13/06/2014

Bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ) các loài, chủng quần và nguồn gen

(Tiếp theo: n) 
(biodivn.blogspot.com) Các vườn thực vật, vườn động vật đã được thành lập từ rất lâu và đã lưu giữ được nhiều loài thực vật, động vật quý. Tuy nhiên mục tiêu chính đầu tiên là để thoả mãn thích thú về thẩm mỹ. Về sau, các cơ sở này đã dần trở thành các trung tâm nhân giống và thuần hoá các loài cây, con thu thập được từ thiên nhiên thành các loài có giá trị đối với con người trong môi trường mới (Smith, 1986). Trong khoảng 500 năm qua, nhiều vườn thực vật và vườn động vật ở các lục địa đã ngày càng trở nên những trung tâm nhân giống quan trọng những loài có ý nghĩa sử dụng rất đa dạng.
Do các trung tâm nông nghiệp và nghiên cứu khác đã xây dựng các sưu tập chất mầm, cây trồng, vật nuôi vào khoảng giữa thế kỷ XX, mà vai trò của các vườn thực vật và vườn động vật hiện nay chỉ hạn chế vào các loài ít hay không có ý nghĩa kinh tế. Tuy nhiên các vườn thực vật và vườn động vật lại có vai trò mới rất quan trọng vì càng ngày càng có nhiều loài đang bị đe doạ trong điều kiện tự nhiên cần được lưu giữ và nhân giống.
Các vườn thực vật
Trên thế giới hiện nay có khoảng hơn 1500 vườn thực vật, đang lưu giữ và trồng trọt một lượng rất lớn các loài thực vật, ước chừng khoảng 80 000 loài (bằng khoảng một phần tư số loài thực vật bậc cao) trong điều kiện nhân tạo, mỗi vườn khoảng vài trăm đến nhiều nghìn loài (Heywood, 1992). Ví dụ, vườn thực vật hoàng gia Kew ở Anh lưu giữ khoảng 38000 loài (khoảng 10% là những loài bị đe doạ). Phần lớn các vườn thực vật được xây dựng với mục đích lưu giữ một số loài tuỳ theo sự thích thú của các cán bộ hay chủ vườn mà rất ít vườn có một mục tiêu định trước.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, càng ngày càng có nhiều vườn đã thực hiện công việc bảo tồn nguồn tài nguyên thực vật là mục tiêu chính của vườn. Đã có hơn 500 vườn báo cáo về sưu tập bảo tồn và có hơn 100 vườn đã có ngân hàng hạt giống, có cơ sở hạ tầng để nuôi cấy mô và được trang bị một số kỷ thuật chuyển vị khác(Heywood 1992). Các chương trình nuôi trồng sinh sản – tương tự như nhân nuôi động vật tại các vườn động vật đã ngày càng phát triển tại các vườn thực vật. Các hoạt động này rất quan trọng đối với việc bảo tồn nhiều loài cây đã biến mất trong thiên nhiên. 
Một trong những chức năng quan trọng của các vườn thực vật là tham gia vào chương trình hồi phục các loài thực vật nguy cấp và các HST bị suy thoái. Các hoạt động thu thập, nhân nuôi, đưa trở lại thiên nhiên các loài nguy cấp và hồi phục các HST, tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa bảo tồn nguyên vị và chuyển vị sẽ góp phần quan trọng trong việc bảo vệ và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thực vật và bảo tồn ĐDSH. Cho đến nay đã có khoảng 200 loài thực vật được đưa vào các chương trình phục hồi. Hàng năm đã có khỏang 150 triệu người thăm các vườn thực vật (Primack 1995), như vậy các vườn thực vật cũng đã có vai trò rất quan trọng trong công tác giáo dục môi trường.
Các vườn động vật
Vai trò của các vườn động vật cũng rất quan trọng. Hiện nay đã có hơn 700000 cá thể động vật thuộc khoảng 3000 loài thú, chim, bò sát và ếch nhái được nuôi trong hơn 800 vườn thú chuyên nghiệp trên thế giới (IUCN, 1993). Cũng như các vườn thực vật, vai trò của các vườn động vật trong công tác bảo tồn ngày càng phát triển. Nhiều vườn động vật trên thế giới cũng đã tổ chức nhân nuôi thành công một số loài động vật nguy cấp và tham gia vào chương trình đưa trở lại thiên nhiên các loài đó. 
Các chủng quần của các loài nguy cấp được nuôi trong các vườn thú còn quá bé nhỏ, không đủ để lưu giữ tính đa dạng di tuyền của chúng. Ví dụ, trong số 274 loài thú nguy cấp có trong các vườn động vật chỉ có khoảng 10% là có chủng quần đủ lớn để giữ được tính ĐDDT cần thiết trước lúc đưa trở lại thiên nhiên. Nói chung, một chủng quần khoảng 250 cá thể trưởng thành mới đảm bảo được 95% tính ĐDDT của loài đó của khoảng 50 thế hệ. Trong số 62 loài thú được ghi trong Sách Đỏ của IUCN vào hạng nguy cấp hay đã bị tuyệt chủng trong thiên nhiên, 52 loài được nhân nuôi, nhưng có đến 14 loài chỉ có chủng quần rất bé tại một hay hai vườn động vật (Onney, 1993).
Nhiều vườn động vật trên thế giới đã mở rộng đầu tư xây dựng các tiện nghi mới, phát triển kỷ thuật để tổ chức việc nhân nuôi các loài hiếm và nguy cấp. Để hỗ trợ những cố gắng trên của các vườn động vật, Nhóm chuyên gia nhân nuôi thuộc Hội đồng SSC của IUCN sẽ cung cấp những thông tin về vườn động vật và những kỷ thuật về nhân nuôi. Để đề phòng những suy giảm về gen của các loài nhân nuôi, Hệ thống quốc tế về điều tra các loài cũng đã thu thập những tư liệu về nhân nuôi của 4200 động vật thuộc 395 vườn động vật thuộc 35 nước trên thế giới (Primack, 1995). Hiện nay đã có thông tin đầy đủ về 104 loài chim và thú, trong đó có 68 loài thuộc vào nhóm nguy cấp. Để mở rộng các chủng quần nhân nuôi của các loài hiện có tại một trong các vườn động vật, đã có sự hợp tác chặt chẽ giữa các vườn động vật lớn trên thế giới nhằm chia sẻ các kho dự trữ các loài nhân nuôi, các kho tinh đông khô, và kỷ thuật nhân nuôi v.v..
Việc thực hiện bảo tồn chuyển vị các loài động vật rất tốn kém vì thế không thể tổ chức cho nhiều loài cùng một lúc được mà chỉ tập trung cho một số loài cần thiết. Do đó việc bảo tồn nguyên vị vẫn rất cần thiết và ít tốn kém hơn nhiều.
Các trạm cứu hộ
Ngoài các vườn động vật nhiều nước còn tổ chức các trạm cứu hộ. Đầu tiên trạm cứu hộ được xây dựng để cứu hộ một số loài động vật bị thương, hay tịch thu được từ những kẻ săn trộm hay buôn bán động vật hoang dã trái phép hay con non bị mất bố mẹ. Trạm có nhiệm vụ chăm sóc cho đến lúc chúng khoẻ mạnh trở lại và sau đó được thả lại vào thiên nhiên. Một số trạm ngoài công việc cứu hộ đã chọn nhân nuôi một số cá thể của các loài nguy cấp thành một chủng quần nhân nuôi nhân tạo thành công. Ví dụ trạm cứu hộ các loài voọc, vượn Cúc Phương. Một số loài voọc, vượn quý, hiếm của Việt Nam đã sinh sản thành công tại đây, một số cá thể đang được tập dần để khi đã quen, không cần sự chăn sóc của con người nữa thì sẽ được thả trở lại vào thiên nhiên, nơi trước đây tổ tiên chúng đã sinh sống. 
Các ngân hàng gen
Đã hơn một thế kỷ qua, các cơ sở nghiên cứu nông nghiệp đã tổ chức đánh giá lại công tác bảo tồn nguồn gen. Họ đã nhận thấy rằng trong thời gian qua các tổ chức này đã chú ý nhiều đến nguồn gen của một số loại nông sản và các vật nuôi chủ yếu có ý nghĩa thương mại. Do nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có khan hiếm nguồn gen, giá cải tạo môi trường cao đi đôi với việc sử dụng các giống cao sản và do nguồn nước hiếm, mà đất trồng trọc bị suy thoái nhanh đã thúc đẩy các cơ quan này nghiên cứu sử dụng lại nhiều giống cây con đã được dùng trước kia và nhiều giống cây con mới khác mà khoa học ít biết đến.
Đã có suy đoán cho rằng tất cả các loài có ích hầu như đã được thuần hoá và đã đứng vững qua đánh giá của thời gian. Tuy nhiên ý kiến này vẫn còn nhiều điều cần bàn cãi. Ví dụ một số lớn các loài cọ hoang dã có tiềm năng sử dụng đã được thử nghiệm để thuần hoá mà con số ấy vẫn không bằng một nửa số cây của vùng Amazon, và có lẽ cũng tương tự như vậy tại các vùng nhiệt đới khác. Các loài hoang dã bà con với các loài đã được trồng trọt chính, ngày càng được phát hiện thêm, chưa nói đến nhiều loài hoang dã có tiềm năng sử dụng lớn, có trong thiên nhiên mà chúng ta chưa biết đến.
Các ngân hàng gen đã được tổ chức để bảo quản, lưu giữ phần lớn các giống, loài thực vật và động vật nuôi trồng theo cách chuyển vị. Đã có khoảng 4,6 triệu đơn vị chất mầm được lưu giữ tại các ngân hàng gen trên thế giới. Tuy nhiên do các ngân hàng gen tại các nước đang phát triển không được quản lý tốt hoặc thiếu trang thiết bị kỷ thuật, nên phần lớn các số chất mầm trên có thể đã kém phẩm chất. Tuy rằng các ngân hàng gen và các hình thức bảo tồn chuyển vị khác được xem là một phần quan trọng của chiến lược bảo tồn ĐDSH, nhưng số loài hoang dã có chất mầm được lưu giữ chỉ mới đạt khoảng 2% tổng số chất mầm được lưu giữ trong các ngân hàng gen.
Cũng cần thêm rằng , một sưu tập chất mầm tại một ngân hàng gen chỉ lưu giữ được một loại gen đặc biệt cần thiết để chống lại một dạng dịch mới nào đó. Nếu như gen đó không còn giá trị nữa do không được bảo quản tốt, thì toàn bộ một giống cây trồng nào đó có khả năng mất trắng mỗi khi có dịch phát triển như đã xẩy ra tại nhiều vùng cho các vụ mùa như lúa, ngô, khoai tây và cam.
Từ khoảng những năm 1970 và 1980, công việc thu thập các chất mầm để lưu giữ đã được nhiều ngân hàng gen trên thế giới cho là công việc ưu tiên, còn công việc đánh giá các chất mầm lại được xếp vào hàng thứ yếu. Vì vậy cho nên, phần lớn các mẫu được lưu giữ, nhưng lại chưa biết đặc tính và cũng chưa được đánh giá và cũng chưa thực hiện việc nhân nuôi để kiểm tra chất lượng gen và hiện nay cũng chưa biết bao giờ sẽ thực hiện được công việc đó.
Để bổ sung những thiếu sót nói trên, giữa thu thập và thử nghiệm các chất mầm để tìm hiểu đặc tính và đánh giá chất lượng, một số nhà khoa học đã đề xuất nên tuyển chọn khoảng 10 đến 20% số mẫu trong số lớn các mẫu chất mầm được lưu trữ, tạo thành “sưu tập trung tâm”. Số mẫu của kho trung tầm sẽ lần lượt được nghiên cứu tìm hiểu đặc tính và đánh giá một cách kỹ lưỡng và đưa dần vào các chương trình nhân nuôi. Hiện nay sưu tập trung tâm đã được xây dựng cho những cây trồng quan trọng như lúa, ngô, sắn, và một số ít các loài khác. (biodivn.blogspot.com). 
Tài liệu tham khảo: Đa dạng Sinh học và Bảo tồn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005. 
Xem thêm: