07/06/2014

Hiệu quả các khu bảo vệ trong bảo tồn Đa dạng Sinh học

Chưa có số liệu đánh giá tính hiệu quả các khu bảo vệ thiên nhiên ở Việt Nam. Nhưng theo tình hình hiện tại thì việc mất mát các loài sinh vật ở đây diễn ra rất trầm trọng. Ảnh: một ngôi nhà lớn được làm hoàn toàn bằng gỗ Trai lý Fagraea fragrans trong khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông, Hoà Bình, chụp 2011.
(Tiếp theo: ) 
(biodivn.blogspot.com) Để đánh giá tính hiệu quả của các khu bảo tồn về giữ gìn ĐDSH cần phải lưu ý các điểm sau đây. Trước tiên, khu bảo tồn đã có mục tiêu rõ ràng về quản lý ĐDSH chưa ? tính pháp lý đến mức nào ?, nhân sự và ngân sách có phù hợp không? Hai là, nhân dân địa phương được hưởng lợi về kinh tế xã hội như thế nào từ khu bảo tồn ?, họ có điều kiện để sử dụng một cách hiệu quả và bền vững tài nguyên thiên xung quanh khu bảo tồn/ vùng đệm không? Việc đánh giá tính hiệu quả về mặt sinh học của khu bảo tồn đòi hỏi có những thông tin về các thành phần của ĐDSH có trong khu bảo tồn và về chất lượng thu được do cách thức quản lý.
Thường thì các quốc gia đều có khá đầy đủ các thông tin về số lượng, diện tích các khu bảo tồn, nhưng rất ít quốc gia chú ý đến thu thập các thông tin về tính hiệu quả của việc quản lý các khu bảo tồn trong việc gìn giữ các thành phần của ĐDSH, kể cả các quốc gia đã tổ chức được hệ thống khu bảo tồn khá hoàn hảo. 
Ở ấn Độ, quốc gia có hệ thống khu bảo tồn hơn 500 VQG và khu dự trữ thiên nhiên, chiếm khoảng 5% diện tích tự nhiên, đã tổ chức hai cuộc khảo sát để đánh giá tính hiệu quả của hệ thống khu bảo tồn toàn quốc. Về phương diện sinh học, Viện Động vật hoang dã ấn Độ đã đánh giá hệ thống các khu bảo tồn toàn ấn Độ về mặt sinh địa học và đã đề xuất những kiến nghị nhằm bổ sung các thiếu sót chính (Rodgers and Panwar 1988). Cuộc khảo sát thứ hai do Viện Hành chính Công cộng ấn Độ thực hiện đã xem xét các tham số quản lý khác nhau của hệ thống các khu bảo tồn ấn Độ: về mặt pháp lý, nghiên cứu, quan trắc, sử dụng và các hoạt động quản lý, và đã có bản tổng kết rất bổ ích cho công tác xây dựng và quản lý các khu bảo tồn (Kothari et al. 1989) sau đây:
Tính hiệu quả về mặt sinh học và quản lý hệ thống khu bảo tồn ở ấn Độ
Cuộc khảo sát hệ thống khu bảo tồn ấn Độ đã cho thấy:
- Quá trình chọn lựa và xác định loại hình các khu bảo tồn đã thực hiện một cách tuỳ tiện, thiếu hệ thống và thiếu nhất quán. Các khu bảo tồn cũng không được sắp xếp theo một hệ thống hợp lý về sử dụng đất đai của quốc gia. Kết quả là, một số vùng đã bị suy thoái nghiêm trọng và đông dân cư đã được xây dựng thành VQG, cấp khu bảo tồn cao nhất theo luật của ấn Độ, trong lúc đó có một số vùng có mức ĐDSH cao lại không có trong hệ thống các khu bảo tồn;
- Có đến 60% các VQG và 92% các khu bảo tồn khác chưa hoàn thành các hồ sơ pháp lý để trở thành khu bảo tồn chính thức. Thiếu sự hợp tác giữa Cục Lâm nghiệp và Động vật hoang dã và cơ quan dân chính chịu trách nhiệm về quản lý đất đai;
- Kế hoạch quản lý rất rộng, thiếu tập trung và không thoả đáng – 43% các VQG và 28% các khu bảo tồn khác có kế hoạch quản lý. Không có bản hướng dẫn chi tiết để xây dựng kế hoạch quản lý đã có nói trên, và kế hoạch đánh giá định kỳ cũng không phù hợp;
- Chỉ có 42% các VQG và 23% khu bảo tồn khác báo cáo có chương trình nghiên cứu, tuy nhiên điều kiện cơ bản để thực hiện công tác nghiên cứu rất thiếu thốn. Công tác quan trắc hầu như không được chú ý ở hầu hết tất cả các VQG và khu bảo tồn, chỉ trừ công việc điều tra theo từng thời gian về các loài thú lớn và chim tại một vài địa điểm được thực hiện;
- Nguồn tài chính, nhân sự và trang thiết bị rất thiếu thốn, gây nhiều hạn chế cho công tác bảo vệ và quản lý các khu bảo tồn (chỉ 1,5% ngân sách của Cục Lâm nghiệp được sử dụng cho việc quản lý các khu bảo tồn vào năm 1984, và hàng năm có được tăng lên chút ít trong thập kỷ qua).(biodivn.blogspot.com).
Tài liệu tham khảo: Đa dạng Sinh học và Bảo tồn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005. 

Xem thêm: