13/06/2014

Đại cương về quản lý đa dạng sinh học

(Tiếp theo: ) 
(biodivn.blogspot.com) Quản lý đa dạng sinh học là sự quan tâm, chăm sóc đối với tài nguyên thiên nhiên, các HST, các loài và nguồn tài nguyên di truyền, hay đối với một địa phương, một vùng, một lưu vực, những nơi có giá trị cao về bảo tồn. Quản lý đa dạng sinh học liên quan đến việc xác định các đối tượng, đề xuất các biện pháp bảo vệ, ngăn chặn sự suy thoái, hồi phục các HST, các sinh cảnh, các loài có nguy cơ bị tiêu diệt và sử dụng hợp lý và bền vững các loài và tài nguyên sinh học. Có nhiều nhiều cách tiếp cận, phương pháp và công cụ khác nhau để quản lý đa dạng sinh học. Tuỳ điều kiện cụ thể của mỗi nước mà chọn lựa cách tiếp cận, phương pháp và công cụ cho phù hợp. 
Bối cảnh của quản lý ĐDSH
Việc lựa chọn các phương pháp và công cụ cho việc quản lý đa dạng sinh học sẽ tuỳ thuộc vào trình độ hiểu biết hiện có của đa số nhân dân, của các cấp lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể quần chúng. Ở đâu trình độ hiểu biết thấp, các hoạt động khởi đầu là phải tập trung vào việc tuyên truyền phổ biến các thông tin, đồng thời tổ chức các mô hình trình diễn. Ngược lại, nếu nơi đó có trình độ hiểu biết cao, thì các hành động có thể nhằm trực tiếp vào việc củng cố, xây dựng khu bảo tồn, phát triển các chương trình bảo tồn đa dạng sinh học, hoặc thực hiện các biện pháp sử dụng bền vững các HST, các tài nguyên sinh học.
Cách tiếp cận về quản lý ĐDSH có thể thay đổi một cách đáng kể tuỳ theo mức độ phát triển kinh tế của địa phương. Điều rõ ràng là ở các nước đang phát triển hay các địa phương có tỷ lệ nghèo cao, điều đầu tiên cần chú ý là công tác xoá đói giảm nghèo, giảm bớt những khó khăn về kinh tế. Trong trường hợp mà việc cạnh tranh về tài nguyên của dân chúng căng thẳng, dễ dẫn đến mâu thuẫn, thì cần chọn lựu biện pháp thích hợp. Ví dụ, phá rừng để sản xuất lương thực hay giữ rừng ở tình trạng nguyên vẹn để tổ chức du lịch sinh thái hay các dịch vụ khác của ĐDSH ? Chọn lựa cách nào có lợi nhất, lâu dài, bền vững đều phải được sự đồng thuận của cộng đồng.
Kết quả của quản lý ĐDSH cũng tuỳ thuộc vào môi trường chính trị và tổ chức của địa phương. Ở tầm quốc gia, các chính sách có thể có ảnh hưởng thuận lợi hay bất lợi cho công tác bảo tồn và sử dụng ĐDSH.
Các kiến thức bản địa và nhân dân địa phương có thể cung cấp những biện pháp hết sức hữu hiệu về bảo tồn ĐDSH với những kinh nghiệm và những nhận xét rất có ý nghĩa và rất thực tiễn. 
Quản lý ĐDSH là công việc cần thiết phải có sự tham gia của nhiều ngành. Các nhà sinh vật học, kinh tế học, nhân chủng học, lâm nghiệp, nông nghiệp, các nhà khoa học về biển... và được nhiều tổ chức quần chúng, các cấp chính quyền cùng tham gia thì thành công sẽ vững chắc.
Quản lý ĐDSH là sự quản lý đa ngành. Đa dạng di truyền trong các loài mà chúng ta nuôi trồng có quan hệ hết sức mật thiết với các loài bà con sinh sống trong thiên nhiên và chính các loài này cung cấp những khả năng hết sức lớn cho nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản. Nhìn chung các sản phẩm ngắn ngày của nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản không ảnh hưởng trực tiếp đến ĐDSH; tuy nhiên sự suy giảm đa dạng trong các HST sẽ lại tác động đến các ngành nói trên như khả năng phục hồi, mở rộng khả năng sản xuất, ổn định năng suất hay tăng năng suất. Cũng có một số ngành không liên quan trực tiếp lên ĐDSH như ngành giao thông, chế tạo, năng lượng, khai khoáng.. nhưng lại có vai trò lớn trong việc làm suy thoái tính đa dạng các HST, các loài, chủng quần và cả mức độ di truyền. 
Nội dung của các chính sách quốc gia về ĐDSH sẽ ảnh hưởng rất lớn đến cách chọn lựa các phương pháp và công cụ phù hợp với với những nét đặc thù của quốc gia về văn hoá, lịch sử, xã hội, kinh tế và sinh thái.
Các kết quả của chương trình bảo tồn ĐDSH sẽ tuỳ thuộc vào khả năng đưa các hợp phần và các đề mục về bảo tồn và sử dụng bền vững ĐDSH vào trong kế hoạch tổng hợp về kinh tế xã hội của quốc gia hay của địa phương. Tuy nhiên, dù theo cách chọn lựa sinh học hay kỹ thuật, kế hoạch hành động thường dễ bị thất bại nếu như không lưu ý đến vai trò quan trọng của việc nâng cao nhận thức cho cộng đồng, cộng tác với cộng đồng địa phương, tôn trọng kiến thức bản địa, vấn đề xoá đói giảm nghèo và các vấn đề chính trị xã hội của địa phương.
Cách tiếp cận quản lý ĐDSH trong điều kiện phức tạp của xã hội
Các chương trình quản lý ĐDSH đã thực hiện ở nhiều nước trên thế giới chỉ ra những kết quả đáng kinh ngạc khi thực hiện trong trường hợp rất phức tạp bằng cách sử dụng ba tiếp cận sau: xây dựng chiến lược; quản lý theo quy mô vùng hay HST và sử dụng các kỹ thuật quản lý phù hợp.
Trong tất cả các cách tiếp cận, sự tham gia rộng rãi của nhiều thành phần là điều chủ yếu cho thành công. Nhân dân, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ và nhiều cơ quan có liên quan (như cơ quan quản lý tài nguyên thiên nhiên, các trường đại học, các viện, bảo tàng, khu bảo tồn, các cộng đồng dân cư...) cần tham gia vào công việc xây dựng quy hoạch và thực thi chương trình quản lý ĐDSH. Ví dụ kinh nghiệm soạn thảo Chiến lược quốc gia về ĐDSH và các kế hoạch hành động tại các nước đã phát triển và đang phát triển đã chứng minh điều đó (Miller and Lanou 1995). Một số công trình nghiên cứu (như Kiss, 1990, Lynch 1992; Wells 1995; Võ Quý 1997) đã cho rằng chỉ bằng cách có sự tham gia rộng rãi của nhiều thành phần khi xây dựng dự án thì mới lôi kéo được sự chú ý của nhân dân địa phương khi thực thi các dự án.
Để cho việc quản lý ĐDSH tại một nước hay một địa phương thành công, không những phải tuỳ thuộc vào điều kiện thiên nhiên và kinh tế xã hội của từng vùng, từng nước, từng địa phương để xây dựng kế hoạch quản lý: xây dựng Chiến lược bảo tồn ĐDSH, Qui hoạch ĐDSH, chương trình, dự án...Khi thực hiện các công việc nói trên cũng cần phải tuân theo các quy ước, các công ước quốc tế có liên quan. Việc quản lý ĐDSH có liên quan rất mật thiết đến công tác đánh giá tác động môi trường, không những đối với các chương trình và dự án bảo tồn ĐDSH mà cả những chương trình và dự án phát triển khác có liên quan đến sử dụng đất đai, rừng, biển, ĐNN... và các loại tài nguyên sinh học, các thành phần của ĐDSH.
Ở nước ta, để thực hiện việc bảo tồn ĐDSH, Chiến lược Quản lý Hệ thống Khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010 đề xuất các cách tiếp cận sau:
- Tăng cường quản lý liên ngành trên cơ sở xác định rõ cơ quan đầu mối theo đúng những quy định tại Luật Tổ chức Chính phủ và Nghị định của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các Bộ trong lĩnh vực quản lý nhà nước;
- Gắn chặt nhiệm vụ bảo tồn và phát triển bền vững để phát huy đầy đủ tiềm năng, lợi thế của tài nguyên thiên nhiên và tính ĐDSH hiện có, tạo nên những nguồn lực mới ngay từ các khu bảo tồn thiên nhiên đã thiết lập để quản lý bền vững và lâu dài;
- Xã hội hoá công tác bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và ĐDSH. 
Chiến lược cũng đưa ra các nguyên tắc: “Nguyên tắc cơ bản là phát triển bền vững: Phải đảm bảo phát triển trước mắt không làm tổn hại đến tương lai và quản lý bảo vệ tốt tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn ĐDSH của đất nước, cụ thể là:
- Quản lý khu bảo tồn thiên nhiên và vùng đệm cần có sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa các ngành, cấp từ Trung ương đến địa phương bằng cơ chế, kế hoạch cụ thể. Đảm bảo thực hịên các nguyên tắc trên cơ sở tổng hợp, bao gồm cả bảo tồn nguồn gen, loài và HST; phòng chống các nguy cơ có thể gây tổn thất cho những giá trị này ;
- Kế hoạch quản lý và tổ chức thực hiện các hoạt động bảo tồn thiên nhiên phải tham khảo đầy đủ nguyện vọng về kinh tế và thu hút sự tham gia của các cộng đồng dân cư sống xung quanh khu bảo tồn thiên nhiên. Nâng cao nhận thức về giá trị kinh tế, môi trường và khoa học của bảo tồn thiên nhiên và phát huy vai trò quản lý nhà nước của Uỷ ban nhân dân các cấp, đặc biệt là cấp xã, huyện đối với lĩnh vữc quản lý tài nguyên thiên nhiên và quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên trên địa phận hành chính của xã, huyện ;
- Trong các khu bảo tồn thiên nhiên, cần ưu tiên lập kế hoạch quản lý và khẩn trương hành động một cách có hiệu quả ở nơi có nguy cơ bị đe doạ cao như nguy cơ tuyệt chủng của các loài sinh vật bản địa hay gây tổn hại tới HST ;
- Thường xuyên cập nhật, tham khảo các kết quả nghiên cứu và thông tin mới để nâng cao hiệu quả quản lý và theo rõi kết quả thực hiện các giải pháp quản lý mới ;
- Tìm hiểu đầy đủ và nhận thức đúng đắn các thông tin về truyền thống sử dụng và mối quan hệ đặc biệt của các nhóm dân tộc thiểu số với tài nguyên đất đai và ĐDSH.
- Chính phủ cần quan tâm hỗ trợ có hiệu quả cho công tác quản lý khu bảo tồn thiên nhiên thông qua ưu tiên cấp vốn đầu tư hàng năm từ ngân sách Nhà nước và các hoạt động hỗ trợ thích hợp khác”. (biodivn.blogspot.com) 
Tài liệu tham khảo: Đa dạng Sinh học và Bảo tồn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005. 
Xem thêm: