06/06/2014

Môi trường sống bị tàn phá và ô nhiễm gây suy thoái Đa dạng Sinh học

Mưa axit có thể tàn phá môi trường, giết chết các loài sinh vật (Ảnh http://www.ypte.org.uk/)
(Tiếp theo: ) 
(biodivn.blogspot.com) Cho dù nơi sinh sống không bị ảnh hưởng một cách trực tiếp do việc phá hủy hay chia cắt, nhưng các quần xã và các loài sống trong đó có thể bị ảnh hưởng sâu sắc do các hoạt động khác của con người. Các quần xã sinh học bị phá hủy khiến cho các loài bị tuyệt chủng bởi những tác nhân ngoại lai, cho dù những tác nhân này chẳng làm thay đổi cấu trúc chủ yếu của các loài thực vật sống trong quần xã. Vì vậy tác động của việc huỷ hoại nơi cư trú đôi khi chưa thể nhìn thấy ngay lập tức. Ví dụ, tại các khu rừng rụng lá vùng ôn đới, sự phá hủy nơi sinh sống về mặt cơ học có thể xẩy ra nếu thảm cỏ trong rừng hàng năm bị cháy; những vụ cháy rừng này không làm chết những cây to, nhưng quần xã các loài hoang dại phong phú và các loài côn trùng sống trên mặt đất rừng có thể dần dần bị suy giảm. Việc bơi lặn thường xuyên trên những dải san hô là những nguyên nhân đặc trưng phá hủy làm cho các nhánh mỏng mảnh của một số loài san hô dễ bị gãy bởi va chạm do chân bơi của thợ lặn và các mỏ neo.
Dạng nguy hại bậc nhất hủy hoại môi trường là sự ô nhiễm. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do thuốc trừ sâu, hóa chất và các chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt của con người và các ô nhiễm gây ra bởi các nhà máy công nghiệp và các phương tiện giao thông, các trầm tích lắng đọng do sự xói mòn đất từ các vùng cao. Sự suy thoái chất lượng môi trường do ô nhiễm nước, không khí, đất thậm chí đến khí hậu toàn cầu là một vấn đề lớn không chỉ gây nguy hại đến ĐDSH mà còn đến cả sức khỏe con người. Trong một vài trường hợp như những sự cố tràn dầu lớn trên biển và 500 ngọn lửa từ những giếng dầu như trường hợp chiến tranh ở vùng vịnh Ba Tư đã gây ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng 
Ô nhiễm do thuốc trừ sâu
Sự nguy hại của thuốc trừ sâu được khuyến cáo với nhân loại từ những năm 1962 qua cuốn sách gây tiếng vang lớn "Mùa xuân yên lặng" gây xôn xao dư luận của Rachel Carson. Cuốn sách mô tả quá trình khuếch đại sinh học, thông qua đó nồng độ DDT (dichlorodiphenyltrichloroethene) và các loại thuốc trừ sâu clo hữu cơ khác tích luỹ tăng lên theo bậc cao dần của chuỗi thức ăn. Việc sử dụng các loại thuốc trừ sâu để phòng trừ các loài côn trùng gây hại cho cây trồng và phun vào nước để diệt các ấu trùng muỗi đã làm hại tới những quần thể khác sống trong thiên nhiên, đặc biệt đối với những loài chim ăn các loại côn trùng, cá và các động vật khác bị ảnh hưởng bởi DDT hay các sản phẩm đồng phân. Khi nồng độ thuốc trừ sâu có độ độc lớn tích luỹ đến mức cao trong các tế bào cơ thể của chim, như các loài diều hâu,các loài chim ăn thịt và ăn xác chết, thì chúng sẽ đẻ ra những quả trứng có vỏ mỏng hơn bình thường, nên dễ bị vỡ trong quá trình ấp. Do vậy, quần thể của những loài chim này bị suy giảm một cách đáng kể trên phạm vi toàn cầu. Tại các hồ và các cửa sông, dư lượng DDT và các loại thuốc trừ sâu khác được tích lũy lại trong cơ thể các loài cá lớn như cá heo và động vật biển khác. Trên các khu vực sản xuất nông nghiệp, các loài côn trùng có ích hay các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng cũng đều bị tiêu diệt cùng với các loài côn trùng gây hại. Đồng thời, muỗi và các côn trùng khác là đối tượng phòng trừ lại quen dần và trở nên kháng với hóa chất, nên người ta phải tăng nồng độ và liều lượng cao hơn mới hạn chế được tác hại. Nhận thức được sự nguy hại này, nhiều nước đã áp dụng biện pháp cấm sử dụng thuốc trừ sâu nhóm clo hữu cơ, cải tiến công tác bảo vệ thực vật, áp dụng biện pháp IPM. Việc cấm sử dụng nhóm thuốc này ở một số nơi đã tạo điều kiện thuận lợi cho rất nhiều loài chim được phục hồi, rõ rệt nhất là các loài chim cắt, chim ưng, chim ó, diều mướp (Cade, 1988; Porteous, 1992). Tuy vậy việc tiếp tục dùng các thuốc trừ sâu gây nên những vấn đề nhức nhối không chỉ đối với ĐDSH mà vì tác hại lâu dài của chúng đối với sức khỏe con người, nhất là những công nhân trực tiếp sử dụng hóa chất ngoài đồng ruộng và những người sử dụng các sản phẩm nông nghiệp bị xử lý bằng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc bảo quản (Phạm Bình Quyền, Nguyễn Văn Sản, 1998).
Ô nhiễm nước 
Ô nhiễm nước gây hậu quả xấu cho quần thể loài người: hủy hoại các nguồn thực phẩm thủy sản như cá, ốc, hến và làm ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt. Tương tự như vậy ô nhiễm nước còn gây tác hại lớn cho các quần xã sống dưới nước. Sông, hồ và đại dương thường xuyên được sử dụng như một bãi chứa các chất thải công nghiệp, chất thải dân dụng. Thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ, dầu thải, dầu bị rò rỉ, kim loại nặng (thủy ngân, chì, thiếc...), các chất tẩy rửa có thể làm tổn thương hay giết chết các sinh vật thủy sinh. Nếu như các chất thải được chôn lấp vào khu vực của HST trên cạn chỉ gây tác động cục bộ tại một địa điểm nhất định, thì các chất thải độc hại thải vào môi trường nước lan toả đi xa theo dòng chảy và lan rộng trên một diện tích lớn. Các hóa chất độc, dù chỉ với một nồng độ rất thấp thì tồn lượng của chúng vẫn có thể lắng đọng, tích lũy dần vào trong cơ thể các sinh vật thủy sinh đến nồng độ gây chết do chúng phải lọc một lượng lớn nước trong khi ăn. Các loài chim và thú ăn thịt những sinh vật này sẽ là đối tượng tích luỹ các hóa chất độc vào trong cơ thể của chúng.
Các khoáng chất vi lượng tuy rất cần cho cuộc sống của động và thực vật nhưng chúng cũng có thể trở nên có hại khi xuất hiện với nồng độ cao. Hiện nay, hàng năm các hoạt động của con người thải vào môi trường và thâm nhập vào các quần xã sinh học một lượng nitơ lớn hơn mức các quá trình tự nhiên đưa vào (xem Bảng 4.1). Các chất thải của người, các loại phân bón hóa học, các chất tẩy rửa và các quá trình sản xuất trong công nghiệp thường xuyên thải ra một lượng lớn nitrat, phosphat vào HST thủy vực, dẫn đến hiện tượng phú dưỡng nước. Chỉ một lượng nhỏ các chất dinh dưỡng này có thể kích thích động vật và thực vật phát triển nhưng với một nồng độ cao hơn sẽ gây ra sự bột phát số lượng của các loài tảo sống trên bề mặt nước. Sự bột phát của các loài tảo này có thể rất dày đặc đến mức gây hiện tượng nở hoa và lấn chiếm cả các loài động thực vật nổi và che khuất những loài sống dưới tầng đáy. Khi lớp tảo bề mặt quá dày, phần dưới của chúng sẽ bị chết và chìm xuống đáy. Số lượng vi khuẩn và nấm phân hủy lớp xác tảo này tăng lên với cấp số nhân do nguồn dinh dưỡng mới được cung cấp thêm, hậu quả là chúng hấp thụ hầu hết lượng ôxy hòa tan trong nước. Thiếu ôxy, hầu hết các loài động vật sẽ chết. Kết quả quần xã bị suy giảm, chỉ còn sót lại những loài thích nghi được với điều kiện nước bị ô nhiễm hay nước có hàm lượng ôxy hòa tan thấp.
Một số hiện tượng đã xảy ra tại các HST ĐNN nhân tạo của Việt Nam như đầm nuôi hải sản có những thời điểm môi trường nước xấu dẫn tới các loại bệnh cho tôm và gây chết hàng loạt. Tại vùng nước ven bờ, hiện tượng nở hoa thực vật nổi do phú dưỡng, gây nên thủy triều đỏ (chủ yếu là các loài tảo giáp), thủy triều xanh (chủ yếu là do tảo silic)… tác động xấu tới chất lượng môi trường nước và quần xã thủy sinh vật.
Các kết quả phân tích thủy hóa học cho thấy vấn đề ô nhiễm dầu tại các vùng cửa sông hiện nay là rất đáng kể. Một số nơi, hàm lượng dàu cao hơn so với tiêu chuẩn cho phép là một trong những nguyên nhân dẫn tới suy giảm về thành phần loài và sinh khối nhiều nhóm thủy sinh vật vùng nước và vùng bãi triều.
Các trầm tích có nguồn gốc do xói mòn từ các vùng đất trống đồi núi trọc cũng có thể gây hại cho HST thủy vực. Các chất trầm tích có lẫn mùn lá cây, bùn, các chất rắn lơ lửng và cả các chất độc hại v.v... làm tăng độ đục của nước, làm giảm độ chiếu sáng trong nước nên đã cản trở quá trình quang hợp. Sự tăng độ đục của nước có thể làm suy giảm khả năng nhìn, khả năng săn mồi, làm giảm sức sống của một số loài động vật thủy sinh và làm giảm độ sâu chiếu sáng. Sự gia tăng lớp trầm tích đã gây hại cho nhiều loài san hô, những loài đòi hỏi một môi trường sống tuyệt đối trong sạch.
Ô nhiễm không khí
Các hoạt động của con người làm thay đổi và làm ô nhiễm bầu khí quyển của trái đất. Trong quá khứ, con người cho rằng khí quyển rộng lớn đến mức các chất do con người thải vào sẽ được phân tán mỏng ra do đó không gây tác hại đáng kể. Nhưng ngày nay hàng loạt các dạng ô nhiễm không khí đã hủy hoại các HST. 
Mưa axít
Các nền công nghiệp như luyện thép, các nhà máy nhiệt điện sử dụng nhiên liệu là than hay dầu đã thải ra một lượng lớn nitrat, sulphat vào không khí, các khí này khi gặp hơi nước trong khí quyển sẽ tạo ra axít nitric và sunphuríc. Chỉ tính riêng ở Hoa Kỳ, hàng năm 21 triệu m3 nitrat và 19 triệu m3 sulphat bị thải vào khí quyển (WRI/UNEP/UNDP, 1998). Các axít này liên kết với những đám mây và khí tạo thành mưa đã làm giảm độ pH của nước mưa xuống rất thấp và tăng khả năng hấp thụ các kim loại nặng độc hại. Mưa axít sẽ làm giảm độ pH của đất và của nước trong các hồ, ao, sông suối trên lục địa. Mưa axít đã tiêu diệt nhiều loài động và thực vật. Do độ axít của các hồ, ao tăng lên vì mưa axít, nhiều cá con của nhiều loài cá và cả những con cá trưởng thành cũng bị chết ngay lập tức (Hình 3.11). Độ axít tăng và nước bị ô nhiễm là hai nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm đáng kể của các quần thể lưỡng cư trên thế giới. Đối với phần lớn các loài lưỡng cư, ít nhất một phần trong chu kỳ sống của chúng phụ thuộc vào môi trường nước, độ pH của nước giảm làm cho tỷ lệ trứng và ấu trùng bị chết tăng lên cao (Beebee, 1990; Blaustein and Wake, 1995). Độ axit cao cũng hạn chế khả năng phân hủy, làm chậm tốc độ của quá trình khoáng hóa và khả năng sản xuất của HST. Nhiều hồ ao ở những khu vực công nghiệp lớn của thế giới đã mất rất nhiều loài động vật do hậu quả của mưa axít (France and Collins, 1993). 
Hình 3.11. Thang chia độ pH cho thấy giới hạn độ chua có thể làm cho cá chết. Các nghiên cứu chỉ ra tại sao cá không thể sinh sống được tại các hồ bị axít hóa. (Theo Cox, 1993) 
Sự sản sinh ôzôn và sự lắng đọng khí nitơ
Xe ô tô, các nhà máy nhiệt điện và các hoạt động công nghiệp thải ra các khí hyđrôcácbon, khí ôxít nitơ. Dưới ánh sáng mặt trời, các hóa chất này tác dụng với khí quyển và tạo ra khí ôzôn cùng các hóa phụ phẩm khác, tất cả các khí này được gọi chung là mù quang hóa. Nồng độ ôzôn cao ở tầng khí quyển gần mặt đất sẽ giết chết các mô thực vật, làm cho cây dễ bị tổn thương, làm hại đến các quần xã sinh học, giảm năng suất nông nghiệp. 
Các kim loại độc hại
Xăng có chứa chì, các hoạt động khai mỏ, luyện kim và các hoạt động công nghiệp khác thải ra một lượng lớn chì, thiếc, và nhiều loại kim loại độc hại khác vào khí quyển. Các hợp chất này trực tiếp gây độc cho cuộc sống của động và thực vật. 
Tác động của ô nhiễm không khí đến các quần xã rừng được nghiên cứu rất nhiều vì rừng có ý nghĩa lớn lao trong việc sản xuất gỗ, điều hòa lượng nước và cũng là khu nghỉ ngơi, giải trí. Một điều được nhất trí rộng rãi là mưa axít phá hủy và làm suy yếu rất nhiều loài thực vật, khiến chúng dễ bị côn trùng, nấm và các loại bệnh tấn công 
Mức độ ô nhiễm không khí tăng dần lên trên phạm vi toàn cầu. Việc tăng mức độ ô nhiễm không khí sẽ đặc biệt nghiêm trọng ở các nước châu Á nơi có dân số đông (và đang gia tăng) cùng với sự phát triển nhanh của quá trình công nghiệp hóa. Sự phụ thuộc nặng nề của Trung Quốc vào các loại than có hàm lượng lưu huỳnh cao và việc gia tăng sử dụng ôtô cá nhân ở các nước Đông Nam Á là những ví dụ của những mối nguy cơ tiềm tàng ảnh hưởng có hại đối với ĐDSH. (biodivn.blogspot.com).
Tài liệu tham khảo: Đa dạng Sinh học và Bảo tồn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005. 

Xem thêm: 

2 nhận xét:

  1. Rất cám ơn bài viết cảnh tỉnh đầy hữu ích này !
    ...................................
    Long Nguyễn

    Reply
  2. Phải bảo vệ môi trường sống để đảm bảo cho chúng ta một cuộc sống tươi đẹp




    Reply

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!