất và các chu trình sinh địa hoá v.v..). Hiệu quả của ĐDSH (gen, loài, sinh cảnh, HST, cảnh quan..) cho lợi ích sử dụng nói trên tuỳ thuộc rất lớn vào chế độ quản lý của từng khu bảo tồn;
- Chương trình quản lý vùng sinh học. Các khu bảo tồn là hợp phần của một vùng cảnh quan đất liền hay cảnh quan biển lớn hơn. Vì những nguyên nhân sinh học, sinh thái, kinh tế, văn hoá-xã hội mà các khu bảo tồn không thể thực hiện được chức năng và các mục tiêu của mình nếu ban quản lý xem khu bảo tồn như là một ốc đảo riêng biệt tách ra khỏi cả vùng rộng lớn luôn bị biến động do hoạt động của con người mà ở đó nguồn nước và các tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt dần. Việc quản lý khu bảo tồn mà mục tiêu chính là bảo tồn ĐDSH chỉ có thể thành công khi có được sự cộng tác chặt chẽ với nhân dân, chính quyền, các cộng đồng dân cư địa phương và cả các doanh nghiệp có liên quan. Việc thoả thuận với các tổ chức này cần phải bảo đảm được rằng việc quản lý các tài nguyên sinh học và HST các vùng xung quanh là phù hợp, nhất quán với công tác bảo tồn. (biodivn.blogspot.com).
Tài liệu tham khảo: Đa dạng Sinh học và Bảo tồn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005. 

Xem thêm: 

0 nhận xét:

Post a Comment