07/06/2014

Quản lý các sinh cảnh bị phân cách

Việc xây dựng những cây cầu xanh như thế này sẽ giúp cho các động vật hoang dã di chuyển giữa các vùng bị phân cách dễ dàng hơn. Ảnh thiết kế 1 cây cầu cho động vật tại  West Vail Pass, Colorado theo http://www.bustler.net/
(Tiếp theo: ) 
(biodivn.blogspot.com) Các HST tự nhiên bị phân cách thường là một trong những trở ngại có tầm quan trọng nhất đối với bảo tồn ĐDSH. Việc phân cách thường xẩy ra tại những vùng mà các hoạt động của con người như phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp hay xây dựng khu dân cư, đã phá đi một phần khá lớn các HST tự nhiên và chỉ còn để sót lại những mảnh HST tư nhiên cách rời nhau. Giao thông đường bộ, đường sắt, đường dây tải điện, đường dẫn dầu, khí đốt cũng phần nào chia cắt các HST tự nhiên, mặc dầu bản thân các nhân tố đó không chiếm nhiều diện tích của các sinh cảnh. 
Những vấn đề liên quan đến HST bị phân cách 
Đã có khá nhiều nghiên cứu về cách giải quyết các HST bị chia cắt. Phần lớn tập trung vào việc giải quyết các loài và các chủng quần khi HST bị chia cắt, thu hẹp lại và phân cách nhau thành những mảnh nhỏ tương tự như trường hợp các ốc đảo. Nhiều cuộc tranh luận tập trung vào vấn đề này và cho rằng số lượng ít khu bảo tồn với diện tích rộng sẽ tốt hơn là nhiều khu bảo tồn mà diện tích mỗi khu lại bé, và các khu bảo tồn có liên kết với nhau bằng các hành lang sẽ tốt hơn các khu bảo tồn nằm riêng lẽ. Cho đến nay vẫn còn ít nghiên cứu liên quan đến tác động của việc phân mảnh các HST với vấn đề cấu trúc và chức năng của các HST tự nhiên và được quản lý. 
Cũng có nhiều công trình nghiên cứu tập trung vào vấn đề tác động của kích thước và sự cách ly của các sinh cảnh đối với hệ sinh vật tại các khu vực nhỏ hẹp. Kết quả cho thấy các khu vực nhỏ hẹp, về lý thuyết cũng tương tự như các ốc đảo và sự phát triển của các hệ sinh vật cũng tuân theo các quy luật phát triển của địa sinh vật ốc đảo (Diamond, 1975; Wilson và Willis, 1975). Cũng tương tự như sự diễn biến địa sinh vật xẩy ra khi có sự giảm bớt kích thước và sự cách ly của các sinh cảnh, sự phân cách các sinh cảnh cũng có tác động rất lớn đối với hệ sinh vật sinh sống tại các sinh cảnh đó. 
Phần lớn các công trình nghiên cứu về hệ thống bị phân mảnh nhỏ tập trung vào các mảnh riêng lẻ, còn quản lý bảo tồn cũng chỉ mới thực hiện trong ranh giới từng mảnh. Tuy nhiên, các mảnh quần thể thực vật bị phân cách chiếm tỷ lệ rất nhỏ của cảnh quan và thường bị ảnh hưởng rất mạnh bởi các hệ thống nông nghiệp rộng lớn ở quanh vùng. Điều thay đổi quan trọng nhất ở đây là chế độ thuỷ văn của cả vùng, do tác động của hệ thực vật địa phương bị phân cách nhau thành từng mảnh. Ví dụ như khi mở rộng nông nghiệp trồng cây công nghiệp ở các tỉnh Tây Nguyên để trồng cà phê, chè mà nhiều khu rừng đã bị phá huỷ. Chế độ thuỷ văn ở đây đã thay đổi đáng kể gây xói mòn, lũ lụt trong mùa mưa và khô hạn trong mùa khô, mức nước ngầm cũng vì thế mà hạ thấp. Các hoạt động kinh tế như phát triển nông nghiệp xung quanh khu bảo tồn đã tác động đến khu bảo tồn, không những do chế độ thuỷ văn bị thay đổi mà còn tác động đến hệ động vật và thực vật nữa. Khu bảo tồn cây thông nước ở tỉnh Gia Lai là một ví dụ. Khi cây cà phê phát triển, hệ thực vật tự nhiên bị thay đổi, khu vực dành riêng để bảo tồn cây thông nước hẹp dần, quần thể cây thông nước không đủ điều kiện phát triển, hao mòn dần, đồng thời nguồn nước cần thiết cho cây thông bị khô cạn và cây thông nước đang đứng trước nguy cơ diệt vong (Võ Trí Chung, 2004). 
Những điều thảo luận ở trên chỉ ra rằng HST bị phân cách không phải chỉ đơn giản là hiện tượng thu nhỏ diện tích và bị tách xa nhau, mà kèm theo là hàng loạt những tác động khác nữa. Thực ra rất khó hiểu được các động lực đó, vì rằng chúng ta không thể phân biệt được các tác động tự thân của việc bị phân cách và tác động gây ra do ảnh hưởng của cả hệ thống phức tạp ở xung quanh. Kết quả nghiên cứu được thực hiện ở các khu rừng bị phân cách ở Mexico chứng tỏ rằng sự phục hồi và cấu trúc thực vật bị thay đổi ở đây không phải tự thân sự phân cách mà chính là do sự giảm sút các loài ăn cỏ cở lớn (Dirzo và Miranda, 1990; Dirzo, 1992). 
Nếu không hiểu được động lực các HST nguyên vẹn, không bị phân cách, chúng ta khó lòng đề ra được các biện pháp phù hợp để quản lý các khu vực bị phân cách. 
Mục tiêu chính của việc bảo tồn và quản lý các sinh cảnh thiên nhiên bị phân cách là tìm được các biện pháp làm giảm bớt các tác động xấu từ các vùng xung quanh lên khu bị phân cách, mở rộng thêm về diện tích nếu có thể được và tạo mối liên hệ với các phần khác của sinh cảnh. Mỗi khi có sự phân cách thì điều đầu tiên là phải bảo vệ hệ thực vật tự nhiên trong khu vực khỏi bị suy thoái, dù chưa có hiểu biết đầy đủ về hệ thực vật ở đây. Điều đó có nghĩa là các vùng đại diện cho các HST điển hình được bảo vệ càng rộng càng tốt. Nên xây dựng vùng đệm quanh các vùng lõi, và nếu có thể nên xây dựng các hành lang nối các vùng lõi lại với nhau. 
Cũng cần chú ý đến tác động của nhân dân địa phương. Để giải quyết vấn đề khó khăn này cần thiết phải xây dựng vùng đệm và phải có sự cộng tác rất mật thiết với các cộng đồng địa phương, giúp đỡ họ cải thiện cuộc sống, nâng cao nhận thức và tạo điều kiện để họ sử dụng vững bền tài nguyên thiên nhiên vùng đệm như là một hợp phần liên quan mật thiết với khu bảo tồn và từ đó cộng đồng địa phương cũng được hưởng lợi và tự nguyên tham gia tích cực vào công tác bảo tồn (Võ Quý, 1997). 
Các hành lang giữa các khu vực bi phân cách 
Các động vật, nhất là các động vật lớn thường có sự di chuyển định kỳ trong vùng cảnh quan đủ rộng lớn để thực hiện các chu trình sinh học của loài đó. Nhiều khu bảo tồn có diện tích hẹp không đủ rộng để có thể bảo đảm sự sống còn của một số chủng quần loài hoang dã, vì trong khu bảo tồn không có đủ các sinh cảnh cần thiết để chúng thực hiện được chu trình sống cần thiết : đáp ứng nhu cầu về thức ăn, sinh sản, hay khi thay đổi khí hầu, chế độ thuỷ văn. Các hành lang có hệ thực vật tự nhiên nối giữa các khu bảo tồn hẹp là để giải quyết nhu cầu đó. Vì thế hành lang là một hợp phần quan trọng của hệ thống khu bảo tồn. Do hành lang thường dài và hẹp, nên rất dễ bị tác động của vùng phía ngoài như xâm lấn của cỏ dại, côn trùng phá hại và cả tác động của nhân dân địa phương nữa. Vì thế việc quản lý các hành lang nhiều khi còn khó khăn hơn cả quản lý khu bảo tồn và cũng rất tốn công của. Khi xây dựng hành lang giữa các khu bảo tồn phải xác định rõ mục tiêu dùng cho loài nào và vào lúc nào để có tính toán kỹ lưỡng. Việc xây dựng hành lang giữa các khu bảo tồn một cách đơn giản, không có kế hoạch và xác định mức độ cần thiết là không thiết thực khi ngân sách dành cho khu bảo tồn còn rất hạn hẹp.(biodivn.blogspot.com).
Tài liệu tham khảo: Đa dạng Sinh học và Bảo tồn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005. 

Xem thêm: