13/06/2014

Bảo tồn bên ngoài các khu bảo tồn

(Tiếp theo: ) 
(biodivn.blogspot.com) Để bảo tồn ĐDSH một cách có hiệu quả, không những chỉ thực hiện bên trong các khu bảo tồn mà phải bảo tồn cả ngoài khu bảo tồn nữa. Mối nguy hiểm của việc chỉ dựa vào các khu bảo tồn, các vườn thực vật, các vườn động vật (bảo tồn nguyên vị và bảo tồn chuyển vị) là tạo nên một tâm lý “vây hãm” (Primack, 1999) tức là các loài hay quần xã nằm trong vườn thì được bảo vệ nghiêm ngặt trong khi chúng lại bị khai thác tự do phía ngoài khu bảo tồn. Điều rõ ràng là nếu khu vực nằm xung quanh khu bảo tồn bị suy thoái thì ĐDSH bên trong cũng sẽ bị suy giảm, nhất là đối với những khu bảo tồn có diện tích nhỏ.
Sự suy giảm này xẩy ra vì nhiều loài cần phải di chuyển ra khỏi ranh giới các khu bảo tồn để tìm kiếm thức ăn và các vật chất cần thiết khác mà trong vườn không có. Đồng thời, kích thước chủng quần của một loài trong phạm vi ranh giới của khu bảo tồn có thể sẽ thấp hơn chủng quần tối thiểu của loài đó có thể tồn tại được. Nếu chúng ta không thể bảo vệ thiên nhiên bên ngoài các khu bảo tồn thì thiên nhiên cũng chẳng tồn tại được bao nhiêu bên trong các khu được bảo tồn đó (Western, 1989). 
Theo dự tính thì có hơn 90% đất đai trên đất liền là nằm ngoài diện tích các khu bảo tồn. Các chiến lược nhằm tạo được sự cân bằng giữa các nhu cầu của con người với các lợi ích bảo tồn tại các khu vực không được bảo vệ có vai trò rất quan trọng trong công cuộc bảo tồn ĐDSH nói chung. Nhiều vùng đất nằm ngoài khu bảo tồn ở phần lớn các nước, vẫn chưa bị con người sử dụng một cách triệt để và nhiều chỗ vẫn còn là nơi sinh sống phù hợp với nhiều loài hoang dã, mà nhiều loài động vật, thực vật quý, hiếm vẫn gặp tại đây. Ví dụ ở ôxtrâylia, 79 các loài thực vật bị đe doạ hay có nguy cơ tuyệt diệt còn tồn tại ngoài ranh giới các khu bảo tồn (Leigh, 1982). Phần lớn các loài được xem là nguy cấp cần bảo vệ được tìm thấy trên các khu đất tư hữu. 
Vì thế việc giáo dục, khuyến khích nhân dân các cấp bảo tồn ĐDSH, bảo vệ các loài quý, hiếm ở tất cả các nơi, trong khu bảo tồn và ngoài khu bảo tồn, rõ ràng là mang tính then chất đối với sự tồn tại lâu dài của các loài. Nhiều chương trình quốc gia nhằm bảo vệ các loài đang có nguy cơ tuyệt chủng tại các nước khác nhau đã thông báo cho những nhà làm quy hoạch phát triển, những người xây dựng đường giao thông về vị trí có thể gặp các loài quý, hiếm để họ sửa đổi kế hoạch, tránh gây tổn hại các vị trí này. Những khu rừng nếu được khai thác có chọn lọc, theo chu kỳ đủ dài hoặc được sử dụng vào canh tác nương rẫy theo phương thức truyền thống, nhưng với mật độ dân cư vừa phải thì hoàn toàn có thể duy trì được một tỷ lệ đáng kể các sinh vật nguyên thuỷ trong đó (Johns, 1978; Thiollay, 1992). Tại Malaixia, sau 25 năm khai thác gỗ có chọn lọc người ta vẫn phát hiện ra rất nhiều loài chim trong các cánh rừng mưa nhiệt đới đã khai thác(Wong, 1985). 
Các loài bản địa thường có thể tiếp tục tồn tại trong các khu vực không được bảo vệ nhưng lại được lưu không hoặc được quản lý vì một mục đích nào đó mà không có nguy hại đến HST. Các vùng an ninh xung quanh các toà nhà hay vùng đất của chính phủ, các ngôi chùa lớn là một trong những khu vực thiên nhiên đặc biệt trên thế giới. Tại nước Hoa Kỳ, những nơi cư trú tuyệt hảo cho một số loài lại chính là những vùng quân sự như Fort Bragg ở Bắc Carolina; vùng chế biến hạt nhân nguyên tử như ở Savannah của Nam Carolina, các vùng lưu vực nằm cạnh các nhà máy cung cấp nước đô thị như hồ chứa Quabbin ở Masachusset. 
Còn có những khu vực khác, tuy không được luật pháp quy định bảo vệ, song vẫn duy trì được tính ĐDSH vì mật độ dân cư ở đó thấp và mức độ sử dụng tài nguyên ở đó cũng không cao. Các khu vực biên giới, ví dụ như khu phi quân sự giữa Bắc và Nam Triều Tiên thường có rất nhiều động vật hoang dã, vì khu vực này không được phát triển và chẳng có mấy người ở đó. Các vùng núi cao thường là quá cheo leo, nên rất ít có hoạt động của con người. Đây thường là vùng đầu nguồn của các lưu vực, được nhà nước quản lý để tạo nguồn cung cấp nước, khống chế lũ lụt, song nó cũng là nơi bảo tồn ĐDSH. Tương tự, các quần xã động vật sa mạc thường ít bị rủi ro hơn các quần xã động vật không được bảo vệ khác vì sa mạc được coi là vùng không thích hợp cho con người sinh sống. 
Ở một số nứơc, những người giàu có thường sở hữu những vùng đất rộng lớn để xây dựng nhà cửa hay làm nơi săn bắn riêng của họ. Những vùng đất tư này thường được sử dụng với mức độ không cao và thường người chủ cố gắng gìn giữ các quần thể lớn của động vật hoang dã. Một số đất đai ở châu Âu đã được các hoàng tộc sở hữu và bảo vệ từ hàng trăm năm nay mà trong đó đã bảo tồn được những khu rừng già có một không hai trên thế giới. 
Ở một số vùng trên thế giới, các dân tộc ít người tin rằng thần rừng sống trong các khu rừng già do đó tôn trọng và cúng lễ các cánh rừng này, và được gọi là rừng thiêng. Có nhiều kiểu rừng thiêng khác nhau tuỳ theo tín ngưỡng của từng dân tộc. Do lòng kính trọng và do nỗi sợ bị trừng phạt của thần rừng, cho nên họ không săn bắn, khai thác gỗ hoặc hái lượm các sản phẩm ngoài gỗ trong khu vực này. Các khu rừng thiêng cũng là nơi mà thiên nhiên được bảo tồn hết sức nghiêm ngặt và nhiều loài động vật thực vật quý, hiếm vẫn được sống sót tại đây.(biodivn.blogspot.com) 
Tài liệu tham khảo: Đa dạng Sinh học và Bảo tồn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005. 
Xem thêm: