07/06/2014

Phân loại, Kích cỡ, Phân bố các khu bảo vệ thiên nhiên

Loài Thông pà cò Pinus fenzenlian (Pinus kwangtungensis) bị đưa vào Danh lục Đỏ thế giới ở mức Gần bị đe doạ (NT) hiện đang được bảo vệ tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ - Bắc Cạn (Ảnh 2010)
(Tiếp theo: ) 
(biodivn.blogspot.com) Theo tư liệu đãđược LHQ xây dựng vào năm 1993 (United Nations List of National Parks and Protected areas) và đã được Hội đồng các VQG và Khu bảo tồn thuộc IUCN công nhận vào năm 1994, thì hệ thống khu bảo tồn đã có mặt ở tất cả các vùng địa lý trên thế giới. Tư liệu này cũng cho biết diện tích khu bảo tồn, tỷ lệ phần trăm so với diên tích tự nhiên của từn vùng. Tuy nhiên diện tích khu bảo tồn ở mỗi vùng cũng khác nhau: Bắc Hoa Kỳ và châu úc, chiếm hơn 12% diện tích tự nhiên, Trung Hoa Kỳ 9%, Nam Hoa Kỳ, Nam và Đông Nam á hơn 6%, Bắc Âu- á 3,1%, châu Âu ít nhất chỉ có 0,9%. Trung bình của cả thế giới là 6%. Các khu bảo tồn được xác định theo các tiêu chí sau: kích cỡ, mục tiêu quản lý, và quyền lực của cơ quan quản lý như sau: 
- Kích cỡ. Với tính chất thực tiễn chỉ những khu bảo tồn có diện tích trên 10 km2 mới được công nhận, trừ các đảo đại dương có diện tích 1 km2 trở lên được bảo vệ toàn bộ. 
- Mục tiêu quản lý. Các mục tiêu quản lý đã được Hội đồng các VQG và Khu bảo tồn, IUCN/CNPPA đưa ra vào năm 1978, được sữa chữa vào năm 1993 và công bố vào năm 1994. Cách quản lý của IUCN có thể không trùng khớp với tên gọi các khu bảo tồn của các quốc gia. 
- Quyền lực của cơ quan quản lý. Trước kia, chỉ có những khu bảo tồn do các cơ quan có quyền lực cao nhất (chính phủ) mới được đưa vào danh sách của LHQ. Trong danh sách trên đây các khu bảo tồn do cấp vùng hay tỉnh quản lý cũng được kể đến. 
Danh sách các khu bảo tồn của LHQ chỉ là đại diện của một phần 37 000 khu bảo tồn mà Cơ quan theo rõi bảo tồn thế giới WCMC (World Conservation Monitoring Centre) ghi nhận. Đúng như vậy, vào năm 1994, chỉ có 9832 khu bảo tồn được công nhận có đủ các tiêu chí nói trên để đưa vào danh sách của LHQ và đến năm 1997 danh sách khu bảo tồn của LHQ đã tăng lên đến 12 754 khu. 
Khu bảo tồn nằm trong danh sách của LHQ là do WCMC thu thập qua các cơ quan quản lý, phối hợp với IUCN. Ba loại khu bảo tồn – khu dự trữ rừng, các khu dự trữ thiên nhiên tư nhân và các loại khu bảo tồn khác - không được đưa vào danh sách của LHQ, một phần do không đạt các tiêu chí đề ra hoặc chưa có đủ tư liệu để xem xét. Dù sao, các khu bảo tồn này cũng đã góp phần đáng kể vào công tác bảo tồn và phát triển bền vững. 
Sự phát triển hệ thống các khu bảo tồn cũng khác nhau tuỳ theo từng vùng, hoặc từng nước. Ví dụ các khu bảo tồn ở khu vực Bắc Phi chỉ chiếm 2,8% diện tích tự nhiên, trong lúc đó ở Bắc Hoa Kỳ chiếm 12,6%; Đức 24,6%, áo có gần 25,3%, Anh 18.9% diện tích là khu bảo bảo tồn, song tại một số nước có rất ít khu bảo tồn như Hy Lạp chỉ có 2%, Nga 1,2%, Thổ Nhĩ Kỳ 0,3%. 
Số liệu về khu bảo tồn của từng quốc gia và châu lục cũng chỉ là tương đối bởi vì đôi khi trên thực tế các đạo luật về bảo vệ các VQG và khu bảo tồn động vật hoang dã không được thực thi, trong khi nhiều khu vực thuộc khu dự trữ tài nguyên và các khu vực quản lý cho việc sử dụng đa mục đích trong thực tế lại được bảo vệ nghiêm ngặt. 
Về diện tích các khu bảo tồn cũng rất khác nhau. Nói chung có rất ít các khu bảo tồn có diện tích rộng, số lượng các khu bảo tồn nhỏ hẹp lại rất nhiều. Chỉ có 4 khu bảo tồn có diện tích lớn hơn 100 000 km2, nhưng lại chiếm khoảng 1,7 triệu km2 (chiếm 17% diện tích các khu bảo tồn trên thế giới). Khu bảo tồn lớn nhất trên thế giới là VQG Greenland rộng 972000 km2, chiếm 10% diện tích các khu bảo tồn. Các khu bảo tồn nhỏ hẹp có số lượng rất lớn, mà phần lớn được xác định rất cẩn thận để bảo vệ một số sinh cảnh đặc biệt, một số loài hoặc một số HST cần thiết phải bảo tồn. Nhiều nước, ví dụ ở khu vực Thái Bình Dương và Caribê, không có đủ diện tích để thành lập các khu bảo tồn đủ rộng trên đất liền với diện tích rộng hơn 10 km2, cho nên các khu bảo tồn ở đây không được đưa vào danh lục. 
Nói chung, ở nhiều nước, các khu bảo tồn sẽ khó vượt tỷ lệ 7% đến 10% diện tích mặt đất bởi vì nhu cầu của con người đối với tài nguyên thiên nhiên và đất đai rất lớn. Việc thành lập các khu bảo tồn đã đạt đỉnh cao vào những năm 1970-1975 rồi sau đó chững lại, có lẽ là do những vùng đất còn lại đã được chọn cho mục đích sử dụng khác (McNeely et al. 1994). 
IUCN đã đề ra việc phân chia các loại hình khu bảo tồn vào năm 1978, gồm có 10 loại theo mức độ và mục tiêu bảo vệ khác nhau: Khu bảo tồn cho nghiên cứu khoa học (hay khu bảo tồn thiên nhiên nghiêm ngặt); VQG; Công trình thiên nhiên (hay Thắng cảnh thiên nhiên); Khu dự trữ thiên nhiên (hay Khu bảo tồn động vật hoang dã); Khu bảo tồn cảnh quan; Khu dự trữ tài nguyên; Khu bảo tồn nhân chủng học (hay Khu lịch sử); Khu quản lý đa dạng; Khu bảo tồn Sinh quyển; và Khu di sản thế giới. Sau Hội nghị tại Caracas, Vênêzuêla của Hội đồng VQG và khu bảo tồn thiên nhiên, IUCN đã rút lại con 6 loại khu bảo tồn thiên nhiên : 
- Loại I: Khu bảo tồn nghiêm ngặt / Khu bảo tồn hoang dã. Bảo vệ và gìn giữ các quá trình tự nhiên không có sự tác động của con người để có được những mẫu môi trường thiên nhiên nguyên vẹn, nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, quan trắc môi trường, giáo dục và bảo tồn các nguồn tài nguyên di truyền trong tình trạng biến động và tiến hoá tự nhiên. Có hai loại phụ: Ia gồm những khu bảo tồn được quản lý chủ yếu cho nghiên cứu khoa học và quan trắc; loại Ib gồm các khu bảo tồn được quản lý chủ yếu để bảo tồn những vùng hoang dã còn nguyên vẹn; 
- Loại II: VQG. Bảo vệ các vùng thiên nhiên phong phú, đẹp có ý nghĩa quốc gia và quốc tế về khoa học, giáo dục và giải trí. Các khu bảo tồn này thường có diện tích rộng, ít chịu sự tác động của các hoạt động của con người và ở đó không cho phép khai thác các tài nguyên; 
- Loại III: Công trình thiên nhiên quốc gia/ các thắng cảnh tự nhiên. Chủ yếu bảo tồn các cảnh quan thiên nhiên đặc biệt của quốc gia. Các khu bảo tồn này thường có diện tích không lớn; 
- Loại IV: Khu bảo tồn các sinh cảnh/ Khu quản lý các loài. Chủ yếu bảo tồn các điều kiện thiên nhiên cần thiết để bảo vệ một số loài có ý nghĩa quốc gia, một nhóm loài, các quần xã sinh vật hay các đặc trưng vật lý của môi trường mà ở đấy các đặc trưng này cần được bảo vệ một cách đặc biệt để tồn tại được lâu dài; 
- Loại V: Khu bảo tồn cảnh quan đất liền hay cảnh quan biển. Chủ yếu bảo tồn các cảnh quan thiên nhiên đẹp có ý nghĩa quốc gia, đặc trưng cho sự tác động một cách nhịp nhàng của các hoạt động của con người và thiên nhiên, có thể sử dụng cho giải trí và du lịch. Đây là những cảnh vật văn hoá/thiên nhiên đẹp đẽ có giá trị cao và là nơi mà việc sử dụng đất đai theo truyền thống còn được lưu giữ ; 
- Loại VI: Khu bảo tồn quản lý tài nguyên thiên nhiên. Đây là loại khu bảo tồn mới được đề xuất, bao gồm những vùng được quản lý với mục tiêu bảo tồn lâu dài ĐDSH đồng thời sử dụng một cách bền vững các HST và tài nguyên thiên nhiên nhằm đảm bảo nhu cầu của các cộng đồng dân cư. Các khu bao tồn này thường có diện tích tương đối rộng và các HST còn ít bị biến đổi, và ở đây việc sử dụng tài nguyên theo cách truyền thống và bền vững được khuyến khich. 
Số loại khu bảo tồn cũng không đồng đều ở các nước. Loại V được dùng rộng rãi ở châu Âu, còn ở Nam Hoa Kỳ, nửa số khu bảo tồn lại thuộc loại II. ở châu úc, loại I và II chiếm đến 4% diện tích tự nhiên, nhưng vẫn còn nhiều HST điển hình của vùng này vẫn chưa được đưa vào hệ thống các khu bảo tồn. 
Tuy IUCN đã phân ra 6 loại khu bảo tồn như trên, nhưng không phải tất cả các nước đã theo cách phân loại trên để xây dựng hệ thống khu bảo tồn của nước mình. Một số nước có cách phân loại riêng, có thể nhiều loại hơn hay ít loại hơn. Tên gọi các khu bảo tồn trên thế giới cũng rất khác nhau và đến nay đã có đến 1.388 thuật ngữ khác nhau được sử dụng để chỉ những khu bảo tồn. 
Nước ta hiện nay hệ thống khu bảo tồn được gọi chung là rừng đặc dụng và chia ra làm 3 loại chính: VQG, Khu bảo tồn thiên nhiên và Khu bảo vệ cảnh quan. Đến tháng 2/2003, cả nước có 126 khu rừng đặc dụng với diện tích 2.541.675 ha được quy định và xác lập (theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ, các Bộ có liên quan và UBND các tỉnh). Hiện trạng, hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam được phân hạng như sau: 
Bảng 4.1. Hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam (Tính đến tháng 2 năm 2003)
TT
Loại
Số lượng
Diện tích (ha)
I
VQG
27
957.330
II
Khu Bảo tồn thiên nhiên
60
1.369.058

IIa. Khu BTTN dự trữ thiên nhiên
49
1.283.209
IIb. Khu BTTN bảo tồn loài/sinh cảnh
11
85.849
III
Khu Bảo vệ cảnh quan
39
215.287

Tổng cộng
126
2.541.675
Nguồn : Phòng Bảo tồn Cục Kiểm Lâm; tháng 12/2003. 
Cách sắp xếp này hiện này hiện nay đang được xem xét và tiếp tục hoàn thiện. Theo kết quả rà soát sưo bộ thì có khoảng 20 khu bảo tồn thiên nhiên đã được quy hoạch nhưng do không có tổ chức quản lý nên đã xuống cấp nghiêm trọng, không còn đủ tiêu chuẩn của rừng đặc dụng nữa. Rồi đây hệ thống khu bảo tồn Việt Nam sẽ phải được xem xét và phân hạng lại để có kế hoạch quản lý phù hợp. Hệ thồng phân hạng mới khu bảo tồn Việt Nam sẽ bao gồm các hạng sau (Chiến lược Quản lý Hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010): 
- VQG: Là khu bảo tồn được quản lý chủ yếu cho bảo vệ HST, nghiên cứu, giáo dục môi trường và giải trí; tương đương với Hạng II: VQG của bảng phân hạng của IUCN, 1994; 
- Khu bảo tồn thiên nhiên: Là khu bảo tồn được quản lý chủ yếu nhằm bảo vệ các HST và các loài, phục vụ nghiên cứu, giám sát, giải trí và giáo dục môi trường; Không có hạng tương đương với bảng phân hạng IUCN, nhưng gần với hạng III: Thắng cảnh tự nhiên; 
- Khu bảo tồn Loài và Nơi cư trú: Là khu bảo tồn được quản lý chủ yếu để bảo vệ môi trường và bảo tồn ĐDSH thông qua các biện pháp quản lý; tương đương với hạng IV: Khu bảo tồn Sinh cảnh/Quản lý các loài của bảng phân hạng IUCN; 
- Khu bảo tồn Cảnh quan: Là khu bảo tồn được quản lý chủ yếu cho mục đích bảo vệ các cảnh quan và vui chơi giải trí; tương đương với hạng V: Khu bảo tồn Cảnh quan của bảng phân hạng IUCN. 
Tuy số lượng các khu bảo tồn trên thế giới khá nhiều, và chưa có số liệu đầy đủ về tình trạng quản lý, nhưng trên thực tế việc quản lý của phần lớn các khu bảo tồn còn nhiều điều bất cập do thiếu cán bộ quản lý có trình độ, thiếu nguồn tài chính phù hợp. Vì thế mà tại nhiều khu bảo tồn còn xẩy ra những hiện tượng săn bắt và khai thác trộm các động vật hoang dã và cây rừng, du lịch thiếu quản lý, hay còn phải chịu sức ép của nhân dân địa phương như phát nương làm rẫy, làm đầm nuôi thuỷ sản v.v... 
Việc phân bố các khu bảo tồn theo vùng địa sinh vật cũng không đồng đều trên toàn thế giới. Trong số 9 832 khu bảo tồn được ghi trong danh lục của LHQ (năm 1994) có 8 564 khu nằm trong 192 tỉnh thuộc 8 vùng địa lý sinh vật do Udvardy đề xuất (1975). Mỗi tỉnh đại diện cho một trong 14 kiểu biom. Số 1 280 còn lại, phần lớn là các khu bảo tồn biển nên không được xếp vào trong hệ thống này. 
Bảng 4.2. Phân tích các khu bảo tồn thuộc các Vùng địa lý sinh vật theo Udvardy 1975
Vùng Địa lý sinh vật
Diện tích (km2)
Số khu bảo tồn
Diện tích bảo tồn (km2)
Tỷ lệ % được bảo tồn
Bắc địa
23 315 775
1920
288 335 396
12,37
Cổ địa (Palearctic)
51 915 285
3201
182 837 457
3,52
Phi nhiệt đới
22 158 701
638
127 518 926
5,75
Ân Độ-Mã Lai
7 534 895
886
61 268 745
8,13
Đại dương (Oceania)
1 036  754
107
8 162 598
7,87
Uc châu
7 719 450
627
38 592 509
5,00
Nam cực
12 948 311
242
7 692 585
0,59
Tân nhiệt đới
18 976 487
940
119 156 630
6,28
Không phân loại

1280
92 847 628

Bảng 4.2 là tóm tắt về các khu bảo tồn (về số lượng, diện tích, tỷ lệ phần trăm) phân phối theo tám vùng Địa sinh vật do Udvardy đề xuất. Theo mục tiêu đề ra của IUCN là diện tích các khu bảo tồn phải đạt được 10% diện tích tự nhiên, thì chỉ có vùng Bắc địa ( gồm Mexico, Hoa Kỳ, Canada và Greenland) là đạt được. Nếu tính đến các khu bảo tồn của 192 tỉnh của Udvardy thì chỉ có khoảng 25% khu vực địa sinh vật có trên 10% diện tích được bảo vệ. Tuy nhiên có điều bất cập khi sử dụng hệ thống của Udvardy để phân tích tính đại diện của công tác bảo tồn trên thế giới vì rằng kích thước của các tỉnh rất khác nhau. Ví dụ như một khu bảo tồn chỉ rộng khoảng 5000 hecta của tỉnh nhỏ Rừng Malagasy Thorn ở Mađagascar, có thể bảo về được một tỷ lệ khá rộng của khu vực này, trong lúc đó một khu bảo tồn cùng diện tích ở một tỉnh lớn như tỉnh Somalian ở Bắc Phi thì lại không đáng kể. 
Theo bảng 5.3 về các khu bảo tồn trên thế giới được phân bố theo các biom (số lượng và diện tích) chúng ta cũng có thể thấy được tình hình về công tác bảo tồn trên thế giới. Biom là một miền đất tương đối rộng lớn trong đó quần xã động vật và thực vật có dạng sống và có các điều kiện môi trường giống nhau. Đó là đơn vị địa lý sinh vật lớn nhất và được gọi tên theo kiểu ưu thế của thảm thực vật, như rừng mưa nhiệt đới, đồng cỏ...Theo bảng V-3 thì biom đồng cỏ ôn đới chỉ có không đầy 1% diện tích được bảo vệ, trong lúc đó biom rừng mưa á nhiệt đới và ôn đới lại được bảo vệ gần 10% diện tích. 
Nhìn chung sự phân bố các khu bảo tồn theo các biom cho ta thấy được kiểu biom nào được bảo vệ tốt nhất và cần tập trung xây dựng thêm các khu bảo tồn ở những biom nào. Tuy nhiên cũng cần phải nói thêm rằng chất lượng bảo tồn cũng còn tuỳ thuộc nhiều vào cách quản lý của từng khu bảo tồn và cách bảo tồn theo biom cũng có nhiều điều khác với bảo tồn theo sinh cảnh. Một khu bảo tồn trong biom rừng mưa nhiết đới không nhất thiết phải có rừng mưa nhiệt đới trong đó, và rừng mưa nhiệt đới lại có thể có trong khu bảo tồn thuộc biom hệ đảo hỗn hợp (mixed island systems). Theo Udvardy thì Indonêxia, bán đảo Malaysia, Philipin là hệ đảo hỗn hợp mà không phải rừng mưa nhiệt đới. Cũng như các tỉnh địa sinh vật, diện tích của các biom cũng rất khác nhau, ví dụ tại vùng Tân nhiệt đới (Neotropics), biom rừng mưa nhiệt đới chiếm diện tích khá lớn (1/4 diện tích toàn vùng), trong lúc đó biom hệ thống ao hồ (hồ Titicaca ở biên giới Peru và Bolivia) lại rất bé. Cũng vì thế mà các khu bảo tồn cũng được quản lý theo mức độ khác nhau. 
Bảng 4.3. Phân bố các khu bảo tồn theo kiểu biom

Kiểu Biom
Diện tích (km2)
Số lượng
Diện tích (km2)
%
Rừng ẩm nhiềt đới
10 513 210
506
53 833 388
5,1
Rừng mưa á nhiệt đới
3 930 979
899
36 629 731
9,3
Rừng lá kim ôn đới
15 682 817
429
48 722 746
3,1
Rừng khô nhiệt đới
17 312 538
799
81 755 123
4,7
Rừng lá rộng ôn đới
11 216 660
1507
35 823 999
3,2
Rừng thuong xanh khô hạn 
3 757 144
776
17 758 448
4,7
Sa mạc nóng/ nóng vừa
24 279 842
300
98 400 670
4,1
Sa mạc lạnh
9 250 252
136
36 472 009
3,9
Quần xã đồng rêu
22 017 390
78
164 504 267
7,5
Đồng cỏ nhiệt đới
4 264 833
59
23 512 784
5,5
Đồng cỏ ôn đới
8 976 591
194
9 998 248
0,8
Hệ núi hỗn hợp
10 633 145
1277
85 249 420
8,0
Hệ đảo hỗn hợp
3 252 270
530
32 276 920
9,9
Hệ thống hồ
517 694
17
663 486
1,3
Dựa vào dữ liệu năm 1992; Nguồn : IUCN 1994 (biodivn.blogspot.com) 
Tài liệu tham khảo: Đa dạng Sinh học và Bảo tồn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005. 

Xem thêm: 

0 nhận xét:

Post a Comment