06/06/2014

Khai thác quá mức và sử dụng không bền vững tài nguyên

Sự khai thác quá mức loài vào những thập kỷ 70, 80 của thế kỷ trước dẫn đến loài này có nguy cơ bị tuyệt chủng ngoài thiên nhiên.
(Tiếp theo: ) 
(biodivn.blogspot.com) Nhằm thỏa mãn nhu cầu của cuộc sống, con người đã thường xuyên săn bắn, hái lượm thực phẩm và khai thác các nguồn tài nguyên khác. Khi dân số loài người vẫn còn ít và phương pháp thu hái còn thô sơ, con người đã thu hái và săn bắt một cách bền vững mà không làm cho các loài trở nên tuyệt chủng. Tuy vậy, khi dân số loài người tăng lên, nhu cầu khai thác tài nguyên cũng tăng theo. Các phương pháp hái lượm dần được cải tiến và trở nên hữu hiệu hơn (Redford, 1992; Wlkie, 1992). Súng, cùng nhiều loại bẫy, lưới, các chất độc gây mê, các bẫy âm thanh được dùng thay cho những ống thổi, giáo mác và cung tên để săn bắt trong các khu rừng mưa nhiệt đới và trên đồng cỏ.
Các thuyền đánh cá có gắn động cơ đồ sộ đã được dùng để đánh bắt cá trên đại dương. Ngư dân có thể gắn thêm mô tơ vào thuyền để có thể đánh bắt được nhanh hơn, nhiều hơn ở xa bờ và trên một địa bàn rộng lớn hơn trước. Ngay cả trước thời kỳ công nghiệp hóa, việc khai thác quá mức cũng làm suy giảm và tuyệt chủng một số loài bản địa. Ví dụ, chiếc áo choàng đại lễ của vua Haoai từng mặc đã được may bằng lông của một loài chim quý; để làm chiếc áo này người ta đã sử dụng lông của 70 000 con chim mà ngày nay đã bị tuyệt chủng. Các loài thú săn mồi cũng sẽ chết dần chết mòn nếu như con người đã khai thác quá mức các con mồi của chúng. Việc khai thác tàn tệ của con người đã gây nguy cơ ảnh hưởng đến 1/3 số loài động vật có xương sống đang bị đe dọa tuyệt chủng, các loài dễ bị tuyệt chủng và các loài quý hiếm (Groombridge, 1992), việc săn bắn khai thác quá mức là nguyên nhân thứ 2 sau nguyên nhân mất nơi cư trú, và là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn các loài đến tuyệt chủng. 
Trong luật lệ xã hội từ xa xưa, đã tồn tại những quy định nghiêm ngặt hạn chế việc khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên: ví dụ quyền được phép săn bắn trên một khu vực nhất định được kiểm soát rất chặt chẽ; một số khu vực hoàn toàn không được phép săn bắn; cấm săn bắn các con cái, các con còn non và theo những kích cỡ quy định; không được phép săn bắn vào một số thời gian nhất định trong năm và vào một số thời gian trong ngày. Các quy định này đảm bảo cho sự khai thác các nguồn tài nguyên được lâu dài hơn và bền vững hơn, đây cũng là những quy định cũng tương tự như quy định về đánh bắt cá đã được nhiều nước công nghiệp đề xuất và áp dụng. 
Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý các loài hoang dã, đánh bắt cá và lâm nghiệp đã cố gắng xây dựng một phương pháp tính toán mô hình để xác định số lượng tối đa có thể khai thác chúng một cách bền vững (Getz và Haight, 1989). Lượng tối đa nguồn tài nguyên có thể khai thác được một cách bền vững là sản lượng có thể thu hoạch hàng năm tương đương với năng suất mà quần thể tự nhiên sản sinh được. Dựa vào tốc độ phát triển tự nhiên của quần thể và khả năng chịu tải của môi trường để tính toán số lượng tối đa có thể khai thác được. Trong điều kiện được kiểm soát một cách chặt chẽ, nguồn tài nguyên có thể dễ dàng định lượng được thì có thể lập quy hoạch khai thác theo cấp độ quy định 
Điều hy vọng cho các loài đang bị khai thác quá mức là đến một lúc nào đó chúng chỉ còn lại ít ỏi và sẽ không còn là đối tượng săn bắt thương mại và nhờ đó số lượng của chúng sẽ có điều kiện để phục hồi. Không may cho một số loài như tê giác hay một số loài mèo rừng, số lượng hiện nay còn lại quá ít đến mức không thể nào hồi phục được nữa. 
Bảng 3.11. Các quần thể của các loài cá voi trên thế giới bị con người đánh bắt
Loài
Số lượng đã bị đánh bắt a
Các thức ăn chính
Cá voi không có răng



Cá voi xanh
228 000
14 000
Thực vật
Đầu tròn
30 000
7 800
Thực vật
Cá voi có vây
548 000
120 000
Thực vật, cá
Cá voi xám
20 000
21 000
Giáp xác
Cá voi có bướu
115 000
10 000
Thực vật, cá
Cá voi Minke
140 000
725 000
Thực vật, cá
Cá voi phương bắc
Không biết
1 000
Thực vật
Cá voi Sei
256 000
54 000
Thực vật, cá, mực
Cá voi phương nam
100 000
3 000
Thực vật
Cá voi có răng



Cá voi Beluga
Không biết
50 000
Cá, giáp xác
Cá voi Narwhal
Không biết
35 000
Cá, mực, giáp xác
Cá voi Sperm
2 400 000
1 950 000
Cá, mực
Nguồn: Myer 1993; a Số lượng các quần thể bị khai thác từ trước còn có nhiều nghi vấn.
Một vấn đề nóng bỏng đang được bàn cãi là việc săn bắt các loài hoang dã như việc săn bắt cá voi, và các loài khác được xã hội của một số nước phương Tây rất ưa thích. Sau khi nhận ra rằng nhiều loài cá voi bị săn bắn đến mức chỉ còn lại một số lượng quá ít, Hội đồng Cá voi Quốc tế cuối cùng đã ra quyết định cấm các hoạt động săn bắn cá voi mang tính thương mại vào năm 1986. Dù đã có lệnh cấm, số lượng của một số loài như cá voi xanh chỉ còn lại ở mức thấp hơn rất nhiều lần so với thời điểm ra quyết định (Best, 1988). Ngược lại một số loài khác như cá voi có bướu hay cá voi xám có dấu hiệu được phục hồi (Bảng 3.11). 
Ở các vùng ven biển Việt Nam, việc khai thác quá mức nguồn lợi thủy sản vùng triều và vùng nước ven bờ đã làm suy giảm nguồn lợi:
- Khai thác bằng các loại hình nghề như: chắn đăng, lưới vùi, quai lưới săm với mắt lưới rất nhỏ (1-2mm) chắn các dòng sông, lạch triều đã thu bắt tất cả các loại thuỷ sinh vật kể cả trứng, con giống và con non. Đây là hình thức đánh bắt hủy diệt làm cho các quần thể không còn khả năng phục hồi số lượng;
- Khai thác, săn bắt quá mức nguồn lợi động vật thân mềm vùng bãi triều, đặc biệt là các loài thân mềm có giá trị kinh tế như: phi, ngao, vọp, sò, don v.v… không kể kích thước lớn nhỏ, không quản lý các bãi giống… đã làm vùng phân bố tập trung bị thu hẹp, sản lượng đánh bắt thấp hơn trước hàng chục lần.
- Khai thác quá mức nguồn lợi tôm hùm bằng nghề lặn đã làm cho số lượng tôm hùm ngày càng suy giảm;
- Khoanh đắp và gia tăng diện tích các đầm nuôi hải sản vùng triều hiện đang là một trong những mục tiêu của hầu hết các địa phương ven biển, đặc biệt là việc phát triển nuôi tôm trên cát. Hậu quả của các hoạt động như vừa nêu làm suy giảm HST tự nhiên vùng triều cửa sông, làm giảm diện tích HST rừng ngập mặn, dẫn tới làm giảm diện tích khu cư trú cho sinh trưởng phát triển của con non một số nhóm hải sản có giá trị kinh tế, làm cho vùng đất cát bị nhiễm mặn và ô nhiễm.(biodivn.blogspot.com).
Tài liệu tham khảo: Đa dạng Sinh học và Bảo tồn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005. 

Xem thêm: 

0 nhận xét:

Post a Comment

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!