13/06/2014

Động vật ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên và Di tích Vĩnh Cửu

Abstract: Vinh Cuu Natural Reserve and Historical Monuments of Vinh Cuu district, Dong Nai province was established under Decision No. 09/2006 / QD.UBND on 20/02/2006. The NR shares the boder, bordering the east side of Cat Tien National Park and Tri An reservoir, northern and western borders Binh Phuoc and Binh Duong province, a region south of Lake hydroelectric plant in Dong Nai River and Tri An . This area is where the most concentrated natural forest of Dong Nai province, with forest coverage is above 83.4%. Other recent research has confirmed the potential and value of biodiversity in the region. In the framework of the Partnership Program study biodiversity between of Nature Reserve and the Institute of Ecology and Biological Resources, the investigation into the animals here have been made to assess the composition of species in parks area.
The study was conducted in the different time phase, including phase 1 from December 26, 2007 to January 4, 2008; stage 2 from July 24 to August 10, 2008 and stage 3 from April 30 to April 15, 2009 in the region: War Zone D, Stone Construction, Stream Binding, Ma Da Commune territory; Dakin Anvils region, Central and Regional Forestry Department Vinh An, Phu Ly territory , Vinh Cuu, Dong Nai province. Over the study period, a total of 78 species, belong 26 family, 10 order of which have been recorded in the Chiroptera Bats markedly predominant in the study sites, followed by Rodentia, Carnivora, Primates, Artiodactyla, Soricomorpha, Proboscidea, Scandenta, Lagormopha, Pholidota. Has identified 24 rare species, including Decree 32 of 20 species recorded, the Vietnam Red Book (2007) recorded 23 species and record the IUCN Red List (2010) recorded 16 species. The hunting of wildlife in protected areas is still a concern for the management of protected areas, especially the issue of conflict between the populations of wild elephants and local communities.

(biodivn.blogspot.com) Khu Bảo tồn Thiên nhiên và Di tích Vĩnh Cửu (KBTTN&DT) thuộc huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai được thành lập theo Quyết định số 09/2006/ QĐ.UBND ngày 20/02/2006. Phía Đông của KBT giáp Vườn quốc gia Cát Tiên và hồ Trị An, phía Bắc và Tây giáp tỉnh Bình Phước và tỉnh Bình Dương, phía Nam là vùng lòng hồ nhà máy thuỷ điện Trị An và sông Đồng Nai. Khu vực này là nơi tập trung phần lớn rừng tự nhiên của tỉnh Đồng Nai, với độ che phủ của rừng trên 83,4%. Các nghiên cứu gần đây đã và đang khẳng định được tiềm năng cũng như giá trị đa dạng sinh học trong khu vực. 

Thành phần loài

Qua thời gian nghiên cứu với tổng số 360 giờ đặt lưới, 30 đêm bẫy thụ cầm để thu thập các loài dơi; 600 bẫy đêm thu thập các loài gặm nhấm và 200 đêm bẫy các loài thú ăn sâu bọ, đã thu được tổng số 420 mẫu trong đó 150 mẫu được lưu giữ làm tiêu bản nghiên cứu. Bên cạnh đó, đã tiến hành 25 đêm điều tra quan sát thú với tổng chiều dài 50 km trên các tuyến giám sát, tổng số 78 loài thú thuộc 26 họ, 10 bộ đã được ghi nhận (Bảng 1). 
Bảng 1. Danh sách các loài thú ghi nhận được tại điểm nghiên cứu.
  
TT
Tên Vit Nam
Tên khoa học
TL
SĐVN
2007
NĐ
32
IUCN
2010

I. BỘ CÓ VÒI
PROBOSCIDEA Illiger, 1811





1. HVoi
Elephantidae Gray, 1821




1.
Voi châu á
Elephas maximus Linnaeus, 1758
AC
CR
IB
EN

II. BỘ NHIỀU RĂNG
SCANDENTIA Wagner, 1855





2. HĐồi
Tupaiidae Gray, 1825




2.
Đồi
Tupaia belangeri (Wagner, 1841)
M




III. BỘ LINH TRƯNG
PRIMATES Linnaeus, 1758





3. Họ Cu li
Lorisidae Gray, 1821




3.
Cu li nhỏ
Nycticebus pygmaeus Bonhote, 1907
QSM
VU
IB
VU

4. Họ Khỉ
Cercopithecidae Gray, 1821




4.
Khỉ mt đỏ
Macaca arctoides (I.Geoffroy, 1831)
QSM
VU
IIB
VU
5.
Khỉ đuôi dài
Macaca fascicularis (Raffles, 1821)
QSM



6.
Khỉ đuôi lợn
Macaca leonina (Blyth, 1863)
QSM
VU
IIB
VU
7.
Cvá chân đen
Pygathrix nigripes (Milne-Edwards,
1871)
QSM
EN
IB
EN
8.
Voọc bạc
Trachypithecus  germaini (Milne- Edwards, 1876)
ĐT
VU
IB
DD

5. Họ Vưn
Hylobatidae, Gray, 1871




9.
ợn đen má vàng
Nomascus gabriellae Thomas, 1909
QSM
EN
IB
VU

IV. BỘ TH
LAGOMORPHA Brandt, 1855





6. Họ Thỏ rng
Leporidae Fischer, 1817




10.
Thỏ nâu
Lepus peguensis Blyth, 1855
QSM




V. BỘ CHUỘT CHÙ
SORICOMORPHA Gregory, 1910





7. Họ Chuột chù
Soricidae G. Fischer, 1814




11.
Chuột cđuôi đen
Crocidura attenuata Milne-Edwards,
1872
M



12.
Chuột c
Crocidura sp.
M



13.
Chuột cnhà
Suncus murinus (Linnaeus, 1766)
M




8. Họ Chuột chũi
Talpidae G. Fischer, 1814




14.
Chuột chũi
Euroscaptor sp.
M



15.
Chuột chũi mũi dài
Euroscaptor longirostris (Milne- Edwards, 1870)





VI. BỘ DƠI
CHIROPTERA Blumbach, 1779





9. Họ Dơi qu
Pteropodidae Gray, 1821




16.
Dơi ccánh ngn
Cynopterus brachyotis (Müller, 1838)
M
VU


17.
Dơi ccánh dài
Cynopterus sphinx (Vahl, 1797)
M

18.
Dơi cáo nâu
Rousettus leschenaulti (Desmarest,
1820)
M
19.
Dơi quả không đuôi lớn
Megaerops niphanae Yenbutra and
Felten, 1983
M
20.
Dơi quả lưỡi dài
Eonycteris spelaea (Dobson, 1871)
M

10. Họ Dơi lá mũi
Rhinolophidae Gray, 1825

21.
Dơi mũi nhọn
Rhinolophus acuminatus Peters, 1871
M
22.
Dơi đuôi
Rhinolophus affinis Horsfield, 1823
M
23.
Dơi sa-đen
Rhinolophus chaseli (Sanborn, 1939)
M
24.
Dơi mũi nhỏ
Rhinolophus pusillus Temminck, 1834
M
25.
Dơi trung hoa
Rhinolophus cf. sinicus Andersen,
1905
M

11. Họ Dơi nếp mũi
Hipposideridae Lydekker, 1891

26.
Dơi nếp mũi quạ
Hipposideros armiger  (Hodgson,
1835)
M
27.
Dơi nếp mũi xám
Hipposideros larvatus (Horsfield, 1823)
M
28.
Dơi nếp mũi xinh
Hipposideros pomona K. Andersen,
1918
M

12. Họ Dơi ma
Megadermatidae H. Allen, 1864

29.
Dơi ma nam
Megaderma spasma (Linnaeus, 1758)
M

13. Họ Dơi mui
Vespertilionidae Gray, 1821

30.
Dơi muỗi ngón lớn
Glischropus tylopus (Dobson, 1875)
M
31.
Dơi chân đm tht
Tylonycteris pachypus (Temminck,
1840)
M
32.
Dơi rô-bút
Tylonycteris robustula Thomas, 1915
M
33.
Dơi tai nam á
Myotis ater  (Peters, 1866)
M
34.
Dơi tai ngón lớn
Myotis cf. rosseti (Oey, 1951)
M 




35.
Dơi mũi nhẵn xám
Kerivoula hardwickii (Horsfield, 1824)
M



36.
Dơi mũi nhẵn
Kerivoula papillosa (Temminck, 1840)
M




VII. BỘ TÊ TÊ
PHOLIDOTA Weber, 1904





14. Họ Tê tê
Manidae Gray, 1821




37.
tê ja va
Manis javanica Desmarest, 1822
QSM
EN
IIB
LR/nt

VIII. BĂN THT
CARNIVORA Bowdich, 1821





15. Họ Mèo
Felidae Fischer de Waldheim, 1817




38.
Báo lửa
Catopuma temminckii (Vigors and
Horsfield, 1827)
ĐT
EN
IB
VU
39.
Mèo rừng
Prionailurus bengalensis (Kerr, 1792)
QSM

IB

40.
Báo hoa mai
Panthera pardus (Linnaeus, 1758)
ĐT
CR
IB


15. Họ Cy
Viverridae Gray, 1821




41.
Cầy vòi mốc
Paguma larvata (C. E. H. Smith, 1827)
ĐT



42.
Cầy vòi đốm
Paradoxurus hermaphroditus (Pallas,
1777)
M



43.
Cầy giông
Viverra zibetha Linnaeus, 1758
M



44.
Cầy hương
Viverricula indica (É.Geoffroy Saint- Hilaire, 1803)
M




16. Họ Cy lỏn
Herpestidae Bonaparte, 1845




45.
Cầy lỏn tranh
Herpestes javanicus (É. Geoffroy
Saint-Hilaire, 1818)
QS



46.
Cầy móc cua
Herpestes urva (Hogdson, 1836)
?




17. Họ Gấu
Ursidae Fischer de Waldheim, 1817




47.
Gấu c
Helarctos malayanus  (Raffles, 1821)
ĐT
EN
IB
DD

18. Họ Chồn
Mustelidae Fischer, 1817




48.
Rái cá vuốt bé
Aonyx cinerea (Illiger, 1815)
ĐT
VU
IB
NT
49.
Rái cá thường
Lutra lutra (Linnaeus, 1758)
ĐT
VU
IB
NT
50.
Rái cá lông t
Lutrogale perspicillata (I. Geoffroy
Saint-Hilaire, 1826)
ĐT
EN
IB
VU
51.
Lửng lợn
Arctonyx collaris F. G. Cuvier, 1825
ĐT



52.
Chồn vàng
Martes flavigula (Boddaert, 1785)
QSM



53.
Chồn bạc má nam
Melogale personata I. Geoffroy Saint- Hilaire, 1831
M




IX. BỘ NG GUỐC NGÓN CHN
ARTIODACTYLA Owen, 1848





19. Họ Ln rng
Suidae Gray, 1821




54.
Lợn rừng
Sus scrofa Linnaeus, 1758
QSM




20. Họ Cheo cheo
Tragulidae Milne Edwards, 1864




55.
Cheo cheo nam dương
Tragulus  kanchil (Raffles, 1821)
M
VU
IIB


21. Họ Hươu nai
Cervidae Goldfuss, 1820




56.
Hươu vàng
Axis porcinus (Zimmermann, 1780)
ĐT
EN
IB

57.
Mang thường
Muntiacus muntjak (Zimmermann,
1780)
M



58.
Nai
Rusa unicolor  (Kerr, 1792)
ĐT
VU

VU

22. Họ Trâu bò
Bovidae Gray, 1821




59.
Bò tót
Bos frontalis Lambert, 1804
AC
EN
IB
V






60.
Bò rừng
Bos javanicus d’ Alton, 1823
ĐT
EN
IB
EN

X. BỘ GM NHM
RODENTIA Bowdich, 1821





23. Họ Sóc
Sciuridae Fischer de Waldheim,
1817




61.
Sóc đen
Ratufa bicolor (Sparrman, 1778)
QS
VU


62.
Sóc bay đen trng
Hylopetes cf. alboniger (Hodgson,
1836)
QS
VU
IIB
EN
63.
Sóc bay trâu
Petaurista philippensis (Elliot, 1839)
AC
VU


64.
Sóc chân vàng
Callosciurus flavimanus Geoffroy, 1831
M

65.
Sóc mõm hung
Dremomys rufigenis (Blanford, 1878)
M
66.
Sóc vằn lưng
Menetes berdmorei (Blyth, 1849)
M
67.
Sóc chuột lửa
Tamiops rodolphii (Milne-Edwards,
1867)
M

24. Họ Dúi
Spalacidae Gray, 1821

68.
Dúi mốc lớn
Rhizomys pruinosus Blyth, 1851
M

25. Họ Chuột
Muridae Illiger, 1811

69.
Chuột đt
Bandicota savilei Thomas, 1916
M
70.
Chuột mc
Berylmys berdmorei (Blyth, 1851)
M
71.
Chuột núi đuôi dài
Leopoldamys sabanus (Thomas, 1887)
M
72.
Chuột su-ri
Maxomys surifer (Miller, 1900)
M
73.
Chuột nhắt nhà
Mus musculus Linnaeus, 1758
M
74.
Chuột lang-bi-an
Niviventer langbianis (Robinson et
Kloss, 1922)
M
75.
Chuột rừng đông dương
Rattus cf. andamanensis (Blyth, 1860)
M
76.
Chuột nhà
Rattus tanezumi Temminck, 1844
M

26. Họ Nhím
Hystricidae G. Fischer, 1817

77.
Đon
Atherurus macrourus  (Linnaeus, 1758)
QSM
78.
Nhím đuôi ngắn
Hystrix brachyura Linnaeus, 1758
QSM

Ghi chú: ĐT: điều tra; QS: quan sát; MS: quan sát mẫu; AC: ảnh chụp; M: mẫu; TL: tư liệu; NĐ 32: Nghị Định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30 tháng 3 năm 2006; IB: Thực vật rừng, động vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại; IIB: Thực vật rừng, động vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại; SĐVN: Sách Đỏ Việt Nam (2007): CR: Rất nguy cấp; EN: nguy cấp; VU: sẽ nguy cấp; IUCN: Danh lục Đỏ IUCN (2010): EN: nguy cấp; VU: sẽ nguy cấp; LR/nt: sắp nguy cấp; NT: DD: thiếu dẫn liệu. 

Tính đa dạng

Qua thành phần các loài thú ghi nhận được cho thấy, Bộ Dơi Chiroptera chiếm ưu thế rõ rệt về số loài tại các địa điểm nghiên cứu, với tổng số 5 họ (chiếm 19,23% tổng số họ ghi nhận được tại khu vực nghiên cứu), 20 loài (chiếm 25,64% tổng số loài ghi nhận được ở khu vực nghiên cứu và chiếm 18,70% tổng số loài dơi của cả nước). Tiếp đến là bộ Gặm nhấm Rodentia với 4 họ (chiếm 15,38% tổng số họ ghi nhận được) và 18 loài (chiếm 23,08% tổng số loài ghi nhận được); bộ thú Ăn thịt Carnivora với 5 họ (chiếm 19,23% tổng số họ ghi nhận được), 16 loài (chiếm 20,51% tổng số loài ghi nhận được); bộ thú Linh trưởng Primates và bộ Móng guốc ngón chẵn Artiodactyla đều ghi nhận được 7 loài (chiếm 8,97% tổng số loài ghi nhận được). 
Bộ Chuột chù Soricomorpha (2 họ, 4 loài) chưa đánh giá được hết tiềm năng đa dạng của nhóm trong khu vực, do vào các thời điểm điều tra đều gặp các điều kiện bất lợi về thời tiết. Tuy nhiên, có 1 mẫu của loài Chuột chũi Eurocaptor sp. và 1 mẫu của loài chuột chù Crocidura sp. vẫn đang được tiếp tục phân tích và sẽ được công bố trong thời gian sớm nhất. 
Các bộ còn lại là Bộ Voi Proboscidea (1 họ, 1 loài), Bộ nhiều răng Scandenta (1 họ, 1 loài), bộ Thỏ Lagormopha (1 họ, 1 loài) và bộ Tê tê Pholidota (1 họ, 1 loài) là những bộ có số lượng loài ít thì đều ghi nhận được phân bố của loài tại khu vực nghiên cứu. 
Các họ chiếm ưu thế là những họ ghi nhận được từ 5 loài trong họ trở lên. Qua kết quả nghiên cứu cho thấy, các họ chiếm ưu thế gồm: Họ Chuột Muridae có số loài nhiều nhất (8 loài, chiếm 10,26% tổng số loài ghi nhận được tại khu vực nghiên cứu); tiếp đến là họ Sóc (7 loài, chiếm 8,97% tổng số loài); họ Chồn Mustenidae, họ Dơi muỗi Vespertilionidae (6 loài, chiếm 7,69% tổng số loài), các họ Khỉ Cercopithecidae, họ Dơi quả Pteropodidae và họ Dơi lá mũi Rhinolophidae đều ghi nhận được 5 loài (chiếm 6,41% tổng số loài). 
Các loài chiếm ưu thế: được đánh giá dựa trên số lượng mẫu vật thu thập được của loài (từ 5 mẫu vật trở lên) cùng với quan sát thực tế ngoài thiên nhiên ở tất cả các địa điểm trong khu vực nghiên cứu. Qua kết quả điều thu thập được cho thấy, các loài chiếm ưu thế chủ yếu tập trung vào bộ Dơi Chiroptera, gồm các loài Dơi lá mũi nhỏ Rhinolophus acuminatus, Dơi chân đệm thịt Tylonycteris pachypus, Dơi chó cánh dài Cynopterus sphinx, Dơi chó cánh ngắn Cynopterus brachyotis, Dơi nếp mũi xám Hipposideros larvatus, Dơi lá trung hoa Rhinolophus cf. sinicus, Dơi mũi nhắn xám Kerivoula hardwickii, Dơi tai nam á Myotis ater, bộ Linh trưởng Primates, gồm các loài: Khỉ đuôi dài Macaca fascicularis, Chà vá chân đen Pygathrix nigripes; bộ Ăn thịt Carnivora, gồm các loài: Cầy vòi mốc Paguma larvata, Cầy vòi đốm Paradoxolophus hermaphroditus; bộ Móng guốc ngón chẵn Artiodactyla, gồm các loài: Lợn rừng Sus scrofa, Cheo cheo nam dương Tragulus kanchil; bộ Gặm nhấm Rodentia, gồm các loài Sóc chân vàng Callosciurus flavimanus, Sóc chuột lửa Tamiops rodolphii và Chuột suri Maxomyx surifer. 

Loài hiếm và giá trị bảo tồn 

Đã xác định được 24 loài hiếm (chiếm 30,777% tổng số ghi nhận được tại khu vực nghiên cứu và 23,08% tổng số loài quí hiếm của cả nước) trong đó thuộc Nghị Đinh 32/2006/NĐ-CP ghi nhận được 20 loài, với 15 loài thuộc nhóm IB (chiếm 35,71% tổng số loài trong Nghị Định), 5 loài thuộc nhóm IIB (chiếm 11,90% tổng số loài trong Nghị Định); thuộc Sách Đỏ Việt Nam (2007) ghi nhận được 23 loài (chiếm 26,74% tổng số loài ghi nhận trong Sách Đỏ Việt Nam), trong đó có 2 loài mức CR (chiếm 2,33% tổng số loài ghi nhận trong Sách Đỏ Việt Nam), 9 loài mức EN (chiếm 10,46% tổng số loài ghi nhận trong Sách Đỏ Việt Nam), 12 loài mức VU (chiếm 13,95% tổng số loài ghi nhận trong Sách Đỏ Việt Nam); và thuộc Danh lục đỏ IUCN (2010) ghi nhận được 17 loài (chiếm 21,33% tổng số loài thú của Việt Nam ghi nhận trong Danh lục đỏ IUCN), trong đó có 4 loài mức EN (chiếm 5,33% tổng số loài thú Việt Nam trong Danh lục đỏ IUCN), 8 loài mức VU (chiếm 9,33% tổng số loài thú Viêtn Nam trong Danh lục đỏ IUCN), 1 loài mức LR/nt (chiếm 1,33% tổng số loài thú Việt Nam trong Danh lục đỏ IUCN), 2 loài mức NT (chiếm 2,66% tổng số loài thú Việt Nam trong Danh lục đỏ IUCN), 2 loài mức DD (chiếm 2,66% tổng số loài thú Việt Nam trong Danh lục đỏ IUCN). 

Một số tác động đến sinh cảnh sống của động vật trong khu vực 

Hiện tượng bẫy bắt động vật hoang dã vẫn lén lút xảy ra tại khu vực nghiên cứu. Trong suốt thời gian khảo sát, ghi nhận được một số loài động vật hoang dã bị tịch thu bởi lực lượng kiểm lâm của khu bảo tồn trong đó có những loài thuộc nhóm IB, nhóm nghiêm cấm khai thác thuộc Nghị Định 32 của Chính Phủ. Bên cạnh đó, hiện tại trong khu bảo tồn đang xảy ra hiện tượng xung đột giữa quần thể voi tự nhiên với người dân địa phương. Việc vài cá thể voi đã bị chết trong khu bảo tồn là một điều đáng báo động cho việc xung đột lên đến đỉnh điểm của động vật hoang dã cỡ lớn này với cộng đồng cư dân địa phương và cần được can thiệt của cấp chính quyền địa phương. 

Như vậy:  

- Đã ghi nhận được 78 loài thú thuộc 26 họ, 10 bộ tại khu vực nghiên cứu. 
- Bộ Dơi Chiroptera chiếm ưu thế rõ rệt về số loài tại các địa điểm nghiên cứu, tiếp đến là bộ Gặm nhấm Rodentia, bộ thú Ăn thịt Carnivora, bộ Linh trưởng Primates, bộ Móng guốc ngón chẵn Artiodactyla, Bộ Chuột chù Soricomorpha Bộ Voi Proboscidea, Bộ nhiều răng Scandenta, bộ Thỏ Lagormopha và bộ Tê tê Pholidota. 
- Đã xác định được 24 loài hiếm, trong đó thuộc Nghị Đinh 32/2006/NĐ-CP ghi nhận được 20 loài, thuộc Sách Đỏ Việt Nam (2007) ghi nhận được 23 loài và thuộc Danh lục đỏ IUCN (2010) ghi nhận được 16 loài. 
- Việc săn bắt động vật hoang dã tại khu bảo tồn vẫn đang là lo ngại cho công tác quản lý của Khu bảo tồn, đặc biệt là vấn đề xung đột giữa quần thể voi hoang dã và cộng đồng cư dân địa phương (biodivn.blogspot.com)

Tài liệu tham khảo: Đặng Huy Phương, Lê Xuân Cảnh, Nguyễn Trường Sơn, Nguyễn Hoàng Hảo, Tạp chí Công nghệ Sinh học 8(3A): 1031-1038, 2010
Xem thêm: