13/06/2014

Khôi phục các loài, chủng quần và hệ sinh thái

(Tiếp theo: ) 
(biodivn.blogspot.com) Các HST bị suy thoái phần lớn là do hoạt động của con người như mở rộng đất nông nghiệp, chăn thả, khai thác gỗ, xây dựng cơ sở hạ tầng...Các hoạt động trên thường tác động trực tiếp làm cho các chủng quần bị suy thoái, tiêu diệt các loài và thậm chí có thể làm cho cả HST bị suy tàn. Ngày càng có nhiều người công nhận rằng việc đưa trả lại các loài bị suy thoái, hồi phục hay khôi phục lại các HST bị suy thoái có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và nâng cao ĐDSH. 
Hồi phục các loài và chủng quần 
Việc đưa trả lại các chủng quần một số loài đã đạt được kết quả khả quan nhờ thực hiện chương trình nhân nuôi chuyển vị (hay bắt từ địa phương khác đến) là một cố gắng rất lớn trong việc hồi phục loài và HST. Về cơ bản có ba cách để hồi phục các chủng quần cây và con (Primack, 1995): 
- Chương trình đưa trả lại. Là đem một chủng quần loài đã được nhân nuôi nhân tạo hay là bắt một phần chủng quần loài đó tại một địa phương mà loài đó còn phong phú đến nơi mà loài đó đã lâu không còn trong thiên nhiên nữa. Mục tiêu của chương trình này là tạo nên một chủng quần mới tại chỗ mà trước đây đã từng có loài đó sinh sống; 
- Chương trình đưa thêm. Là thả thêm một số cá thể vào một chủng quần hiện có để tăng thêm kich thước của tính đa dạng của chủng quần. Phương thức này thường không được IUCN khuyến nghị vì rằng bằng cách đó có thể đồng thời đưa cả mầm bệnh và cũng có thể làm giảm tính sung sức của chủng quần hiện có tại chỗ. Có lẽ chỉ nên áp dụng tại trường hợp mà tính đa dạng di truyên của chủng quần đã bị suy thoái; 
- Chương trình tạo chủng quần mới. Là tạo chủng quần động vật hay thực vật mới tại chỗ mà trước kia chưa có loài đó. Chương trình này có thể thành công nếu như điều kiện của sinh cảnh phù hợp và đáp ứng yêu cầu của loài được đưa đến. Chương trình này có thể gặp nhiều rủi ro vì vậy trước lúc thực hiện cần được nghiên cứu kỹ lưỡng. 
Việc hồi phục lại các loài thường rất tốn kém và gặp nhiều khó khăn. Theo kinh nghiệm thì việc hồi phục các loài thông thường, như các loài là đối tượng săn bắn thể thao dễ thành công hơn so với việc hồi phục các loài nguy cấp. Griffith (1989) đã thông báo kết quả hồi phục một số loài như sau: 
- Kết quả tốt đối với loài đối tượng săn bắn (86%), trung bình với loài nguy cấp (44%); 
- Kết quả tốt khi thả vào sinh cảnh có chất lượng hoàn hảo (84%), kém ở sinh cảnh chất lượng kém (38%); 
- Kết quả tốt tại vùng lõi của vùng phân bố của loài (78%), trung bình ở vùng biên (48%); 
- Kết quả tốt với các con bắt từ thiên nhiên (75%), kém với các con nhân nuôi nhân tạo (38%); 
- Kết quả tốt đối với các loài ăn cỏ (77%), trung bình với các loài ăn thịt (48%). 
Beck và đồng nghiệp (1994) đã khảo sát các động vật nhân nuôi được thả trở lại vùng phân bố truyền thống của loài và cho là thành công nếu đạt tiêu chí là loài tự giữ được kích thước chủng quần là 500 cá thể. Với tiêu chí đó, thì chỉ có 16 trên 145 dự án đưa trả lại thành công. Beck kết luận là số lượng cá thể được thả càng lớn càng dễ đạt kết quả. Griffith và đồng nghiệp (1989) cho rằng số lượng cá thể được thả phải đến khoảng 100 thì mới dễ thành công. 
Hồi phục HST và cảnh quan 
Hồi phục lại HST là một trong những vấn đề mới mà sinh thái học phải đối đầu trong những năm gần đây. Tuy nhiên để một HST được hồi phục phải mất khoảng thời gian vài ba chục năm hay hơn. Ví dụ như việc hồi phục HST rừng ngập mặn Cần Giờ đã phải gần 30 năm. 
Cũng cần phải định nghĩa rõ các thuật ngữ hồi phục (rehabilitation) và khôi phục (restoration). Chúng ta thường dùng hai thuật ngữ này như đồng nghĩa. Khôi phục là sửa chữa – mà không phải làm lại – HST bị phá huỷ, trong lúc đó hồi phục là hoạt động xây dựng lại HST tự nhiên hay bán tự nhiên trên vùng đất đã bị suy thoái nặng nề hay bị biến đổi. 
Vì rằng hai thuật ngữ trên thường được sử dụng thay thế cho nhau trong nhiều trường hợp, nên để hiểu rõ hơn ta đi vào bối cảnh mà trong đó thuật ngữ được dùng. Khôi phục và hồi phục nói lên những khả năng hợp tác của nhiều chuyên môn và chuyên gia khác nhau từ các nhà sinh thái học cảnh quan và những nhà sinh vật học cho đến các kỷ sư môi trường và chuyên gia về tài nguyên di truyền. Điều đó có nghĩa là chương trình đưa các loài trở lại để hồi phục và khôi phục HST thường là các nhịp cầu nối các chương trình bảo tồn chuyển vị với các chương trình nguyên vị. 
Khôi phục các HST bị suy thoái thường bao gồm hai hợp phần chính. Thứ nhất, các nguyên nhân gây nên sự suy thoái cần được loại trừ. Hai là, các hợp phần của HST đã bị biến mất cần phải được hồi phục lại. Hợp phần thứ nhất là rất quan trọng cho sự thành công của việc khôi phục. Ở đây việc cần làm là loại bỏ nguyên nhân mà không phải xử lý triệu chứng. Ví dụ, trước khi dưa các động vật trở lại cần loại bỏ các loài dã thú, những loài có hại đối với loài dự định đưa đến, hay phải quản lý được các loài cỏ dại xâm lấn v.v..., nếu như đó là nguyên nhân chính đã làm cho loài động vật nói đến bị suy thoái. 
Việc hồi phục các hợp phần của HST bị biến mất khá phức tạp, trước tiên là phải hồi phục lại các thành phần chủ yếu của HST kể cả việc hồi phục một số loài (bằng cách đưa trả lại các loài bằng các cá thể được nhân nuôi hay bắt tại các vùng lân cận), hay toàn bộ quần xã. Để hồi phục thành công HST nhiều khi còn phải hồi phục lại cấu trúc thỗ nhưỡng, quản lý các lài cây cỏ ngoại lai xâm lấn. 
Việc hồi phục lại HST thường được thực hiện tại những vùng bị suy thoái nặng nề, ví dụ vùng khai khoáng, vùng bị rải chất độc hoá học trong thời kỳ chiến tranh. Việc hồi phục lại những vùng đất như vậy hết sức khó khăn và rất tốn kém. Ví dụ hồi phục lại những khu rừng bị tiêu huỷ do chất độc hoá học. Theo kinh nghiệm của lâm trường Mã Đà, thì đầu tiên phải dọn sạch cỏ dại, rồi trồng những cây mọc nhanh để tạo thành lớp phủ thực vật đầu tiên. Sau khoảng ba bốn năm, khi đã có đủ bóng che, độ ẩm phù hợp mới trồng các cây rừng địa phương vào dưới đó. Bằng cách này HST rừng nhiệt đới dần dần được hồi phục. Sau mươi, mười lăm năm, nhiều loài cây rừng địa phương xuất hiên ngày càng nhiều, do những hạt giống từ các khu rừng lân cận được các động vật như sóc, khỉ, chim đem đến. ở Mã Đà nhiều khu rừng cây họ dầu đã được phục hồi, hệ động vật trở lại dần, có vùng đã xuất hiện trở lại các loài thú lớn như bò tót, lợn rừng, nai . Hy vọng rằng bằng cách làm như vậy, các khu rừng nhiệt đới miền Nam Việt Nam bị chất độc hoá học/Dioxin phá huỷ sẽ dần được hồi phục. (biodivn.blogspot.com) 
Tài liệu tham khảo: Đa dạng Sinh học và Bảo tồn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005.
Xem thêm: