05/06/2014

Địa lý sinh học đảo và sự tuyệt chủng

Mô hình địa lý sinh học đảo - Island biogeography (Wilson & Bossert 1971)
(Tiếp theo: - biodivn.blogspot.com)
Các nghiên cứu về những quần xã sống trên đảo đã phát hiện quy luật về phân bố của ĐDSH, được gọi là mô hình sinh địa đảo của McArthur và Wilson (1967). Mục đích chính của nghiên cứu là xây dựng mô hình để giải thích mối tương quan giữa số loài và diện tích: Những đảo lớn có nhiều loài hơn các đảo nhỏ (Hình 3.3). Quy luật này là lẽ tự nhiên bởi vì các đảo lớn có nhiều dạng và nhiều loại quần xã hơn so với các đảo nhỏ. Các đảo lớn cũng cho phép các loài ít bị ảnh hưởng hơn do sự cách ly về địa lý, quần thể có kích thước lớn hơn, tăng tính đặc thù và giảm xác suất bị tuyệt chủng của các loài mới tiến hóa và các loài mới được hình thành.
Hình 3.3. Số lượng các loài trên đảo có thể được dự tính theo diện tích của đảo. Trong hình này, số lượng loài bò sát và lưỡng cư cho 7 hòn đảo ở miền tây ấn Độ Dương. Số loài trên những đảo lớn như Cuba và Hispaniola vượt xa các đảo bé như Saba và Redonda.
Mô hình địa lý sinh học của đảo được sử dụng để dự tính, dự báo số lượng và tỷ lệ loài có thể bị tuyệt chủng một khi nơi cư trú bị hủy hoại (Simberloff, 1986). Giả sử trên một hòn đảo có một số lượng loài nhất định sinh sống, việc thu nhỏ diện tích nơi cư trú tự nhiên sẽ dẫn đến hậu quả là đảo sẽ chỉ còn khả năng nuôi dưỡng một số ít loài tương ứng (Hình 3.4). Mô hình này được mở rộng áp dụng đối với các VQG và khu bảo tồn thiên nhiên mà xung quanh là những HST bị tổn thương và nơi cư trú bị hủy hoại. Các khu bảo tồn này có thể được coi như các đảo trên "biển" bị khai thác làm cho các nơi cư trú trở nên không phù hợp. Mô hình dự báo rằng khi mà 50% diện tích của đảo (hoặc sinh cảnh trên đảo) bị hủy hoại thì sẽ có khoảng 10% số loài trên đảo sẽ bị tuyệt chủng. Nếu các loài đặc hữu sinh sống trong khu vực thì chúng sẽ bị tuyệt chủng. Nếu 90% nơi cư trú bị phá hủy thì sẽ có khoảng 50% số loài sẽ bị tuyệt chủng; và khi 99% nơi cư trú bị mất thì khoảng 75% các loài bản địa sẽ bị tuyệt chủng.
Hình 3.4. Theo mô hình địa sinh học đảo, số loài hiện hữu tăng một cách tiệm cận với diện tích đảo đến giá trị cực đại. Trong thực tế điều đó có nghĩa là khi diện tích nơi cư trú bị giảm đi 50% thì số loài bị mất là khoảng 10%; nếu như sinh cảnh bị giảm 90% thì số lượng loài sẽ bị giảm 50%. Hình dạng của đường cong có thể khác nhau cho từng vùng trên thế giới và cho mỗi nhóm loài. Mô hình cho thấy tổng quát về hậu quả do sinh cảnh bị phá hủy dẫn tới sự tuyệt chủng của loài và sự đe dọa đối với các loài còn sống sót.
Các dự báo về mức độ tuyệt chủng dựa vào sự mất mát nơi cư trú có sự giao động khá lớn vì mỗi nhóm loài và mỗi vùng địa lý có mối tương quan giữa hệ số loài và diện tích khác nhau. Do các vùng rừng nhiệt đới là nơi sinh sống của phần lớn các loài sinh vật có trên thế giới, việc dự báo sự tuyệt chủng của loài hiện nay và trong tương lai có thể cho phép xác định một cách tương đối hiện trạng tuyệt chủng của các loài. Nếu như việc phá rừng còn tiếp tục cho đến khi tất cả các khu rừng bị phá trụi trừ các VQG và các khu bảo tồn thì 2/3 số loài thực vật và chim sẽ bị tuyệt chủng (Simberloff, 1986).
Sử dụng số liệu 1% diện tích rừng mưa nhiệt đới của thế giới bị tàn phá hàng năm, Wilson (1996) ước tính rằng mỗi năm có khoảng 0,2-0,3% tổng số loài sẽ bị mất, tức là từ 20.000 đến 30.000 loài nếu như tổng số loài sinh vật trên thế giới được coi là có 10 triệu loài. Nói cách khác là cứ mỗi ngày có 68 loài hay 3 loài trong vòng một giờ bị biến mất. Trong khoảng thời gian 10 năm từ 1995 đến 2005 sẽ có khoảng 250.000 loài bị tuyệt chủng. 
Dự báo mức độ tuyệt chủng của các loài sống trong rừng mưa nhiệt đới cho thấy là có khoảng từ 2% đến 11% số loài trên thế giới bị mất trong mỗi thập kỷ (Reid and Miller, 1989; Koopowitz et al., 1994). Nguyên nhân gây ra sự khác biệt trong dự báo về mức độ tuyệt chủng của các loài là do sử dụng số liệu dự báo về rừng bị phá huỷ, các giá trị khác nhau về mối tương quan giữa loài - diện tích, và các phương pháp tiếp cận toán học khác nhau (Heywood et al., 1994). Tốc độ tuyệt chủng sẽ phần nào chậm lại nếu như những khu vực giàu có về ĐDSH. Ngược lại, tốc độ tuyệt chủng sẽ tăng lên nếu như rừng bị phá hủy nhiều hơn ở những khu vực có nhiều loài quý hiếm. Chưa tính đến khía cạnh đồ thị nào mang tính chính xác cao nhất nhưng chung quy tất cả đều cho thấy là hàng trăm nghìn loài sẽ bị tuyệt chủng trong vòng 50 năm tới.
Sự tuyệt chủng của các loài trên toàn cầu là đáng báo động. Rất nhiều loài đã bị tuyệt chủng cục bộ trong từng khu vực. Một số loài trước kia rất phổ biến nay chỉ sống sót giới hạn trong một số vùng nhỏ vốn là nơi sinh sống nguyên bản của chúng. Ví dụ như loài quạ đen (Corvus macrorhynchus) và loài ác là (Pica pica) đã từng rất phổ biến ở Việt Nam nhưng hiện nay đã trở nên rất hiếm và chỉ gặp ở một vài nơi hẻo lánh ở vùng Tây Nguyên và các vùng núi khác (Phạm Bình Quyền, 2001). Các quần xã sinh vật cứ cạn kiệt dần do sự tuyệt chủng cục bộ. Ví dụ ở một khu bảo tồn thuộc thành phố Boston đã từng có 338 loài thực vật bản địa vào năm 1894; sau đó 98 năm chỉ còn tìm thấy 227 loài (Drayton and Primack, 1995). Mười bốn loài thực vật biến mất đã từng là những loài phổ biến được ghi nhận vào năm 1894. Số lượng lớn các loài bị tuyệt chủng cục bộ như là chỉ thị cảnh báo sự huỷ hoại và sự suy thoái môi trường. (biodivn.blogspot.com)
Tài liệu tham khảo: Đa dạng Sinh học và Bảo tồn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005. 

Xem thêm: 

0 nhận xét:

Post a Comment