09/06/2014

Bảo vệ các loài, chủng quần và nguồn tài nguyên gien

Loài lan hài Paphiopedilum emersonii được Danh lục đỏ thế giới IUCN phân hạng Critically Endangered (Rất nguy cấp). Ở Việt Nam loài này phân bố ở Tuyên Quang, nhưng hiện tại không rõ chúng còn ngoài tự nhiên nữa không do chúng là đối tượng săn tìm của những người chơi hoa.
(Tiếp theo: ) 
(biodivn.blogspot.com) Có nhiều biện pháp để bảo tồn đa dạng sinh học. Biện pháp có hiệu quả nhất, trước hết phải nói đến biện pháp ngăn ngừa sự suy thoái sinh cảnh và hệ sinh thái (HST) đã được trình bày ở trên. Hiện nay vẫn chưa có biện pháp khác thay thế để bảo tồn tính đa dạng của sinh cảnh và HST. Tuy nhiên những biện pháp này cũng cần được bổ sung bằng một loạt các kỷ thuật để bảo vệ một số loài riêng biệt, một số chủng quần hay nguồn gen có nguy cơ suy thoái nhanh hay bị tiêu diệt. Đó là các biện pháp bảo vệ trong điều kiện thiên nhiên – nguyên vi (in situ) hay bảo vệ ngoài nơi sinh sống tự nhiên – chuyển vị (ex situ) như bảo vệ trong các vườn thực vật, vườn thú, trạm cứu hộ, ngân hàng gen ...
Trong khoảng thời gian 500 năm qua, tốc độ diệt chủng các loài trong thiên nhiên đã tăng lên rất nhanh, trong đó các hoạt động của loài người chịu phần trách nhiệm chính về việc huỷ hoại nơi sinh sống của các loài và cả việc giết hại, khai thác các loài một cách quá mức. Chúng ta có thể thấy rõ sự suy thoái của các loài thú lớn, các loài chim và một số loài cây, nhưng còn biết bao nhiêu loài động vật không xương sống, các loài nấm, rêu, và các vi sinh vật .. bị tiêu diệt mà chúng ta không hề biết. Ngoài sự tiêu diệt các loài mà chúng ta thấy được, sự suy thoái đa dạng sinh học (ĐDSH), các nguồn gen còn nghiêm trọng hơn nhiều mà chúng ta thường không chú ý đến vì rằng các loài đó không thấy có liên quan gì trực tiếp đến cuộc sống thường ngày của chúng ta. 
Ngày nay, hiểu biết của chúng ta đã khá hơn ở các mức độ khác nhau, từ các loài riêng biệt đến toàn bộ các loài, các sinh cảnh và các HST. Điều đó đã được thể hiện trong Công ước ĐDSH được ký kết tại Hội nghị LHQ về Môi trường và Phát triển (UNCED) tại Rio de Janeiro năm 1992. Nguồn tài nguyên di truyền cuối cùng đã được công nhận một cách hết sức đúng đắn là đối tượng ưu tiên cần được bảo vệ ở tất cả các HST.
Phân hạng các loài bị de doạ và nguy cấp, quản lý các loài và quy hoạch phục hồi:
Phân hạng các loài bị đe doạ và có nguy cấp. Từ khi IUCN thành lập Hội đồng cứu trợ các loàibị đe dọa (SSC) khoảng 40 năm trước đây, một số tiêu chí để đánh giá tình trạng bị đe doạ tuyệt chủng của các loài ngoài tự nhiên đã được đề xuất. Các loài đạt một trong các tiêu chuẩn đề ra được đưa vào Sách Đỏ. Nhiều nước đã xuất bản Sách Đỏ của nước mình. Việt Nam cũng đã công bố Sách Đỏ Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1992 và năm nay 2004 đang chuẩn bị cho xuất bản Sách Đỏ mới có sửa chữa. Mục đích của Sách Đỏ là để cung cấp những thông tin về các loài động, thực vật quý hiếm, có nguy cỏ bị tiêu diệt để có biện pháp ưu tiên bảo vệ và hồi phục.
Từ năm 1994, sau khi các tiêu chí mới được thông qua, IUCN đề đề xuất 6 hạng nguy cấp như sau: Tuyệt chủng (Extinct); Nguy cấp (Endangered); Sẽ nguy cấp (Vulnerable); Hiếm (Rare); Không xác định được (Indeterminate); và Biết không chính xác (Insufficiently Known). Thường thường thuật ngữ “nguy cấp” (endangered) được chỉ chung cho bất kỳ loài nào thuộc vào một trong trong 6 hạng nói trên. Tuy rằng các tiêu chuẩn đề ra rất hữu ích trong công tác bảo tồn, nhưng cũng có một số nhà khoa học chỉ trích là quá chủ quan, rất khó đánh giá. Ví dụ , “Đang nguy cấp” được định nghĩa là “những taxon đang bị đe doạ tuyệt chủng và không chắc còn có thể tồn tại nếu các nhân tố đe doạ cứ tiếp diễn. Gồm cả những taxon có số lượng giảm đến mức báo động, hoặc ở trong điều kiện sống bị suy thoái mạnh mẽ đến mức có thể bị tuyệt chủng”. Việc phân hạng được nhiều cơ quan khác nhau thực hiện và thường không phản ánh đúng tình trạng thật của loài được phân hạng (WCMC, 1992).
Vào năm 1987, Ban Điều hành SSC bắt đầu xem xét lại cách phân hạng các loài nguy cấp. Sau 7 năm, vào năm 1994 bản phân hạng mới đã được hoàn thành và được Hội nghị 1994 của CITES thông qua. Bản phân hạng mới này đề ra 10 hạng : Tuyệt chủng (Extinct); Tuyệt chủng ngoài thiên nhiên (Extinct in the wild); Rất nguy cấp (Critically Endangered); Nguy cấp (Endangered); Sẽ nguy cấp (Vulnerable); ít nguy cấp (Lower risk); Phụ thuộc bảo tồn (Conservation Dependent); Sắp bị đe doạ (Near Threatened); It lo ngại (Least Concern); Thiếu dẫn liệu (Data Deficient); và Không đánh giá được (Not Evaluated). Các tiêu chuẩn đánh giá được nêu khá chi tiết cho ba hạng đầu: Rất nguy cấp, Nguy cấp và Sẽ nguy cấp. Mỗi hạng đều xét theo 5 tiêu chí chung: (i) chủng quần và sinh cảnh bị suy thoái; (ii) diện tích sinh cảnh; (iii) chủng quần bị chia nhỏ hay phân cách; (iv) kích thước chủng quần; và (v) phân tích khả năng sống sót của chủng quần. Tuy cả ba hạng đều xét theo các tiêu chí như nhau, nhưng về số lượng của từng tiêu chí lại khác nhau. Ví dụ: kich thước của chủng quần cho hạng Rất nguy cấp là ít hơn 50 cá thể trưởng thành; cho hạng Nguy cấp là ít hơn 250 cá thể và hạng Sẽ nguy cấp là 1000. Để xếp một loài vào một phân hạng nào đó chỉ cần loài đó đạt một trong các tiêu chí trên là được (Mace và Stuard, 1994). Để xét các tiêu chí trên cho một loài nào đó cần tham khảo một cách rộng rãi các chuyên gia có liên quan.
Cách phân hạng mới khá cụ thể, dễ thực hiện đối với một số loài quen thuộc có nhiều thông tin , nhưng lại rất khó áp dụng đối với những loài có ít thông tin và vì thế cũng có một số chỉ trích là tiêu chí mới quá lệ thuộc vào số lượng, không mấy thực tiễn.
Kế hoạch phục hồi. Kế hoạch phục hồi thường được xem là một phần của quy hoạch quản lý các loài. Thông thường, mỗi khi các loài đã được xem xét và đưa vào Sách Đỏ của quốc gia thì đều phải đưa vào quy hoạch bảo tồn và phục hồi. Kế hoạch phục hồi loài thường được xây dựng theo thể thức chung trên thế giới gồm các phần sau:
Lời nói đầu: giới thiệu các thông tin về sinh thái loài và lý do tại sao bị suy thoái; Mục tiêu của kế hoạch là tạo mọi điều kiện để hạ thấp dần hạng nguy cấp cho đến lúc rút ra khỏi bảng phân hạng. Kế hoạch thường gồm các biện pháp bảo vệ như xây dựng khu bảo tồn hay là hồi phục nơi sinh sống của loài, nhưng cũng có thể xây dựng chủng quần nuôi sinh sản, thả trở lại thiên nhiên, hạn chế khai thác hay giảm bớt ô nhiễm môi trường, tuỳ theo tính chất suy thoái của mỗi loài. Phần cuối thường là lịch trình thực hiện, kinh phí cần thiết và cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện.
Trong thực tế, nhiều loài về lý thuyết được công nhận là loài nguy cấp nhưng không được đưa vào kế hoạch phục hồi hay bảo vệ vì nhiều lý do khác nhau nhưng chủ yếu là còn thiếu về thông tin khoa học và nguồn tài chính hạn chế. Các dự án bảo vệ các loài đã thực hiện cũng có khi bị thất bại vì không phù hợp, nhất là ít chú ý đến tình hình kinh tế xã hội địa phương. Ngày nay nhiều cơ quan bảo tồn đã bắt đầu biết đến tầm quan trọng của sự cộng tác với những cá nhân và những cộng đồng dân cư có liên quan trong việc thực hiện kế hoạch bảo tồn. Đó là một bước tiến rất có ý nghĩa trong công việc bảo tồn ĐDSH và hồi phục các loài. 
Về mặt kỷ thuật, kế hoạch phục hồi tuỳ thuộc vào một số yếu tố sau đây (Caughley, 1994):
- Kế hoạch phục hồi phải chẩn đoán được các nhân tố gây nên sự suy thoái của loài. Trong nhiều kế hoạnh các nguyên nhân gây suy thoái được nêu ra, nhưng không được trình bày một cách rõ ràng. Vì thế mà các biện pháp đề ra chưa phù hợp về thời gian và về kinh phí thực hiện;
- Kế hoạch phục hồi cần được tính đến tính khả thi của các phương án, mà không phải chỉ là một danh sách chung chung các phương án;
- Kế hoạch phục hồi được thực hiện bằng cách quản lý thích nghi, có nghĩa là các thành công hay thất bại đều được rút kinh nghiệm để bổ sung kịp thời cho các hành động tiếp theo. Các tiêu chí về số lượng cần được đề ra trong kế hoạch và được quan trắc, theo rõi trong khi thực hiện để có thể định giá được kết quả qua từng thời gian.
Để tránh được khiếm khuyết trong khi thực hiện kế hoạch phục hồi Caughley (1994) gợi ý các người thực hiện kế hoạch, trả lời 7 câu hỏi sau đây:
- Chúng ta muốn hoàn thành được việc gì ?
- Chúng ta có thể đạt được việc đó không?
- Chúng ta có biết được lúc nào thì đạt được ?
- Làm thế nào để chúng ta đạt được ?
- Phải chi phí bao nhiêu để đạt được ? 
- Khi đạt được thì có những lợi gì ? 
- Các lợi đó có lớn hơn chi phí không? (biodivn.blogspot.com).
Tài liệu tham khảo: Đa dạng Sinh học và Bảo tồn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005. 

Xem thêm: