Phát hiện loài Miliusa mới ở Việt Nam

 Loài mới Miliusa astiana, có tên Việt Nam là Cây-Dú-Bò, phát hiện ở Nha Trang. Hình theo Nordic Journal of Botany, 2014.
(biodivn.blogspot.com) Một nhóm nghiên cứu gồm Tanawat Chaowasku and Paul J. A. Keßler ở Hà Lan vừa công bố 3 loài mới thuộc chi Miliusa, họ Na Annonaceae được phát hiện từ Việt Nam và Cam Pu Chia. Công bố này được đăng tải trên tạp chí Nordic Journal of Botany ở bản Early View. Tổng quan về chi Miliusa ở Campuchia và Việt Nam đã được đánh giá lại: ở mỗi quốc gia có 6 loài thuộc chi này trong đó có 3 loài mới cho khoa học được mô tả. Một loài ở Campuchia (Miliusa cambodgensis sp. nov.), và hai loài khác ở Việt Nam (M. astiana and M. ninhbinhensis spp. nov.). Thêm vào đó, danh pháp khoa học và các thông tin liên quan về các loài thuộc chi Miliusa ở 2 quốc gia này cũng được cung cấp, kèm theo đó là khoá định tên khoa học loài của chúng.
Chi Millusa ở Việt Nam hiện có 6 loài M. velutina; M. ninhbinhensis sp. nov.; M. balansae; M. baillonii; M. banghoiensis  và M. astiana sp. nov. Khoá định loại đến loài của chi này được đưa ra ở cuối bài. 
Loài mới Miliusa astiana có tên Việt Nam là Cây-Dú-Bò, được phát hiện ở Khánh hoà, trên đồi có độ cao chừng 100 m so với mực nước biển. Chúng là loài cây bụi, hoặc gỗ nhỏ, cao 2 m, hoa màu vàng, ra hoa vào tháng Tư, quả ăn được.
Loài mới Miliusa ninhbinhensis được phát hiện ở Vườn Quốc Gia Cúc Phương, Ninh Bình. Là loài cây gỗ nhỏ, cao 4 đến 12 m. Hoa màu trắng xỉn, đằng sau hơi xanh.
Ngoài ra nhóm nghiên cứu cũng mô tả một loài mới từ Cam Pu Chia là Miliusa cambodgensis. (biodivn.blogspot.com).

Miliusa cambodgensissp. nov. (Annonaceae) from Cambodia 
and M. astiana, M. ninhbinhensisspp. nov. from Vietnam

Tanawat Chaowasku and Paul J. A. Keßler
Miliusa astiana Chaowasku & Kessler sp. nov. 
Type: Poilane 4694, fl. & fr. (holotype: P (barcode P00160856), isotypes: BO, P), Vietnam, Nha Trang, Hoa Cat, Sep 1922.
The epithet is selected to honour Madame Suzanne Jovet-Ast (1914–2006) who actively studied and described many southeast Asian Annonaceae.
Shrubs or trees, ca 2 m tall. Young twigs puberulous. Leaves subsessile, blade (broadly) elliptic, 2.0–6.8 x 1.2–3.1 cm; base subcordate or obtuse, sometimes slightly asymmetrical; apex obtuse to acute; lamina glabrous on both sides; upper surface of midrib slightly sunken, almost glabrous to puberulous, lower surface of midrib slightly raised, almost glabrous to appressed-puberulous; secondary veins 10–11 per side, angle with midrib 41°–57°at the middle part of blade. Flowers usually in 2-flowered inflorescences, terminal developing to internodal; peduncles 0.4–1.5 cm long [ca 0.4 cm long in fruit], glabrous, usually thickened in fruit; inflorescence axes inconspicuous when present; pedi-cels 0.6–1.2 cm long [ca 1.0 cm long in fruit], (almost) glabrous, usually thickened in fruit; bract(s) of peduncles and inflorescence axes (1–)2–7, triangular, placed at top of peduncles (and along the inconspicuous inflorescence axes), sometimes caducous; pedicel bract 1 for each flower, triangular, placed at base to near the midpoint of pedicels, sometimes caducous. Sepals (broadly) triangular, 0.5–0.7  x 0.5–0.9 mm, slightly connate at base; their outside and mar-gin puberulous. Outer petals triangular, 1.0–1.5 x 1.0 mm; their outside and margin puberulous. Inner petals (broadly) ovate-triangular, 3.5–5.4 x 3.0–4.5 mm; their outside and margin puberulous, inside (almost) glabrous, sometimes with a semicircular to triangular discolouration zone observed inside near base when dry; base (not to) slightly saccate. Torus slightly conical. Stamens ca 24, ca 1.0 mm long. Carpels ca 12, ca 1.6 mm long; stigmas  capitate; ovaries puberulous; ovules 2, lateral, uniseriate. Monocarps 2–4, (sub)globose to irregular-shaped, 0.7–0.8 x 0.5–0.7 cm; surface smooth to slightly verruculose, glabrous; apex not apiculate; stipe 3.0–3.5 mm long, glabrous, attached obliquely to the monocarps. Seed(s) 1–2, subglobose, flattened on one side when 2 seeds present in a monocarp, 0.6–0.7  0.4–0.5 cm; surface smooth, light brown when dry; raphe grooved.
Distribution, habitat/ecology and phenology: Occurring in Vietnam (Khanh Hoa Province: Fig. 3); on small hills; on stony soil. Elevation: ca 100 m a.s.l. Flowering and fruiting: April, September.
Similar species: This species is morphologically close to M. banghoiensis Jovet-Ast. The new species principally differs in having (broadly) elliptic leaf shape, obtuse to acute leaf apex, and only 2 ovules per ovary, while M. banghoiensishas obovate leaf shape, usually emarginate leaf apex, and 3–4 ovules per ovary. Further, a groove of seed raphe is (clearly) visible on the monocarps when dry in M. astiana(Fig. 1f ) while it is never observed in M. banghoiensis. Both species belong to the M. velutinagroup sensu Chaowasku and Keßler (2013). Within this group, M. astianamight be sympatric to M. banghoiensisand/or M. velutina. The specimens Poilane 2948, 4694 (type of M. astiana) were formerly the syntypes of M. banghoiensis(Jovet-Ast 1940); the other syntypes of M. banghoiensisare Poilane 63, 8540, 9177, 9299, one of which (Poilane 63) was designated as the lectotype of M. banghoiensisby Bân (2000).
Field notes: Flowers yellow. Fruits edible.
Vernacular name: Cây-Dú-Bò (Annamite).
Additional specimens examined (paratypes): Herb. Pha. m-Hoàng-Hô. 5302 (P), Vietnam, unknown locality; Poilane 2948 (L, P), Vietnam, Nha Trang, Ile Tre, Apr 1922.

Loài mới Miliusa ninhbinhensis được phát hiện từ VQG Cúc Phương. Hình theo Nordic Journal of Botany, 2014.
Miliusa ninhbinhensis Chaowasku & Kessler sp. nov. 
Type: Soejarto et al. 11651, fl. (holotype: L (barcode L0333250)), Vietnam, Ninh Binh, Nho Quan, Cuc Phuong National Park, Sep 2000.
Etymology: Named after the Vietnamese Province (Ninh Binh) in which this species is thus far known to be endemic.
Trees, 4–12 m tall, 10–38 cm in diameter. Young twigs puberulous(-velvety). Leaves subsessile, blade narrowly elliptic-oblong, 3.4–11.0 x 1.1–2.9 cm; base subcordate, usually asymmetrical; apex (caudate-)acuminate; lamina glabrous above, glabrous to puberulous below; upper 
surface of midrib flat to slightly sunken, glabrous, lower sur-face of midrib slightly raised, (appressed-)puberulous; sec-ondary veins 14–23 per side, angle with midrib 38°–62°at the middle part of blade. Flower(s) solitary or in 2-flowered inflorescences, axillary; peduncles inconspicuous when present, bracts ca 2 when peduncles present, triangular to semicircular; pedicels 0.8–2.0 cm long [ca 1.4 cm long in fruit], glabrous, bracts 2–3 for solitary and each flower of 2-flowered inflorescences, triangular, placed at base and along the basal half of pedicels. Sepals triangular, 1.8–2.0 x 1.4–1.8 mm, connate at base, persistent in fruit; outside glabrous but margin puberulous. Outer petals triangular, 1.5–2.1 x 1.0–2.1 mm, persistent in fruit; outside and along margin puberulous. Inner petals (broadly) ovate(-triangular), 3.6–4.4 x 3.6–4.6 mm; outside puberulous and margin long-velvety but glabrous inside; glandular structures present inside near base, thickened, crescent-shaped, slightly finely warty; base not saccate. Torus subglobose. Stamens ca 29, ca 1.1 mm long. Carpels ca 12, ca 1.1 mm long; stig-mas (globose-)capitate; ovaries glabrous; ovule 1, basal. Monocarp(s) 1–8, ellipsoid-cylindrical, ca 1.4 x 0.7 cm; surface slightly verruculose, glabrous; apex not apiculate; stipe ca 7.0 mm long, (almost) glabrous. Seed 1, ellipsoid-cylindrical, ca 1.3  0.6 cm; surface and raphe not observed.
Distribution, habitat/ecology and phenology: Occurring in Vietnam (Ninh Binh Province: Fig. 3); in pri-mary forests on limestone hills with stunted trees 10.0–20.0 m tall. Elevation: 300–690 m a.s.l. Flowering: September–December, fruiting: October–December.
Similar species: Miliusa ninhbinhensisseems to be morphologically close to M. fusca Pierre. However, M. ninhbinhensisdiffers in having (slightly) larger inner petals (3.6–4.4  3.6–4.6 mm 
in M. ninhbinhensisvs 2.5–3.5  3.0–3.5 mm in M. fusca) and longer monocarps (ca 1.4 cm long in M. ninhbinhensis vs 0.8–1.0 cm long in M. fusca). Furthermore, the leaf shape of the former is narrowly elliptic-oblong with a sub-cordate base, whereas it is (broadly) elliptic to slightly (ob)ovate with a cuneate, obtuse to slightly rounded base in the latter. Both species belong to the M. mollisgroup sensu Chaowasku and Keßler (2013). Miliusa ninhbinhensisis allopatric to the other species of this group.
Field notes: Bark black–grey, smooth, slash white to dull brown. Flowers dirty white to dull pale green, black in center (  glandular structures).
Additional specimens examined (paratypes): All from the same vicinity as the type: Cuong et al. 701 (L), Dec 1999; 995 (L), Aug 2000; Mai Van Sinh MVX 07 (L), Oct 1999; Soejarto et al. 10415 (L, P), Nov 1998; 11288 (L), Dec 1999; 11290 (L), Dec 1999.

Loài mới Miliusa cambodgensis phát hiện ở Cam Pu Chia. Hình theo Nordic Journal of Botany, 2014.
Miliusa cambodgensis Chaowasku & Kessler sp. nov. 
Type: Poilane 28731, fl. (holotype: P (barcode P00495852), isotypes: L, P), Cambodia, Kg. Chhnang, Phnom Chom, Jan 1939.
Etymology: Named after Cambodia (Cambodge in French), where this species is endemic.
Description: Understory shrubs, 2–5 m tall, 8–9 cm in diameter. Young twigs curlily velvety. Leaves sessile, blade (narrowly) elliptic(-oblong), 3.6–10.0 x 1.7–3.8 cm; base cordate, always asymmetrical, often slightly clasping the twigs; apex (broadly) acute to (caudate-)acuminate; lamina glabrous on both sides; upper surface of midrib flat to slightly sunken, puberulous, denser on the basal half near twigs, lower surface of midrib raised, (puberulous-)velvety, denser on the basal half near twigs; secondary veins 18–20 per side, angle with midrib 60°–68°at the middle part of blade. FIower solitary, axillary; pedicels 0.7–2.0 cm long, puberulous-velvety near base, bracts 2–3, triangular, placed at base and along the basal half of pedicels. Sepals triangular, 1.0–1.5 x 1.0–1.5 mm, connate at base; margin puberulous-velvety, outside (almost) glabrous, inside glabrous. Outer petals triangular, 1.8–2.0  1.5–1.9 mm; both sides glabrous but margin puberulous. Inner petals  (broadly) ovate, 5.0–5.8 x 5.0–6.0 mm; both sides glabrous but margin curlily puberulous-velvety; both sides of margin somewhat recurved upward at anthesis; glandular structures present inside at base, thickened, x semicircular, slightly finely warty; base not saccate. Torus subglobose. Stamens ca 32, ca 1.0 mm long. Carpels ca 16, ca 1.1 mm long; stigmas globose to capitate; ovaries glabrous; ovule 1, (sub) basal. Monocarps unknown.
Distribution, habitat/ecology and phenology: Occurring in Cambodia (Kampong Chhnang Province: Fig. 3); in old forests with many tall trees; on granitic soil. Elevation: ca 1200 m a.s.l. Flowering: January.
Similar species: Miliusa cambodgensissuperficially resembles M. mollis, but primarily differs in having a more asymmetrical leaf base, larger inner petals (5.0–5.8  5.0–6.0 mm in M. cambodgensis vs 3.0–3.3  3.2–3.5 mm in M. mollis), more numerous stamens (ca 32 in M. cambodgensisvs 12–18 in M. mollis), and carpels per flower (ca 16 in M. cambodgensisvs 4–8 in M. mollis). Besides, the lower leaf surface of M. cambodgensis is glabrous, while it is densely hairy in M. mollis. The new species belongs to the M. mollisgroup sensu Chaowasku and Keßler (2013). It is allopatric to the other species of this group.
Field notes: Young leaves bright greenish–yellowish. Flowers cream or yellow.   (biodivn.blogspot.com)
Khoá định loại loài thuộc chi Miliusa ở Việt Nam:
Phiên bản cuối cùng của bài báo có thể tìm thấy trên:  

0 nhận xét:

Post a Comment

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!