27/06/2014

Hai loài ếch núi mới Kalophrynus ở Lâm Đồng


 Ếch núi ẩn Kalophrynus cryptophonus sp. nov. sinh sản trong thân tre rỗng. Ảnh Zootaxa, 2014.
(biodivn.blogspot.com) Mới đây tạp chí Zootaxa (số 3, tập 3796) đã công bố 2 loài Ếch núi phát hiện từ tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam. Hai loài Ếch núi mới thuộc chi Kalophrynus được phát hiện và mô tả từ phần phía nam của dãy núi Trường Sơn tại Việt Nam. Hai loài mới khác với tất cả đồng loại được biết đến trong đặc điểm hình thái và phân tích sinh học phân tử (mtDNA; phylogenetically) Chúng là một nhánh chị em  với loài Ếch núi thân lớn K. interlineatus (1009 bp, gen 16S rRNA, mtDNA). 
Cả hai loài này có chung những đặc điểm sau: mõm nhọn khi quan sát mặt lưng và bên, hơi dốc khi nhìn nghiêng; màng nhĩ riêng biệt, nhỏ hơn đường kính mắt; ngón chân màng vừa phải; có phình ở phía ngoài xương bàn chân; thiếu đường sọc sáng bên lưng. 
Loài mới Ếch núi ẩn Kalophrynus cryptophonus. Ảnh Zootaxa, 2014.
Loài mới Ếch núi ẩn Kalophrynus cryptophonus phát hiện từ Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng là một loài nhỏ. Chúng được phân biệt với các loài khác bởi kích thước giữa lưng (đỉnh mõm và hậu môn) dài 27,9-30,4 mm ở con đực, 23,4 mm con cái; khóe mắt không rõ ràng; con đực với gai nhọn hình nón lớn trên da bao phủ mép hàm dưới; chấm đen thường có trong khu vực bẹn, nhỏ, không có đường viền sáng; trước vòm miệng có gờ da ngắn, giới hạn phần trung gian của vòm miệng. 
Loài mới Ếch núi hòn bà Kalophrynus honbaensis.Ảnh Zootaxa, 2014.
Loài mới Ếch núi hòn bà Kalophrynus honbaensis từ Hòn Bà, tỉnh Khánh Hòa là một Kalophrynus cỡ trung bình, phân biệt với các loài khác bởi kích thước giữa lưng (đỉnh mõm và hậu môn) 26,7-36,8 mm ở con đực; khóe mắt riêng biệt; con đực không có gai phân biệt bên mép hàm dưới; chấm đen thường có trong khu vực bẹn, lớn; không có đường viền sáng khác nhau; trước vòm miệng gờ da phát triển, song song với phía sau.
Quá trình mô tả hình thái nòng nọc và con non của loài này dựa vào những mẫu vật nuôi. Thêm vào đó, một đánh giá tổng quan về sự phân bố của chi Kalophrynus ở Đông Dương được cung cấp trong bài báo (biodivn.blogspot.com)


Two new species of Kalophrynus Tschudi, 1838 (Anura: Microhylidae) from the Annamite mountains in southern Vietnam
ANNA B. VASSILIEVA, EDUARD A. GALOYAN, SVETLANA S. GOGOLEVA, NIKOLAY JR. A. POYARKOV
Abstract. We describe two new mountain-dwelling microhylid species of the genus Kalophrynus from the southern part of the Annamite Mountains in Vietnam. The two new species differ from all known congeners in morphological characters and mtDNA; phylogenetically, they form a sister clade to the large-bodied K. interlineatus (1009 bp, 16S rRNA gene, mtDNA). Both species share the following characteristics: snout pointed in dorsal and lateral views, slightly sloping in profile; tympanum distinct, smaller than eye in diameter; toe webbing moderate; outer metatarsal tubercle present; light dorsolateral line absent. Kalophrynus cryptophonus sp. nov. from Loc Bao, Lam Dong Province is a small-sized species distinguishing from its congeners by a combination of: SVL 27.9–30.4 mm in males, 23.4 mm in female; canthus rostralis indistinct; males with large sharp conical spines on the skin covering mandible margins and finely asperous nuptial pads on the dorsal surface of fingers I–III; dark ocelli in the inguinal region usually present, small, without a light border; anterior palatal dermal ridge short, restricted to medial part of palate. Kalophrynus honbaensis sp. nov. from Hon Ba, Khanh Hoa Province is a medium-sized Kalophrynus, distinguishing from its congeners by a combination of: SVL 26.7–36.8 mm in males; canthus rostralis distinct; males without distinguishable spines on the mandible margins nor the nuptial pads; dark ocelli in the inguinal region present, large, without a distinct light border, anterior palatal dermal ridge developed, parallel to posterior one. Kalophrynus cryptophonus sp. nov. reproduces in hollow bamboo stems; we describe larval morphology and bioacoustics of this species in relation to phytotelm breeding. A review of the distribution of the genusKalophrynus in Indochina is provided.
Tham khảo: 

Ghi chú từ biodivn.blogspot.com: Từ "Annam" xuất hiện do thời Trung Quốc xâm lược và đô hộ Việt Nam 1000 năm, chúng đã gọi nước ta bằng tên này. Nước Việt Nam không bao giờ chấp nhận tên "Annam" và coi đó là một sự sỉ nhục. Tiếc rằng báo chí nước ngoài đã không hiểu rõ và đặt tên bài báo hoặc loài mới như annam, Annamite hay Vietnamensis, điều đó hoàn toàn sai lệch và cần phải sửa.
Note from  biodivn.blogspot.com: Recently some paper articles or new species was named Annam, Annamite or Annamensis to refer the location that the species was found. But the term "Annam" was a phonetic transcription of the word "Ố nàm" which means the bad and ugly which the Chinese have used to call Vietnamese people during 1000 years under their domination. Vietnam had never accepted this term, so please don't use it for your future article. Many thanks.

0 nhận xét:

Post a Comment

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!