09/06/2014

Bảo tồn tại chỗ các loài, chủng quần và nguồn gen

Loài thực vật Bách tán đài loan kín Taiwania criptomerioides được Danh lục đỏ thế giới IUCN phân hạng mức Sẽ nguy cấp (Vulerable) đang được bảo tồn tại chỗ tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn, Lào Cai. (Ảnh 2011) 
(Tiếp theo: ) 
(biodivn.blogspot.com) Biện pháp bảo tồn tại chỗ (in-situ hay nguyên vị, nội vi) các loài thường được nhấn mạnh trong trường hợp bảo tồn và quản lý các HST và quần xã để tránh sự mất mát các loài sinh sống trong đó. Kemp và đồng nghiệp (1993) cũng cho rằng thậm chí khi mà mục tiêu của bảo tồn là một số loài đặc biệt nào đó, cũng cần phải bảo tồn và quản lý toàn bộ quần xã -- cho đến khi còn chưa biết rõ tính phức tạp và mối tương tác giữa HST với các loài và chủng quần mục tiêu. Ví dụ, phần lớn các loài là những mắt xích của mạng thức ăn rất phức tạp bao gồm rất nhiều loài, mà một trong các loài đó lại có ý nghĩa quyết định về sự sinh tồn của loài mục tiêu. Do chưa hiểu biết hết các mối tương quan giữa các loài cho nên việc bảo tồn các sinh cảnh có thể là biện pháp khôn ngoan nhất. 
Cũng cần phải quản lý các loài về nguồn gen (các dạng, các chủng, phân loài) để đảm bảo được các dạng khác nhau về di truyên được tồn tại trong điều kiện môi trường thay đổi. Các dạng này nhiều khi rất có ý nghĩa về mặt hoạt động kinh tế của con người.
Mặc dầu đã có sự đồng nhất cơ bản về phương pháp luận nhưng trong thực tiễn việc bảo tồn HST và nguồn tài nguyên di truyền vẫn có một số khác nhau về mục tiêu và mức độ. Một số chương trình bảo tồn và quản lý HST chủ yếu hướng vào mức độ quần xã sinh vật – các loài và mối tương tác giữa các loài, còn một số chương trình bảo tồn và sử dụng nguồn tài nguyên di truyền lại tập trung chủ yếu vào việc quản lý các dạng di truyền trong và giữa các chủng quần (FAO, 1989). Các nhà sinh thái học và các chuyên gia về tài nguyên di truyền đều cùng quan tâm đến việc bảo tồn các loài, nhưng các phương pháp và chiến lược của họ lại khác nhau và có thể bổ sung cho nhau – nhưng lại không thay thế được cho nhau. 
Ví dụ, để giữ được tính ĐDDT của một loài chỉ có thể thực hiện được bằng cách bảo tồn những chủng quần lớn tại một số vùng khác nhau, trong lúc đó việc bảo tồn một loài cho bản thân nó lại có thể chỉ bảo vệ một phần HST với một chủng quần nhỏ của loài. Khi mà mục tiêu là giữ được toàn vẹn ĐDDT của một loài, cần phải có nhiều chủng quần khác nhau (Namkoong, 1986), và kích thước của chủng quần cần thiết phải mười lần lớn hơn chủng quần đủ để duy trì chính bản thân loài đó (Frankel, 1983). Frankel (1983) cho rằng các chuyên gia bảo tồn có thể phải đối mặt với ba vấn đề khi quyết định như thế nào và bằng cách nào để bảo tồn được ĐDDT của một loài:
- Cung cấp một diện tích sinh cảnh cần thiết đủ rộng để loài tồn tại và phát triển thích nghi mà không có sự can thiệp lớn. Cách làm này rất khó thực hiện trong nhiều trường hợp hiện nay và nhất là trong tương lai;
- Chấp nhận sự tuyệt chủng hay là chuyển loài từ thiên nhiên đến vườn bách thảo, vườn thú hay khu dự trữ khác khi mà sinh cảnh cần thiết cho loài không còn đáp ứng được nữa;
- Quản lý kích thước và cấu trúc chủng quần của loài đang bị đe doạ là mục tiêu chính của việc bảo tồn tại chỗ.
Mặc dầu vậy, việc bảo tồn nguồn tài nguyên di truyền bằng cách tại chỗ vẫn đang là một sự cố gắng rất lớn trong công tác bao tồn thiên nhiên nói chung ở tất cả mọi vùng trên thế giới. 
Có thể nêu lên bốn loại hình bảo tồn tại chỗ như sau:
- Quản lý ít hay không quản lý. Chiến lược này được áp dụng tại các VQG hay các khu bảo tồn khác mà ít hay không có sự tác động của con người, để bảo tồn được kích thước và cấu trúc các chủng quần của các loài hoang dã phát triển thuận lợi trong điều kiện tự nhiên. Theo các thông tin đã biết thì hiện nay, hầu như chỗ nào cũng khó tránh khỏi sự tác động của các hoạt động của con người, ngay cả tại những khu rừng nguyên sinh. Vì vậy, chiến lược này cũng phần nào “nhân tạo” như các chiến lược nói đến sau đây. Điều trở ngại lớn nhất cho chiến lược này là thiếu các thông tin về nhiều loài và điều không rõ ràng, là không thể biết được chính xác kết quả của việc bảo tồn ĐDDT mà không có sự quản lý, tại các HST tưởng là còn nguyên vẹn, nhưng thực ra đã có tác động của con người rồi;
- Quản lý vừa phải. Chiến lược này được áp dụng để bảo tồn các hình thức khai thác và săn bắn truyền thống của một số cộng đồng mà vẫn giữ được sinh cảnh với tính đa dạng loài – ít nhất là đối với một số loài có sự tác động - góp phần làm giàu thêm ĐDDT . Hiện chỉ có một khu bảo tồn ở Brazin đang thực hiện kiểu quản lý này, cho phép người dân địa phương được khai thác cây có nhựa theo kiểu truyền thồng, nhưng các hoạt động kinh tế khác lại bị hạn chế (khai thác gỗ, mở rộng nông nghịêp, khai khoáng v.v..) để khuyến khích sự phát triển bền vững. Phần lớn các trường hợp được xây dựng để thực hiện việc đưa lại lợi ích về kinh tế cho xã hội mà không phải để bảo tồn ĐDDT thường bị thất bại. Việc thu lợi do bảo tồn nguồn tài nguyên di truyền còn ít được biết đến, tuy nhiên vẫn được tiến hành ở nhiều nơi (Potter, 1993);
- Quản lý trung gian. Ở đâu mà nguồn tài ngyên sinh học đã được khai thác một cách rộng rãi và lâu dài, vẫn cần phải được tiếp tục tác động của con người để bảo tồn các loài và ĐDDT ở đó. Vào những năm 1950, các nhà khoa học Israel đã cố gắng bảo vệ chủng quần loài Avena khỏi bị tiêu diệt bằng cách ngăn chặn chăn thả. Tuy nhiên, do các loài thuộc chi Avena đã tồn tại cùng với sự chăn thả trong khoảng vài nghìn năm mà sự sống còn của chúng cần phải có sự tác động của chăn thả súc vật. Nếu không được chăn thả các loài này sẽ bị tiêu diệt. Trường hợp này đã trở thành một ví dụ điển hình về sự thất bại của “bảo tồn quá mức” đối với các loài cần có sự quấy nhiễu, kể cả sự quấy nhiễu của con người (Odum, 1971);
- Quản lý tích cực. Chiến lược này nhằm bảo tồn các loài được thuần hoá hay bán thuần hoá. Do sự đa dạng của các loài được thuần hoá hay bán thuần hoá phần lớn là kết quả của tác động nuôi trồng, vì vậy các chủng hay loài này chỉ có thể lưu giữ qua sự quản lý và tác động tích cực của con người. Để bảo tồn các kiểu ĐDDT này theo kiểu tại chỗ đòi hỏi phải thực hiện một số biện pháp sau đây. Thứ nhất, là phải tiếp tục thực hiện một số phương thức nuôi trồng truyền thống. Thứ hai, là tăng cường đa dạng hoá cây trồng và hệ thống nhân giống trong hệ nông nghiệp hiện đại. Cuối cùng là cần phải bảo tồn các sinh cảnh tự nhiên hay bán tự nhiên mà ở đó còn tồn tại các loài hoang dã có bà con với các loài nuôi trồng.
Tuy rằng nguyên tắc quản lý tại chỗ để bảo tồn các nguồn tài nguyên sinh học đã được biết từ lâu, nhưng tương đối còn có ít khu bảo tồn thực sự được quản lý tốt cho mục tiêu nói trên (Heywood, 1993). Khu bảo tồn Garo Hills ở ấn Độ là khu dự trữ để bảo tồn các giống cây cam quýt hoang dã và một số khu dự trữ khác đã được thành lập ở ấn Độ, Trung Quốc và Nga để bảo tồn các loài cây ăn quả hoang dã khác. ở ấn Độ có một số khu dự trữ các loài phong lan, ở Ethiopia có khu dự trữ cho cây cà phê hoang dã, và ở Hoa Kỳ khu rừng quốc gia Coronado là nơi bảo tồn loại ớt hoang dã (Capsicum annuum). ở Brazil cũng đã thành lập một số khu dự trữ để bảo tồn các loài cây hoang dã có ý nghĩa kinh tế quan trọng. 
Hiện nay cũng chưa biết rõ có bao nhiêu loài cây cần được quản lý theo chương trình bảo tồn tại chỗ. Trong lúc FAO đã thực hiện chương trình khảo sát tìm hiểu có bao nhiêu loài hoang dã liên quan đến các loài cây trồng cần thiết phải được bảo tồn tại chỗ (FAO, 1985), thì vẫn chưa có một cuộc khảo sát tương tự dành cho các loài cây có ý nghĩa kinh tế và khoa học.
Các chương trình bảo tồn tại chỗ đã được chú ý đến từ lâu và có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác bảo tồn ĐDSH. Các kỷ thuật về chuyển vị cũng đã được bắt đầu và ngày càng được chú ý và đã đem lại nhiều kết quả rất khả quan. (biodivn.blogspot.com).
Tài liệu tham khảo: Đa dạng Sinh học và Bảo tồn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005. 

Xem thêm: