14/06/2014

Nhu cầu đào tạo cán bộ về đa dạng sinh học

(biodivn.blogspot.com) Để thực hiện được việc nâng cao nhận thức đa dạng sinh học cho quảng đại quần chúng, cần có một đội cán bộ có hiểu biết đầy đủ về đa dạng sinh học , về luật pháp có liên quan làm nòng cốt không những làm nhiệm vụ tuyên truyền nâng cao nhận thức cho mọi người về đa dạng sinh học mà còn hướng dẫn cách ứng xử, cách hành động phù hợp để giải quyết các vấn đề có liên quan xảy ra tại địa phương (Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, 2002). 
a. Sự cần thiết đánh giá nhu cầu đào tạo 
Theo Vũ Tiến Hinh và cs (2002) đánh giá nhu cầu đào tạo (TNA) thực sự được coi là bước quan trọng nhất, có tính quyết định để đạt được mục tiêu đào tạo nhằm đảm bảo việc đào tạo đáp ứng được nhu cầu thực tế. Đánh giá nhu cầu đào tạo còn là một công cụ có giá trị để cung cấp những thông tin quan trọng về những người tham gia trước khi đào tạo. Mặt khác, TNA cho phép người cán bộ đào tạo biết trước được những thôn tin về chủ đề cần được thảo luận và làm thế nào để thực hiện nó dựa vào đặc điểm của người tham gia. Việc đánh giá nhu cầu đào tạo có hiệu quả sẽ thúc đẩy công tác huấn luyện lấy người học làm trung tâm và xây dựng được những khóa học dựa trên các kiến thức và kinh nghiệm của người học. Xác định nhu cầu dào tạo nhằm tìm ra những kiến thức, kĩ năng mà người học cần chứ không phải cái mà người đào tạo có thể cung cấp cho họ. Để đánh giá nhu cầu đào tạo cần phải qua nhiều bước với sự tham gia của nhiều đối tượng khác nhau (người dạy, người học, người xây dựng chương trình, người dân, nhà tài trợ và người sử dụng kết quả đào tạo). 
b. Nhu cầu đào tạo về nhân lực 
Có 3 loại nhân lực cần đào tạo: Những chuyên gia, những kỹ thuật viên, và những người sử dụng tài nguyên đa dạng sinh học . Trong đó việc đào tạo các chuyên gia và các nhà quản lý, những kỹ thuật viên cần được đào tạo ở cấp đại học và sau đại học. Đội ngũ các chuyên gia và các nhà quản lý được đào tạo bao gồm nhiều lĩnh vực như sinh thái học, sinh học môi trường, ĐDSH và bảo tồn, quản lý tài nguyên thiên nhiên, phân loại học, các luật có liên quan đến môi trường, kinh tế môi trường... Đây là nguồn nhân lực cần được đào tạo ở mức độ chuyên sâu song nhu cầu về số lượng chiếm tỷ lệ ít hơn so với hai nguồn nhân lực còn lại. 
Theo Nguyễn Hồng Khánh và cs (2003) nhu cầu cần đào tạo các chuyên gia và kỹ thuật viên hiện này theo trình độ như sau: Tiến sỹ về đa dạng sinh học thực sự không có nhu cầu lớn, chỉ có ý nghĩa quan trọng cho các trường đại học, các viện nghiên cứu và rất ít cho một số đơn vị quản lý tại cơ sở cấp bộ. Đây là những chuyên gia những nhà khoa học đầu ngành giải quyết những chính sách và mang lại những thành tựu về công nghệ tiến tiến. 
Ở trình độ thạc sỹ có nhu cầu lớn hơn vì đội ngũ cán bộ ở trình độ này chủ yếu là giáo viên, giảng viên hay những nghiên cứu viên chính trong hàng ngũ nghiên cứu khoa học, hoặc những nhà quản lý môi trường và đa dạng sinh học của địa phương, các khu công nghiệp, khối doanh nghiệp. Đội ngũ này chiếm tỷ lệ khoảng 20%. 
Nhu cầu đào tạo các chuyên gia về đa dạng sinh học ở trình độ cử nhân chiếm tỷ lệ lớn nhất, 50%. Đội ngũ cán bộ ở trình độ này sẽ là những người trực tiếp tham gia trong mọi lĩnh vực hoạt động về đa dạng sinh học như, điều tra, giám sát đa dạng sinh học , xử lý, thiết kế, vận hành, thí nghiệm, thử nghiệm, trong đó có các bộ phận quản lý VQG, KBTTN ... 
Để hỗ trợ phòng thí nghiệm và các hoạt động thực tế liên quan đến ĐDSH, cần thiết phải đào tạo đội ngũ kỹ thuật viên. Có rất nhiều lĩnh vực yêu cầu đáp ứng đội ngũ này như các nhà quản lý máy tính, các chuyên gia đánh giá tác động môi trường; các nhà quản lý khu bảo tồn... Nhu cầu cần đào tạo đội ngũ cán bộ ở trình độ này chiếm tỷ lệ khoảng 30%. 
Nhu cầu đào tạo đội ngũ cán bộ về ĐDSH ở các nước đang phát triển cao hơn nhiều so với các nước phát triển. Ở Việt Nam nhu cầu đào tạo cán bộ nghiên cứu, quản lý về ĐDSH hiện nay rất là bức xúc cả về số lượng và chất lượng. Chỉ tính riêng các khu bảo tồn thiên nhiên hiên nay có 27 VQG (VQG), 57 Khu dự trữ thiên nhiên, 11 Khu bảo tồn loài - sinh cảnh và 37 Khu bảo vệ cảnh quan (Phòng Bảo tồn Cục Kiểm lâm; tháng 12/2003). Hơn nữa nhu cầu về đội ngũ cán bộ quản lý môi trường ở nước ta tương đối lớn: khoảng 500 cán bộ môi trường cấp trung ương cấp tỉnh/1 tỉnh và khoảng 1000 cán bộ cấp huyện. Ngoài ra chúng ta cần đội ngũ cán bộ tại các trạm giám sát môi trường và nhu cầu đội ngũ này khoảng gần 600 người. Các cán bộ này đều cần được đào tạo những kiến thức liên quan đến môi trường và ĐDSH (T. M. Tiến, 1999). 
c. Nhu cầu đào tạo về kiến thức và kỹ năng 
Đối với từng đơn vị cụ thể có nhu cầu cần đào tạo về kiến thức và kỹ năng phù hợp. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay hoạt động quan trọng nhất đối với tất cả các chi cục kiểm lâm, Chi cục Bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản trên đất liền và các khu bảo tồn thiên nhiên biển (đang đệ trình chính phủ) Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, KBTTN, VQG là công tác bảo vệ, chống sự mất mát tài nguyên (trừ VQG Cát Tiên). Theo Vũ Tiến Hinh và cộng sự (2002) những kiến thức cần được đào tạo cho các đối tượng là chi cục kiểm lâm, VQG và nhân dân bao gồm đặc điểm nhận biết loài; giới thiệu về ĐDSH và sự cần thiết phải bảo tồn ĐDSH, các phương pháp điều tra giám sát ĐDSH, các mô hình nông lâm kết hợp, lâm ngư kết hợp, các kỹ thuật lâm sinh cho rừng nghèo, tin học và ngoại ngữ; các kỹ năng cần đào tạo gồm kỹ năng nhận biết mô tả loài, kỹ năng điều tra, thu thập mẫu và làm tiêu bản, kỹ năng giao tiếp và thúc đẩy khi làm việc với cộng đồng, kỹ năng quản lý sâu hại và lửa rừng, kỹ năng bảo vệ các HST ĐNN và bảo tồn biển.(biodivn.blogspot.com).
Tài liệu tham khảo: Đa dạng Sinh học và Bảo tồn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005. 
Xem thêm: 


0 nhận xét:

Post a Comment

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!